đặc điểm truyện ngắn tạ duy anh - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Văn Viễn
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN
TẠ DUY ANH
Chun ngành: Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HỒNG THỊ VĂN
trạng thái nhân sinh. Truyện ngắn quả thật là một món ăn tinh thần hấp dẫn và có tầm phổ
biến rộng rãi.
Nói đến truyện ngắn Việt Nam đương đại, không thể không nhắc đến T
ạ Duy Anh -
người đã góp phần làm cho đời sống văn học thời kì đổi mới sôi nổi và khởi sắc. Tràn đầy
tinh thần cách tân, T
ạ Duy Anh đã sử dụng một cách tối đa khả năng của ngôn ngữ và của
thể loại để biểu đạt một cách cao nhất ý tưởng, tình cảm của mình. Tạ Duy Anh là tác giả
của những tác phẩm ln làm bạn đọc giật mình và suy ngẫm bởi những vấn đề gai góc của xã
hội hiện đại. Ơng cũng là tác giả tâm huyết, trăn trở với số phận con người, nhất là khi họ rơi
vào tình trạng khủng hoảng nhân cách. Trong lăng kính đa chiều, Tạ Duy Anh đã nhìn hiện
thực một cách lý trí, lạnh lùng nhưng đầy thương xót con người.
Để đạt được thành cơng trên con đường văn chương hơm nay, Tạ Duy Anh đã vượt lên
số phận, vượt qua bệnh tật, những đau đớn thể xác và chinh phục được những kiến thức cần
thiết cho nghề nghiệp của mình. Thành quả đó có được là do sự nỗ lực khơng mệt mỏi của ơng.
Cho đến hơm nay Tạ Duy Anh đã trở thành một nhà văn có tên tuổi trên văn đàn Văn học Việt
Nam, đã nhận được nhiều giải thưởng quan trọng: Giải thưởng truyện ngắn viết về đề tài nơng
thơn (do báo Văn nghệ, Nơng nghiệp và Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức năm 1989).
Chính vì sự mới mẻ ấy mà từ khi xuất hiện đến nay, Tạ Duy Anh đã tạo nên dư luận.
Các ý kiến về truyện ngắn của ông, khen hay chê, tất thảy đều mạnh mẽ quyết liệt và thậm
chí trái ngược nhau.
Tên tuổi của Tạ Duy Anh càng được nhiều người biết đến khi Giáo sư
Hồng Ngọc Hiến mượn tên truyện của ơng để khái qt “Có một dòng văn học bước qua lời
nguyền”. Từ thực tế trên Tạ Duy Anh đã trở thành nhà văn được nhiều người u mến. Ơng có
tác phẩm “Bức tranh của em gái tơi” là truyện ngắn đoạt giải nhì trong cuộc thi viết “Tương
lai vẫy gọi” của báo Thiếu niên Tiền Phong, in trong tập “Con dế ma” – Nhà xuất bản Kim
Đồng, Hà Nội, năm 1999, được đưa vào chương trình (Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 6, tập 2, tr
30). Ngồi ra, ơng còn có đoạn trích “Cánh diều tuổi thơ” trong sách giáo khoa (Tiếng Việt 4,
tập 1, tr 146).
Thời gian trơi qua, những cảm xúc nóng bỏng về những gì ơng viết ở người đọc chuyển

