đặc điểm nghệ thuật tự truyện và hồi kí của tô hoài - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Ái Vân
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TỰ
TRUYỆN VÀ HỒI KÍ CỦA TÔ HOÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH


Xin chân thành cảm ơn phòng Khoa học Công nghệ – Sau đại học trường Đại học Sư Phạm
Thành phố Hồ Chí Minh, Ban giám hiệu, Tổ Văn Trường Trung học phổ thông Chuyên Lê Hồng
Phong, các thành viên trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện, giúp đỡ, khuyến khích,
động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn này.
Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi kính mong nhận được sự đóng góp, giúp
đỡ của các Thầy Cô, các đồng nghiệp và các bạn.

Thành Phố Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 9 năm 2011
Nguyễn Thị Ái Vân
MỤC LỤC
1TLỜI CẢM ƠN1T 1
1TMỤC LỤC1T 2
1TMỞ ĐẦU1T 4
1T1. Lý do chọn đề tài1T 4
1T2. Lịch sử vấn đề1T 5
1T2.1. Ý kiến đánh giá tổng quát về sự nghiệp sáng tác chung của Tô Hoài1T 5
1T2.2. Ý kiến về mảng tự truyện, hồi kí trong sáng tác của Tô Hoài1T 6
1T3. Phạm vi – đối tượng nghiên cứu1T 9
1T4. Phương pháp nghiên cứu1T 9
1T5. Đóng góp mới của luận văn1T 9
1T6. Cấu trúc của đề tài1T 9
1TChương 1: TỰ TRUYỆN, HỒI KÍ – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT THỂ LOẠI1T 11
1T1.1. Thể loại Tự truyện và Hồi ký1T 11
1T1.1.1. Khái niệm Tự truyện1T 11
1T1.1.2. Khái niệm hồi kí1T 12
1T1.1.3. Đường biên động/ranh giới mờ giữa tự truyện và hồi kí1T 14
1T1.2. Hồi kí trong tự truyện và tự truyện trong hồi kí Tô Hoài1T 16
1T1.3. Về sáng tác của Tô Hoài1T 17
1T1.4. Vị trí của tự truyện, hồi kí trong sáng tác của Tô Hoài1T 18
1TChương 2: NGHỆ THUẬT TÁI HIỆN, TÁI TẠO HỒI ỨC VÀ TIẾNG NÓI CỦA CÁI

1T3.4.3.2. Sự hòa quyện phức hợp của những giọng điệu trần thuật1T 99
1TKẾT LUẬN1T 104
1TTÀI LIỆU THAM KHẢO1T 106
1TPHỤ LỤC1T 109

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Nhà văn Tô Hoài là một tác giả lớn của nền văn học Việt Nam. Trong quá trình lao động
sáng tạo nghệ thuật bền bỉ của mình, ông đã có những đóng góp lớn cho nền văn học Việt Nam hiện
đại về mặt nội dung và nghệ thuật, cả chất lượng và số lượng. Trong bài báo “Với Tô Hoài” trích ở
Tuyển tập mười năm tạp chí Văn học và Tuổi trẻ [38] nhà văn Xuân Trường đoán định Tô Hoài là
người viết nhiều nhất ở nước ta. Cũng trong bài báo này, vào những năm 1991, Tô Hoài nhớ ông có
khoảng 140 đầu sách. Đến nay theo nhiều nhà nghiên cứu thống kê, số lượng tác phẩm của Tô Hoài
đã là gần 200 đầu sách…Như vậy chúng ta thấy khả năng lao động nghệ thuật rất đáng khâm phục
của tác giả. Đặc biệt ở đề tài nào ông cũng có những tác phẩm để lại dấu ấn trong lòng người đọc, ở
thể loại nào ông cũng có sự tiên phong, đóng góp riêng, thúc đẩy sự phát triển chung của nền văn
xuôi Việt Nam hiện đại.
Trong đời sống văn học Việt Nam từ xưa đến nay, tự truyện và hồi kí – vốn rất gần gũi nhau
– vẫn là những thể loại văn xuôi nghệ thuật mà trong những bối cảnh cụ thể của đất nước và đời
sống cá nhân, nhiều nhà văn ngại dùng đến do tính chân thật cao và dấu ấn cá nhân đậm nét của nó.
Đây là các thể loại có nhiều thách thức đối với nhà văn. Đến thế kỉ XX, việc tìm hiểu về đặc trưng
thể loại văn chương được đặt ra như một vấn đề chính trong nghiên cứu văn học, thể loại tự truyện,
hồi kí dần có sự phát triển và khẳng định ví trí của nó trên văn đàn. Tô Hoài là một trong những tác
giả có đóng góp lớn về thể loại này. Ông xứng đáng là một tác giả văn chương như nhà văn Nguyên
Ngọc trên báo tuổi Trẻ chủ nhật ngày 7 tháng 6 năm 2009 đã nhận xét: “Tô Hoài là vậy, nhà văn
cần mẫn và tài hoa “đục đẽo” suốt đời vào cái thứ đẹp nhất mà cũng khó nhất trên đời, là nghệ
thuật” [43].
1. Thể loại tự truyện, hồi kí có một giá trị khá đặc biệt trong quá trình phát triển của văn học
Việt Nam mà Tô Hoài là một trong những tác giả có những tác phẩm thành công về thể loại văn học

– 1941, ở tập Quê người ông tỏ ra là một nhà tiểu thuyết có con mắt quan sát sâu sắc" [87]. Tô
Hoài được xếp vào nhóm các tác giả tả chân. Là người đỡ đầu cho Tô Hoài vào nghề văn, Vũ Ngọc
Phan nhận rõ những đặc sắc, những mạnh – yếu trong văn Tô Hoài. Ông cho thấy cùng với năng lực
miêu tả tinh tế thế giới loài vật, Tô Hoài còn là “nhà văn có biệt tài viết về những cảnh nghèo nàn
của dân quê”. Nhà phê bình cũng đã sớm phát hiện chất giọng “trào lộng và khinh bạc” ở Tô Hoài.
Sau năm 1945, Tô Hoài đã cho ra đời nhiều tác phẩm. Số lượng công trình nghiên cứu văn
chương Tô Hoài cũng không ngừng gia tăng. Những nhà phê bình có tên tuổi yêu thích văn chương
Tô Hoài như: Trần Hữu Tá, Phong Lê, Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Vân
Thanh, Nguyễn Văn Long,Vương Trí Nhàn, Nguyễn Đăng Điệp…đã có những đánh giá thật tinh tế
khách quan về các tác phẩm văn chương của ông.
Trần Hữu Tá, trong cuốn sách Tô Hoài một đời văn phong phú và độc đáo đánh giá tổng
quát về sự nghiệp sáng tác và phong cách nghệ thuật của Tô Hoài. Trần Hữu Tá nhấn mạnh ngay ở
tựa đề bài viết: “Tô Hoài – một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại”
[84]. Một sự nghiệp văn học phong phú về đề tài, đồ sộ về số lượng, có phong cách độc đáo.
Hà Minh Đức nhận xét, đánh giá Tô Hoài thành công ở nhiều đề tài khác nhau: "Tô Hoài
trong dòng chung của trào lưu văn học hiện thực ngày càng tạo riêng cho mình những giá trị mới.
Ông viết về đất nước, con người qua những bức tranh xã hội chân thực và lắng đọng với thời gian
để làm nổi lên những giá trị vật chất, tinh thần bền vững. Tô Hoài với vùng đất ven thành qua bao
đời, Tô Hoài với con người và thiên nhiên xứ nhiệt đới nhiều kì thú, những phong tục tập quán lâu
đời, các loài vật trong nhà và hoang dã" [50,12]. Đặc biệt khi viết về thiên nhiên, phong tục quê
hương.
Phong Lê đánh giá cao nghệ thuật miêu tả và tài dùng ngôn ngữ tự nhiên mà giàu có của Tô
Hoài: "Ở tuổi hai mươi, ngòi bút Tô Hoài thật đã xiết bao linh hoạt. Quan sát kĩ lưỡng và tinh tế.
Ngôn ngữ tự nhiên mà giàu có. Thiên nhiên khoáng đãng mà mơ mộng. Nhân vật có dáng riêng,
giọng riêng và đều sắc nét" [50,25].
Phan Cự Đệ thấy được sự gắn bó sát sao của Tô Hoài với hiện thực cuộc sống. Với Tô Hoài
cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học. Vì thế tác phẩm của Tô Hoài thành công ở
nhiều đề tài khác nhau: "Có những người từ sách vở lí luận, từ vốn văn hóa kiến thức đi vào văn
học. Tô Hoài chủ yếu từ cuộc sống mồ hôi nước mắt, từ cuộc đời lam lũ của quần chúng, từ những
cái gì rất dân tộc rất dân gian mà đi vào con đường sáng tác Tác phẩm của anh là sự gắn bó mật

thuật viết tự truyện, hồi kí chính là nghệ thuật thể hiện cái tôi – tác giả: "Hồi kí và tự truyện của ông
kết hợp được dòng kể tự nhiên, xác thực với ý thức phân tích tỉnh táo các hiện tượng và phần tâm sự
của tác giả" [50,132].
Phong Lê trong Tô Hoài, sáu mươi năm viết, đã cho rằng đặc sắc của thể loại hồi kí, tự
truyện Tô Hoài chính là nghệ thuật trần thuật theo dòng hồi ức: “Tô Hoài không chỉ là người có sức
nhớ kỹ, nhớ dai mà hơn thế, những cái sống, cái nhớ của ông luôn dư đầy, là luôn luôn có mặt
trong hiện tại. Một quá khứ luôn luôn được dồn về hiện tại, được hiện tại hóa – nhưng vẫn trong
trang phục của quá khứ” [50,43]. Chính sự gắn bó, trân trọng đối với con người và những sự kiện
đã trải qua tạo nên sức mạnh hiện tại hóa quá khứ như vậy. Vì “Văn là người”, khi đọc tác phẩm
văn chương ta bắt gặp tâm hồn con người. Phong Lê còn khẳng định sức lôi cuốn, hấp dẫn của tự
truyện Tô Hoài đối với độc giả: "Đọc tự truyện tôi bỗng ngạc nhiên không hiểu sao người ta có thể
viết hay đến thế về mình, để qua mình mà hiểu người, hiểu đời, hơn thế hiểu cả một bầu khí quyển
chung cho bao thế hệ" [50,43].
Nguyễn Đăng Mạnh trong cuốn Chân dung và phong cách, có những ý kiến đánh giá rất sắc
sảo, sát hợp về văn chương Tô Hoài, đặc biệt mảng tự truyện, hồi kí. Mỗi nhà văn đều có một quan
niệm nghệ thuật riêng về con người. Ông khẳng định với: “Tô Hoài quan niệm con người là con
người, chỉ là con người, thế thôi” [27,287]. Nguyễn Đăng Mạnh so sánh với một số tác giả khác như
Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan…để thấy được rằng: “Có thể nói, Tô Hoài là nhà văn của người
thường, của chuyện thường, của đời thường” [27, 288]. Sau một số luận giải, phân tích tác giả bài
viết đã nhận định: “Tôi cho rằng Tô Hoài sinh ra để viết hồi kí, tự truyện. Dường như ông có một
thứ cảm hứng riêng, có thể gọi là cảm hứng hồi tưởng…” [27,299]. “Hồi kí, tự truyện của Tô Hoài
là thể văn sở trường nhất của Tô Hoài ở thể văn này, nhân vật trung tâm chính là cái tôi của người
viết. Cho nên sự hấp dẫn của văn phong Tô Hoài xét đến cùng là sự hấp dẫn của cái tôi ấy” [27].
Trong lời nhận định của mình, Nguyễn Đăng Mạnh chỉ ra cho độc giả thấy sức hấp dẫn của tự
truyện Tô Hoài chính là: "nhân vật trung tâm" – "cái tôi" của tác giả – cái tôi ấy được soi rọi, được
thể hiện một cách trung thực: "một cái tôi khôn ngoan, tinh quái, thóc mách, lọc lõi, rất mực hiểu
mình, hiểu người và có đôi chút khinh bạc" [27].
Vương Trí Nhàn, Tô Hoài và thể hồi kí, lời tựa cho tập Hồi kí đã đánh giá cao sức mạnh nội
lực khi viết về thể loại hồi kí của Tô Hoài: “Dường như cả cuộc đời từng trải đã chuẩn bị cho
những trang viết hôm nay của ông. Hồi kí là nơi cả con người tác giả cùng cái triết lí ông mơ hồ