trong vòng gần 20 năm qua đã có không dưới 100 bài.
Đến với văn Tạ Duy Anh, bạn đọc cũng sẽ bắt gặp ít nhiều sự ảnh hưởng của chủ nghĩa
hiện thực huyền ảo. Nói về điểm này Tạ Duy Anh từng tâm sự: “Tơi rất mê “Trăm năm cơ
đơn” của Marquez, nhưng cái tên chủ nghĩa hiện thực huyền ảo có lẽ q mới mẻ với thế hệ
những người cầm bút như tơi. Chuyện học tập hay ảnh hưởng nó, tơi khơng hề nghĩ tới. Căn cốt
của tơi vẫn bị ảnh hưởng của hiện thực nhưng tơi muốn đấy nó ở mức sâu hơn, đa diện đa
chiều hơn. Nhiều người thắc mắc về việc tơi khai thác đời sống hiện thực phi lý, nhưng một
bằng chứng cho thấy trong cuộc sống, khi có q nhiều cái dị thường và người ta đương nhiên
phải chấp nhận nó”, “khi viết, tơi ln tâm niệm mình đang tạo ra một tác phẩm thật sâu sắc,
mọi cái phi lý cuối cùng chỉ để phản ánh hiện thực hữu ý mà thơi”.
Hòa vào guồng máy của lao
động nghệ thuật, Tạ Duy Anh ln tìm tòi cách viết mới nhưng bản thân vẫn chưa “Bước qua
lời nguyền” của chính mình. Truyện ngắn “Bước qua lời nguyền” của Tạ Duy Anh đã từng
làm “cháy” báo Văn Nghệ trên tất cả các sạp báo cả nước. Vẫn là motip Romeo & Juliet với
mối thù của hai dòng họ trên vai và tình u trong tim, nhưng truyện của Tạ Duy Anh là sự tái
hiện bức tranh tồn cảnh nơng thơn Việt Nam những năm 1950 – 1970 đầy máu và nước mắt,
nhưng càng hấp dẫn và thuyết phục bạn đọc hơn bởi bóng dáng chuyện đời tác giả thấp thống
đằng sau những trang chuyện tình thật say đắm và bay bổng mà truyệt Việt Nam ít khi đạt đến.

Bên cạnh đó các ý kiến về Tạ Duy Anh đa số đều có những lập luận xác đáng dựa trên
cơ sở phân tích thấu đáo những đóng góp của nhà văn trên cả hai phương diện tư tưởng và
nghệ thuật. Đặc biệt, nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra được trong những sáng tác của T
ạ Duy
Anh những cách tân nghệ thuật rất cần thiết cho một khuynh hướng văn học mới. Trong bản
tổng kết “cuộc thi truyện ngắn đề tài nơng thơn” đăng trên báo Văn nghệ số 4 – 5 năm 1990 có
đoạn viết: “Truyện ngắn Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh báo hiệu một tấm lòng lớn, một
tầm nhìn xa và một tài năng trẻ viết về số phận con người…”. Và trên báo Văn Nghệ số 50
(12/1989), Giáo sư Hồng Ngọc Hiến nhận định: “… đọc truyện ngắn của Tạ Duy Anh, một
câu hỏi đặt ra; Giã từ thế kỷ XX bão táp và máu lửa này và chuẩn bị bước vào thế kỷ XXI “lý
trí và nhân bản” những lời nguyền nào là đáng nguyền rủa, những lời nguyền nào nhân loại

luật số 140 năm 2004 đưa ra nhận định “hầu hết những tác phẩm của ông (trừ
truyện viết cho thiết nhi và tản văn) đều rất gai về nội dung thể hiện [21] dưới cái nhìn hiện
thực ở góc khuất”. Đi tìm nhân vật là “Bức tranh hiện thực ngọt ngào của quyền lực, cái chết,
sự đồi bại… còn Thiên thần sám hối là một cuốn tiểu thuyết rất hay gần đây viết về nỗi đau
làm người và chưa được làm người qua câu chuyện của một hài nhi đang lựa chọn có nên làm
người hay không” [5, tr 405]. Nhà văn đã cho bạn đọc cái nhìn thẳng vào sự thật chát chúa
“ông là một tác giả tâm huyết, trăn trở với số phận con người, nhất là khi họ bị rơi vào tình
trạng khủng hoảng nhân cách. Tạ Duy Anh đã nhìn hiện thực một cách lý trí, lạnh lùng nhưng
cũng đầy thương xót con người”.

Báo Giáo dục và thời đại số 80 năm 2004 cũng đặt câu hỏi: “Số phận con người phải
chăng luôn là sự trăn trở, dằn vặt trong ông?” và tác giả bài báo cũng đưa ra câu trả lời: “Nhân
vật nào của ông cũng thấp thoáng bóng dáng của một người sinh ngày 9 tháng 9 tại làng Đồng.
Các truyện Đêm hóa thạch, Nửa đêm về sáng, Phía sau chân trời và cả một số sáng tác sau
này đều có một mơtíp nhang nhác giống nhau” [8, tr 175 – 176].
Bài Tạ Duy Anh giữa lằn ranh thiện ác [38] gọi tác giả là “là nhà văn của thời điểm” đã
đưa ra một số cái nhìn cơ bản về quan niệm của tác giả và con người: “Nhân vật của Tạ Duy
Anh khơng có sự trung gian, nhờ nhờ, xam xám về ngoại hình. Người xấu thì cựu xấu như lão
Phụng… người đẹp thì như hoa như ngọc như Qúy Anh, chị Túc, bà Ba, như sản phụ chờ sinh.
Nhưng bản chất con người thì ln ở ranh giới thiện – ác. Nhân vật nào cũng ln ln bị đặt
trong trạng thái đấu tranh với xã hội với mơi trường, với kẻ thù, với người thân, với chính bản
thân mình. Đã thế nhà văn lại có cái giọng rất quyết liệt, nhiều hình dung từ và động từ mạnh,
chõi nhau…” nhà văn lắm lúc quằn quại rên rỉ vì khơng ngăn nổi một hành động ác, cũng có
khi “lạnh lùng cố ý trước sự trả thù” [47].