khoảng cách khá "tàn nhẫn" nhưng vì thế mà chân thực và sâu sắc" [50,413].
Nhà văn Nguyễn Văn Bổng nhận xét và rút ra quan niệm về con người trong hồi kí của nhà
văn Tô Hoài – Cát bụi chân ai "kể chuyện những nhà văn, những người bạn mà tài năng văn học
không ai chối bỏ được nhưng đồng thời cũng là những con người bình thường với những tính tốt và
tật xấu như mọi người" [50].
Đây là những ý kiến đánh giá mang tính chất khái quát nhất và tiêu biểu nhất về tự truyện và
hồi kí của Tô Hoài. Những bài viết trên đã trở thành những ý kiến tham khảo rất hữu ích cho chúng
tôi trong quá trình thực hiện luận văn này. Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều khẳng định vai trò và
những đặc điểm riêng trong thể loại hồi kí và tự truyện của Tô Hoài. Các công trình này có giá trị
đánh dấu vị trí quan trọng trong toàn bộ sáng tác của tác giả, giúp cho chúng ta có một cái nhìn toàn
diện hơn về cuộc sống và con người trong những giai đoạn lịch sử khác nhau. Đánh giá về Tô Hoài
và văn nghiệp của ông không phải là công việc làm một lần bởi một người là có thể hoàn tất. Vì văn
Tô Hoài nói chung và thể hồi kí, tự truyện nói riêng thực sự là những tác phẩm có giá trị, như một
mạch ngầm trong lòng đất, càng khơi càng trong, càng ngọt ngào bất ngờ và thú vị, nói như nhà
nghiên cứu Vương Trí Nhàn: “Dường như cả cuộc đời từng trải đã chuẩn bị cho những trang viết
hôm nay của ông. Hồi kí là nơi cả con người tác giả cùng cái triết lí ông mơ hồ cảm thấy và đã theo
đuổi suốt đời cả hai đã có dịp bộc lộ” [76,942]. Với đề tài: Đặc điểm nghệ thuật hồi kí và tự
truyện của Tô Hoài, người viết mong muốn có cái nhìn sâu sắc và toàn diện về những đặc sắc trong
nghệ thuật hồi kí và tự truyện của Tô Hoài, đồng thời có dịp hiểu rõ hơn phong cách nghệ thuật độc
đáo của nhà văn Tô Hoài.
3. Phạm vi – đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng đề tài: đặc điểm nghệ thuật tự truyện và hồi kí của Tô Hoài.
- Phạm vi đề tài: gồm các tự truyện sau: Cỏ dại, tập Tự Truyện, Mười năm.
Các hồi kí sau: Những gương mặt, Cát bụi chân ai, Chiều chiều, Chuyện cũ Hà Nội.
Cách chia này chỉ có tính chất tương đối, bởi vì trong sáng tác của Tô Hoài về hai thể loại
này có sự giao thoa. Chính vì vậy, luận văn không tách riêng theo từng thể loại bởi những đặc điểm
nghệ thuật ấy vừa đúng với tự truyện vừa đúng với hồi kí. Nếu có đặc điểm nghệ thuật nào rõ, mang
đặc trưng của từng thể loại thì sẽ tách biệt ra để nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi phải sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau.

LOẠI
1.1. Thể loại Tự truyện và Hồi ký
1.1.1. Khái niệm Tự truyện
Theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ
biên: “Tự truyện là tác phẩm văn học thuộc thể loại tự sự do tác giả viết về cuộc đời mình…”
[23,389].
Theo Từ điển văn học do Đỗ Đức Hiểu chủ biên, hệ thống: “Tự truyện thường là những câu
chuyện viết bằng văn xuôi, kể lại dĩ vãng của chính tác giả…Theo Lơjon, bởi vì, về quá khứ, kỷ
niệm bị xóa mờ với thời gian, vì tư duy khi viết về tự truyện đã trải qua biết bao cảnh đời, và vì các
sự kiện được sắp xếp, bố cục lại, suy ngẫm lại, nên khó mà trùng hợp với sự thật…Tự truyện không
phải là một tập hợp những kỷ niệm tản mạn, mà được bố trí như một truyện, một tiểu thuyết…”
[7,1905-1906].
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn, cũng đưa ra định nghĩa: “Tự
truyện là tác phẩm văn học tự sự, thường được viết bằng văn xuôi, trong đó tác giả tự kể và miêu tả
cuộc đời của bản thân mình” [22]. Tác phẩm tự truyện thường có phương hướng lý giải cuộc sống
đã qua (của tác giả) như một chỉnh thể, tạo ra những đường nét mạch lạc cho cuộc sống trải nghiệm
của mình. Người viết tự truyện có khi cũng vận dụng hư cấu, “thêm thắt” hoặc “sắp xếp lại” các
chi tiết của cuộc đời mình, nhằm làm cho sự trình bày về cuộc đời ấy trở nên hợp lý, nhất quán. Tự
truyện luôn luôn là hành vi khắc phục cái thời gian đã lùi xa, là mưu toan quay về thời tuổi thơ, tuổi
trẻ, làm sống lại những đoạn đời quan trọng nhất, nhiều kỷ niệm nhất, như là “sống lại” cuộc đời
mình từ đầu. Tự truyện thường được viết vào thời gian tác giả đã trưởng thành, đã trải qua phần lớn
các chặng đường đời mình.
Theo tác giả Phạm Ngọc Lan trong luận văn “Tự truyện trong văn học Việt Nam hiện đại”,
vào năm 1970 Bruce Mazlish đưa ra định nghĩa: “Tự truyện là một thể loại văn học, khai sinh từ
chủ nghĩa lãng mạn, cho chúng ta một bức chân dung về sự hình thành cuộc đời quá khứ của một
cá nhân nào đó từ điểm nhìn của thời hiện tại, được hoàn thành thông qua nội quan và hồi ức,
trong đó cái tôi hiện ra như một thực thể đang phát triển”. Năm 1974, trong tiểu luận Hiệp ước tự
thuật (Le Pacte Autobiographique), Philippe Lejeune trình bày một định nghĩa nổi tiếng nhằm xác
lập những dấu hiệu về mặt hình thức của tự truyện: Đó là “thể loại tự sự tái hiện dĩ vãng, trong đó
một con người có thật kể lại cuộc sống của mình, nhấn mạnh về đời sống riêng tư, đặc biệt là về

vậy, cần khẳng định tự truyện là tác phẩm văn học tự sự do tác giả viết về cuộc đời mình.
1.1.2. Khái niệm hồi kí
Theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ
biên. Các tác giả đã đưa ra khái niệm: “Hồi kí là một thể loại thuộc loại hình kí, kể lại những biến
cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến”. Họ cho rằng: “Xét về
phương diện quan hệ giữa tác giả với sự kiện được ghi lại về tính chính xác của sự kiện, về góc độ
và phương thức diễn đạt, hồi kí có nhiều chỗ gần với nhật kí. Còn về phương diện tư liệu, về tính
xác thực và không có hư cấu thì hồi kí lại gần với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học” [23,152]. Do
đó, hồi kí phải được viết một cách cân nhắc, kỹ lưỡng, phải hết sức tôn trọng tính chân thật. Đó có
thể là một câu chuyện mà tác giả chứng kiến hoặc lấy chất liệu từ chính cuộc đời mình làm đối
tượng khai thác.
Theo Từ điển văn học do Đỗ Đức Hiểu chủ biên, hệ thống: "Thuật ngữ chỉ một thể loại nằm
trong nhóm thể tài ký. Tác phẩm hồi ký là một thiên trần thuật từ ngôi tác giả, kể về những sự kiện
có thực xảy ra trong quá khứ mà tác giả tham dự hoặc chứng kiến" [7,648].
Hồi kí rất gần với nhật kí ở hình thức giãi bày, cách kể theo thứ tự thời gian, chú ý đến các sự
kiện mang tính chất tiểu sử.Về mặt chất liệu, về tính xác thực không có yếu tố hư cấu thì hồi kí rất
gần với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học, kí sự tư liệu lịch sử. Tuy nhiên, khác với các sử gia và
các nhà nghiên cứu tiểu sử, người viết hồi kí chỉ tái hiện phần hiện thực thường nằm trong tầm nhìn
của mình, căn cứ chủ yếu vào những ấn tượng và hồi ức của bản thân mình. Do vậy trong toàn bộ
tác phẩm có sự nổi trội của bản thân người viết hoặc cái nhìn của người viết vào tất cả những gì
được kể lại, miêu tả lại. Hồi kí mang đậm tính chủ quan khiến cho các sự kiện trong hồi kí không
thể so bì với các tư liệu gốc, các chứng tích, về tính xác thực. Tuy nhiên, sự thiếu hụt sự kiện, thông
tin hay sự phiến diện về đối tượng miêu tả trong hồi kí lại được bù đắp bởi văn phong sinh động,
cảm tưởng trực tiếp của cá nhân tác giả. Thế mạnh của hồi kí văn học là nó cung cấp các tư liệu về
người thật, việc thật dưới hình thức nghệ thuật văn chương nhưng không hư cấu. Tuy nhiên, sau một
thời gian dài hồi kí được xem chỉ dành riêng cho đề tài chiến tranh hay chính trị, hồi kí trở lại gắn
với cuộc sống. Dấu ấn khá đậm của sự trở lại này là tác phẩm Cát bụi chân ai, Chiều chiều, Những
gương mặt…
Trong bài Kí và giảng dạy Kí – Hoàng Như Mai viết: “Hồi kí ghi lại những sự việc đã qua,
nhưng những sự việc ấy không phải thuộc vào một thời kì lịch sử xa xôi mà phải gần gũi,có liên

Vì vậy, viết hồi kí mà đúng với bản chất của thể loại kí thật rất khó. Viết sao cho trung thực,
khách quan, khiêm tốn mà duyên dáng, gợi được thi vị cho người đọc mới là điều đáng kể, đáng đón
nhận. Vẫn hay có mình ở trong mà tác giả vẫn tránh được sự tự đề cao đáng trách. Sự hài hòa ấy
chứa đựng một biển trời thanh thoát cao thượng, một phong độ hào hoa của người cầm bút, của văn
nhân. Nếu hồi kí được biểu lộ đúng nghĩa của nó thì đọc hồi kí lại là một điều thú vị vô cùng. Nó
cho phép nhiều thành phần hiện tại bỗng nhớ về quá khứ, sống lại với dĩ vãng - trong đó biết bao kỷ
niệm chợt hiện ra. Có việc, có người mà ta biết nhưng không tường tận. Có việc có người mà ta
chưa biết hoặc đã quên đi thì nay sống lại đậm nét, phong phú, linh hoạt hơn. Chẳng khác nào tác
giả hồi kí đã là một nhà đạo diễn kỳ tài, sắp xếp lớp lang một cốt truyện có thực với nhiều khuôn
mặt hiện diện mỗi người một vẻ, một cốt cách riêng biệt. Cái hấp dẫn, cái tuyệt hảo của một thiên
hồi kí là vậy.
1.1.3. Đường biên động/ranh giới mờ giữa tự truyện và hồi kí
Nguyễn Thành Thi trong Văn học thế giới mở đã viết: “tương tác thể loại – có thể hiểu bao
quát hơn – là hiện tượng hai hay nhiều thể loại của một giai đoạn, một thời kì, một nền văn học,
thuộc về một hay nhiều hệ thống thể loại, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, xâm nhập vào nhau, mô
phỏng nhau,… để cùng biến đổi hoặc hình thành thể loại mới ( với một cấu trúc ít nhiều thay đổi về
“tố chất thẫm mĩ chủ đạo”,“giọng điệu”,“dung lượng và cấu trúc chung của tác phẩm” [36,14].
Thực tế đời sống văn học cho thấy mỗi một “nòng cốt” thể loại tồn tại như là một mô chuẩn
nghệ thuật ít nhiều mang tính quy ước, chỉ có ý nghĩa tương đối, và luôn có khả năng biến đổi. Vì
vậy, nhà văn khi sáng tác theo một thể loại nào đó, một mặt luôn tôn trọng, tuân thủ những mô
chuẩn quy ước, mặt khác – ít hoặc nhiều – luôn có nhu cầu thoát bỏ khỏi những mô chuẩn quy ước
ấy, bằng cách “nhìn sang” những thể loại xung quanh, rút tỉa lấy tinh hoa của chúng, tổng hợp kinh
nghiệm của hai hay nhiều thể loại, tạo ra những tác phẩm “lệch chuẩn”. Nếu nhà văn thành công
nhà văn sẽ có những tác phẩm hay hơn, mới hơn; còn nếu chua thành công thì những thử nghiệm
như vậy ít ra cũng là một gợi ý, một sự chuẩn bị cho tác phẩm sau, người đi sau.
Tương tác giữa các yếu tố thuộc nhóm thể loại sáng tác có hư cấu (fiction) như tiểu thuyết,
truyện ngắn,…và các yếu tố thuộc nhóm thể loại sáng tác không hư cấu (non fiction) như hồi kí, kí
sự, nhật kí, ghi chép,…tạo nên các thể loại đan xen giữa các yếu tố hư cấu với yếu tố không hư cấu
như truyện kí, tự truyện, tiểu thuyết tự thuật [36,15].
Trong bài Kí và giảng dạy Kí – Hoàng Như Mai viết: “Những điểm khác nhau cơ bản giữa

hồn, bề sâu tư tưởng và tình cảm của nó thì cái tôi trong hồi kí chủ yếu đại diện cho một phương
diện nào đó của ý thức xã hội, một xu hướng tiếp nhận và phản ứng nào đó đối với những biến cố và
những nhân vật của lịch sử. Bản chất thể loại đòi hỏi sự trung thực, chính xác và khách quan trong
việc bao quát toàn bộ hiện thực cuộc sống trong quan hệ với con người.
Ở hồi kí thường thiên về trần thuật các sự kiện. Thỉnh thoảng giữa các sự kiện ấy mới xuất
hiện cảm xúc của tác giả. Số lượng sự kiện trong hồi kí thường nhiều hơn so với tự truyện. Bên cạnh
cảm xúc cá nhân của tác giả, trong hồi kí có thêm cảm xúc của nhân vật có liên quan. Tác giả tự
truyện thường tập trung vào quá trình hình thành và lịch sử thế giới nội tâm của chính mình trong sự
tương tác của nó với thế giới bên ngoài đến những người mình đã gặp, những việc mình đã thấy
hoặc tham dự. Khi viết các tác giả thường hướng vào cái “tôi”bên trong nội tâm của mình. Những
việc xảy ra bên ngoài chỉ làm “nền” cho cái “tôi” ấy. Cái “tôi” tác giả – nhân vật tự do bày tỏ cảm
xúc, suy nghĩ về các sự việc xảy ra trong quá khứ. Trật tự của các sự kiện được phát triển theo tâm
lý, cảm xúc riêng của tác giả. Có những sự kiện có thật được đưa vào trình bày một cách trọn vẹn,
chính xác nhưng cũng có những sự kiện được tác giả lược bỏ đi một số chi tiết để đạt được ý muốn
chủ quan của mình. Bởi vậy tư duy trong tự truyện là tư duy “hướng nội”.
Có thể thấy điểm khác nhau cơ bản giữa tự truyện và hồi kí ở chỗ: cảm xúc, tình cảm cá nhân
của tác giả trong tự truyện thường đậm nét hơn so với hồi kí. Nói khác đi, tư duy tự truyện là “tư
duy” hướng nội, còn tư duy hồi kí là “tư duy” hướng ngoại.
1.2. Hồi kí trong tự truyện và tự truyện trong hồi kí Tô Hoài
Tự truyện là câu chuyện kể về cuộc đời mình, tâm điểm của tự truyện là "cái tôi" người kể
chuyện. Trong quá trình sáng tác người viết tự truyện nhiều khi cũng vận dụng hư cấu “thêm thắt”
“sắp xếp lại”, các chi tiết của cuộc đời mình, nhằm làm cho sự trình bày về cuộc đời ấy trở nên hợp
lý, nhất quán.
Vậy có hồi kí trong tự truyện là vì tác giả ghi lại những gì có thật (kí). Tác giả hồi tưởng lại
những gì có thật đã trải qua trong quá khứ của chính mình, mà bản chất của hồi kí đòi hỏi sự chính
xác. Một tự truyện “lí tưởng” là tác phẩm mang cái nhìn hồi cố về một đoạn đời và nhân cách của
tác giả, mà trong đó những sự kiện không đậm nét bằng tính thành thực và tính sâu sắc của những
trải nghiệm đó. Vì thế trong tự truyện có hồi kí.
Hồi kí là hồi tưởng lại những điều mà mình có dịp quan sát những sự việc và con người để lại
những ấn tượng sâu sắc, gắn bó với những kỷ niệm riêng nhưng lại mang nội dung xã hội phong

sáng mới tới điếm canh đê hàng tổng. Nhớ làm sao buổi sáng hãi hùng ấy, cái cảnh tôi trông thấy
đoàn người chạy nước từ dưới bãi lên lấm vùi như đàn chuột trong hang đang bị ộc nước. (Về sau,
một trong những truyện ngắn đầu tiên tôi viết, là truyện ngắn Nước lên in trên báo Hà Nội tân văn
của anh Vũ Ngọc Phan, trong đó đã chép lại nhiều hình ảnh đau thương hôm ấy) [76]. Truyện Con
dế mèn ra đời, đã có sức chiếm lĩnh đối tượng độc giả rộng lớn, ở mọi lứa tuổi. Tô Hoài có khả năng
hóa thân vào sự sống của vật và đồng thời đưa đến cho thế giới loài vật sự sống của con người. Ngòi
bút của Tô Hoài linh hoạt, quan sát kỹ lưỡng và tinh tế. Ngôn ngữ tự nhiên mà giàu có, có sắc thái
giọng điệu riêng, tất cả đều rất sắc nét. Câu chuyện về sự khám phá, rong chơi của con dế cũng là
ước mơ của cả đời người. Tô Hoài tiếp tục khẳng định tài năng truyện ngắn của mình trong miêu tả
thế giới loài vật, trong tập truyện O chuột (gồm 8 truyện) (1942) đa số viết về loài vật một cách sinh
động và trong đó có bóng dáng của cuộc sống con người.
Tô Hoài là người nặng lòng với quê hương, ông viết về con người và thiên nhiên một cách
gần gũi, có nét riêng như Nhà nghèo (1942); Giăng thề (1941); Quê người (1942), Xóm Giếng ngày
xưa (1944), Cỏ dại (1944) đều miêu tả vùng quê thân yêu của nhà văn. Quá trình gắn bó với vùng
đất quê hương đã giúp ông viết rất hay về đề tài này.
Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài là một trong số ít cây bút không phải trăn trở, ngập
ngừng nhiều lắm trước trang giấy. Tác phẩm Vỡ tỉnh là tác phẩm đầu tiên trong thời gian này.
Mảng đề tài Tô Hoài đạt được thành công lớn hơn trong giai đoạn này là cuộc sống con
người miền núi. Ông là người tiên phong xây dựng văn học viết về các dân tộc ít người. Ông viết về
sự chuyển mình, thay da của vùng đất này trong cách mạng dân tộc dân chủ (Núi Cứu quốc, Truyện
Tây Bắc…) và trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội (Lên Sùng Đô, Nhật kí vùng cao, Miền
Tây…). Viết về miền núi, tác phẩm thành công nhất của Tô Hoài là Truyện Tây Bắc. Tập truyện
được nhận Giải thưởng của Hội văn nghệ Việt Nam năm 1954 – 1955. Truyện Tây Bắc gồm 3 tác
phẩm: truyện Mường Giơn và hai truyện ngắn Cứu đất cứu mường, Vợ chồng A phủ. Tập truyện
miêu tả cuộc đời thống khổ của những người dân miền núi dưới ách thực dân Pháp và bọn thổ ti
lang đạo. Nỗi khổ ấy tập trung vào người phụ nữ. Nhờ có nhà văn Tô Hoài, người đọc có được kinh
nghiệm sống, biết được cảnh đau khổ của nhân dân miền núi, làm nảy sinh những cảm xúc thương
yêu đối với con người và vùng đất này. Còn tác phẩm Miền Tây là một sự đóng góp tích cực của Tô
Hoài trong việc miêu tả những bước đi đầu tiên đầy gian khổ của vùng đất này lên xã hội chủ nghĩa.
Miền Tây được Giải thưởng Hội nhà văn Á - Phi năm 1972.

tìm cái đẹp trong cuộc đời. Với một bản lĩnh nghề nghiệp dám nói lên sự thật bằng giọng văn rất
riêng, tạo nên những đặc sắc về nghệ thuật. Đặc biệt sức hấp dẫn từ việc xây dựng " nhân vật trung
tâm" – "cái tôi" của tác giả – cái tôi ấy được soi rọi, được thể hiện một cách trung thực. Thực sự
với thể loại này Tô Hoài đã để lại “ dấu ấn riêng trên từng trang giấy”. Tô Hoài sáng tác tự truyện,
hồi kí từ rất sớm.
Cuộc đời là nơi xuất phát và cũng là nơi đi đến của văn học. Theo Tô Hoài, dù là sáng tác
theo thể loại nào cũng phải “Nói được sự thật để khiến cho người đọc cảm xúc từ đó gây suy nghĩ
cho họ”. Tác phẩm văn chương phải bắt nguồn từ hiện thực và đem đến cho người đọc những cảm
xúc thẫm mỹ. Bởi tư tưởng của tác phẩm là tư tưởng – cảm xúc, “tư tưởng nhiệt hứng” (Bielinxki).
Xuất phát từ quan niệm viết tự truyện, hồi kí như là một cuộc đấu tranh tư tưởng nên Tô Hoài coi tự
truyện, hồi kí là một trong những thể loại trong đó rất cần đến sự sáng tạo của người nghệ sỹ. Đó là
những trang ghi chép những sự việc đời tư đã lùi vào quá khứ, song ghi chép ở đây không phải là
một bản sao sự việc mà là sự sáng tạo. Viết tự truyện, hồi kí là nhằm đáp ứng những yêu cầu của
hiện tại bằng những câu chuyện kể lại về đời tư, về người thật việc thật ngày hôm qua do chính
người kể chuyện chứng kiến và tham gia vào sự việc.
Một người có vốn sống từng trải, phong phú như Tô Hoài mới có khả năng viết được thành
công “từ những hiện tượng vừa vặt vãnh lại vừa tinh tế ấy, đôi lúc tưởng ngẫu nhiên đến thế mà có
sức ngồi dậy trong sáng tạo chỉ vì nó đã được cái nền sống già dặn từng trải của anh xét duyệt rồi
quyết định cho trở ra sống lại một lần nữa” [57].Với tự truyện, hồi kí, Tô Hoài đặc biệt nhấn mạnh
đến vai trò chủ thể của nhà văn, với ông đó không phải là những ghi chép đơn thuần, bởi vì “khi viết
theo lối ghi chép người thật việc thật, sự sáng tạo cũng không cho phép ta giản đơn. Bao nhiêu
công phu và tâm sức bấy lâu quanh những thông cảm và hiểu biết rộng của chúng ta về những
“mẫu” người thật việc thật ấy, nhưng hiểu được việc thật ấy sẽ đem lại giá trị cao cho sức nghĩ lúc
thể hiện ghi chép của anh” [57].
Tố Hữu đã từng nói: “Thơ chỉ trào ra khi trong tim ta cuộc sống đã tràn đầy”. Điều đó không
chỉ đúng với thơ bởi khi đọc Tự truyện, Cát bụi chân ai, rồi Chiều chiều , người đọc luôn cảm phục
bởi một trí nhớ tuyệt vời, một sự gắn bó tha thiết với cuộc đời. Những hồi ức, những kỷ niệm của
cả một đời người bao giờ cũng in đậm trong trí nhớ của tác giả. Tô Hoài đã nhận ra yếu tố cảm xúc
rất quan trong trong sáng tác: “Một việc, một người, một nhận xét ở bất cứ quãng sống nào trong
đời khi đạt tới mức thật tha thiết thì có sức nhập vào, sức thúc đẩy (hoặc sức dằn vặt ta) cho ta

hiện đại Việt Nam. Nguyễn Văn Thạc trong Mãi mãi tuổi 20 viết: “Trên trang sách, cuộc sống tuyệt
vời biết bao nhưng cũng bi thảm biết bao. Cái đẹp còn trọn lẫn niềm sầu muộn. Cái nên thơ còn
lóng lánh giọt nước mắt ở đời”. Hiện thực của cuộc sống rất phong phú, phức tạp đã tác động đến
bao người. Mà phải là một cây bút tinh tế, tỉ mỉ và bản lĩnh mới thể hiện được hết ý tưởng của mình
trên trang giấy. Những điều đáng nói hơn cả là tác giả đã viết được rất hay về chính mình, không
quá cường điệu mà cái tôi cá nhân vẫn hiện rõ. Hơn nữa để qua mình mà hiểu người, hiểu đời, hiểu
cả về một thời đ
ại đã qua thì thật là thú vị.
Hành trình viết hồi kí của Tô Hoài là hành trình xuyên suốt trong quá trình sáng tác của ông.
Mỗi tác phẩm hồi kí là một sự chiêm nghiệm về cuộc sống, về con người, về lịch sử và trên hết đó
là sự thật, vì Tô Hoài quan niệm: sự thật đã là đẹp rồi. Vì: “Cái đẹp mà văn học đem lại không phải
là cái gì khác hơn là cái đẹp của sự thật đời sống được khám phá một cách nghệ thuật” [14,57].
Tô Hoài quan niệm: “Với tôi, dù viết truyện ngắn, tiểu thuyết hay hồi kí thì tôi vẫn cố gắng
viết gần nhất với sự thật, tiến tới sự thật. Tất nhiên, cái “góc độ” sự thật nó cũng linh động lắm.
Nhưng từ góc độ của tôi và do tôi lựa chọn thì tôi đảm bảo thế là đúng nhất, gần nhất”. Có thể nói,
hồi kí Việt Nam hiện đại đã tiến triển theo hướng tái hiện quá khứ một cách chân thực, đồng thời
thể hiện được cái tôi tác giả ngày càng sâu sắc, phong phú và mới lạ, đáp ứng nhu cầu nhận thức
quá khứ phức tạp của những thời đã qua.
Trong dòng chảy chung của hồi kí hiện đại, hồi kí Tô Hoài đã mở ra những khả năng mới của
hồi kí trong việc thể hiện đời mình và đời người, đem đến cho văn học những màu sắc mới mẻ. Cát
bụi chân ai và Chiều chiều là những khúc nhạc lòng vừa xao động những âm thanh nhỏ nhẹ, ân tình,
vừa ẩn chứa tiếng cười hóm hỉnh, cảm xúc đằm thắm, chân tình lẫn niềm suy tư, trăn trở. Kho hồi
ức về chuyện đời, chuyện người, chuyện văn, chuyện thời đại trong tâm trí nhà văn cứ miên man
tuôn chảy như dòng suối, lúc dào dạt, lúc gập ghềnh, khúc khuỷu. Phong Lê khi đọc những tác
phẩm này đã cảm thấy “bị cuốn hút bởi những gì mới mẻ, không trùng lặp, không nhạt mờ, kém sút
trong cái kho kỷ niệm lúc nào cũng dư đầy trong Tô Hoài”. Và cũng vì thế mà hồi kí của Tô Hoài
đã đọng lại trong lòng người đọc dư âm và ấn tượng khó quên. Ở đó có những con người, cuộc
đời… tưởng chừng hết sức thường tình, bình dị, nhưng mang nhiều ý nghĩa cao đẹp, đáng trân trọng
và có cả những uẩn khúc đáng thương. Chẳng lên giọng, không quan trọng hóa, cũng chẳng cần
phải khiêm nhường, Tô Hoài cứ tự nhiên mà kể về những gì mình đã biết, đã trải trên dòng đời gần

Hơn nữa khi viết tự truyện, hồi kí rất cần đến khả năng ghi nhận đời sống. Đó là khả năng
nhìn, khai thác và biểu hiện, để cho sự thật – cuộc đời thành sự thật – nghề nghiệp. Nghĩa là sự thật
để lại ấn tượng và tạo được mỹ cảm trong tiếp nhận của người đọc. Sự thật đó phải được “lạ hóa”
bằng tài năng và phẩm chất nghệ nghiệp. Ngoài tài năng cần phải có bản lĩnh và nhiều khi cần đến
lòng dũng cảm. Bởi có lắm sự thật không dễ nghe. Cho nên nói cho hết cái bí mật của lặng im người
viết cần nhiều đến bản lĩnh và cách nói khéo léo.
Đọc tự truyện, hồi kí của Tô Hoài, ta thấy thật xúc động với những cảnh đời tư hiện lên thật
thiêng liêng tha thiết vừa buồn, vừa vui đan xen thể hiện rất thực cuộc sống đời thường. Bàng bạc
trong tác phẩm của Tô Hoài ta thấy rõ: đời đẹp và buồn. Điều này ta cũng đã gặp đâu đó trong cuộc
đời và văn chương song ở đây Tô Hoài đã sống cái cảm giác ấy và diễn tả một cách thấm thía, ông
biết truyền nó sang người đọc theo cái cách riêng của mình. Cho nên trong tác phẩm, nhà văn đã
miêu tả những mảnh đời nhỏ bé nhưng thực ra đã vươn tới cái điều mà các tác giả lớn xưa nay vẫn
khái quát. Dưới con mắt của nhà văn mọi kỷ niệm không chỉ được biến thành những cái vĩnh hằng,
cái cao thượng mà có cả sự vật, con người gần gũi với đời sống hàng ngày. Nhân vật không chỉ
được tắm mình trong cái ánh sáng lung linh huyền ảo của quá khứ mà hiện ra như những con người
bình thường, thậm chí tầm thường. Chính điều này làm cho tự truyện, hồi kí của Tô Hoài có được
cái nhìn tiểu thuyết. Ông đã tiếp cận cuộc sống trong sự xô bồ gần gũi nhất.
Tô Hoài có một sức sáng tạo mạnh mẽ, dài hơi, kiên nhẫn, đều đặn và liên tục, đủ để đưa ông
trở thành một trong những cây đại thụ của nền văn học Việt Nam. Ở mảng sáng tác nào, ông cũng
có những thành công và ghi được dấu ấn riêng. Riêng ở thể hồi kí, tự truyện ông cũng đã khẳng định
được tài năng và sức sáng tạo mãnh liệt của mình. Trong quá trình tiếp cận tác phẩm của Tô Hoài,
đặc biệt ở thể hồi kí và tự truyện. Chúng ta nhận ra những nét đặc sắc trong nghệ thuật viết hồi kí, tự
truyện của Tô Hoài
Vậy vì sao Tô Hoài có được sự thành công ở hai thể hồi kí và tự truyện cả về số lượng lẫn
chất lượng như thế? Có lẽ có nhiều lí do, đầu tiên là yếu tố chủ quan: khi Tô Hoài kể đi phụ bán ở
hiệu giày Bata vừa viết văn, lần đầu tiên nhận nhuận bút, ông sung sướng không dấu được nỗi vui
mừng vì tiền nhuận bút một bài viết hơn cả một tháng lương. Ông kể: “Tôi không thể so sánh và
tượng tượng ra giá một bài báo và công xá những công việc tôi đã làm bấy lâu để kiếm sống. Hãng
giày Bata mỗi tháng trả lương tôi sáu đồng. Bây giờ một cái truyện ngắn tôi được mười đồng, lại có
băng quấn quanh tờ bạc, ngoài đề tên mình. Ôi, lịch sự! Mà một tháng tôi có thể viết mấy cái truyện

Tức là viết gì Tô Hoài cũng kéo nó gần với mình đặt nó dưới góc nhìn riêng và tiêu hóa nó, biến nó
thành của mình.
Xác định rõ văn chương là một hình thái lao động nghệ thuật cao quí. Xác định quan niệm
nghề nghiệp nghiêm túc, đúng đắn nhà văn Tô Hoài đã dành được thành công cho mình trên lĩnh
vực hoạt động văn học nghệ thuật nói chung và với hai thể hồi kí, tự truyện nói riêng.
UTiểu kết chương 1:U
Trong quá trình tiếp cận tác phẩm của Tô Hoài, đặc biệt ở thể hồi kí, tự truyện chúng tôi thấy
hai thể loại tự truyện và hồi kí – vốn rất gần gũi nhau. Nên cần phải thấy sự cần thiết và tính tương
đối khi phân biệt tự truyện, hồi kí trong nghiên cứu sáng tác của Tô Hoài. Phải dựa vào kết cấu,
nhân vật và kiểu tư duy của tác giả để xem xét. Điểm để nhận rõ được sự khác biệt là yếu tố cảm
xúc, tình cảm cá nhân của tác giả trong phản ánh hiện thực. Trong quá trình nghiên cứu thấy được
sự giao thoa có yếu tố hồi kí trong tự truyện và có tự truyện trong hồi kí Tô Hoài. Có hồi kí trong tự
truyện là vì tác giả ghi lại những gì có thật (kí). Tác giả hồi tưởng lại những gì có thật đã trải qua
trong quá khứ của chính mình, mà bản chất của hồi kí đòi hỏi sự chính xác. Vì thế trong tự truyện
có hồi kí. Còn hồi kí có chất truyện là trong quá trình sáng tác, tác giả không sắp xếp đơn thuần các
sự kiện mà có hư cấu để làm nổi bật "cái tôi". Tô Hoài là một gương mặt tiêu biểu trong văn học
Việt Nam hiện đại. Ông là một nhà văn lớn và có nhiều đóng góp về nhiều thể loại văn học khác
nhau. Tác giả thành công khi viết về đề tài miền núi, về loại vật, về Hà Nội. Bên cạnh đó ta nhận
thấy thời gian sẽ trôi qua nhưng những ấn tượng của độc giả nhớ nhiều nhất về tác phẩm của Tô


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status