Nói về thế giới nhân vật trong sáng tác Tạ Duy Anh, nhà văn Ngun Ngọc trong bài viết
Văn xi Việt Nam hiện nay, lơgíc quanh co của các thể loại, những vấn đề đặt ra và triển
vọng đã nêu nhận định: “Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh gói gọn trong nửa trang cả
một cuộc đời, một kiếp sống, mấy kiếp người vừa là tác giả vừa là nạn nhân của những bi kịch
đằng đẵng một thời” (evan.com.vn) Tạ Duy Anh ln theo đuổi nhân vật “vừa là tác giả, vừa

+ Nghệ thuật kết cấu trong một số tiểu thuyết huyền ảo triết luận của Tạ Duy Anh, Châu
Diên, Hồ Anh Thái (Nguyễn Thị Kim Lan)
+ Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tạ Duy Anh (Lê Vũ Lan Hương)
+ Tạ Duy Anh và việc làm mới nghệ thuật (Nguyễn Thị Hồng Giang)
Với góc độ khám phá riêng biệt, luận văn này muốn tổng hợp từ những nhận định trên để
có cái nhìn tồn diện, sâu sắc về Đặc điểm truyện ngắn Tạ Duy Anh đồng thời muốn ghi nhận
đóng góp của nhà văn đối với văn xi thời kì đổi mới.
3. Đối tượng nghiên cứu
Tạ Duy Anh sáng tác nhiều thể loại: Truyện ngắn, truyện dài, truyện vừa, tiểu thuyết,
t
ản văn, kịch, tiểu luận phê bình Thể loại làm nên tên tuổi của Tạ Duy Anh là truyện
ngắn. Ở thể loại này ông có tất cả hơn 50 truyện. Trong đó, có nhiều tập truyện: “Bước qua
lời nguyền” (1989), “Quả trứng vàng” (1989), “Hiệp sĩ áo cỏ” (1993),“Ln hồi” (1994),
“Con dế ma” (1999), “Ánh sáng nàng” (2000), “Vó ngựa trở về” (2000), “Ngày hội cuối
cùng” (2000), “Những truyện khơng phải trong mơ” (2003), “Truyện ngắn chọn lọc Tạ Duy
Anh” (2003), “Ba đào ký” (2004), “Bố cục hồn hảo” (2004)… Với khuôn khổ đề tài này,
chúng tôi tiến hành khảo sát tồn bộ truyện ngắn Tạ Duy Anh, trong tương quan so sánh với
truyện ngắn của một số nhà văn khác, để rút ra đặc điểm cơ bản của truyện ngắn Tạ Duy
Anh.
Đây là sáng tác được coi là thành công trong văn nghiệp Tạ Duy Anh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài “Đặc điểm truyện ngắn Tạ Duy Anh” chúng tôi đã vận dụng những
phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phương pháp này giúp chúng tôi tiếp cận và khảo
sát trực tiếp văn bản. Trên cơ sở tổng hợp lại những gì đã tiếp cận và khảo sát ấy phục vụ
một cách hiệu quả nhất cho luận điểm chính của luận văn.
Phương pháp so sánh – đối chiếu: Nhằm làm nổi bật sự khác biệt của truyện ngắn T

Duy Anh
với các nhà văn khác ở nhiều phương diện: phương pháp sáng tác, nghệ thuật biểu

Bước vào những thập niên đầu của thế kỉ XX, cùng với tiểu thuyết và thơ ca, truyện ngắn
cũng nhanh chóng tiếp nhận được những ưu thế mới của thời đại, cũng như chịu sự chi phối của
quy luật phát triển chung của một nền văn hố, văn nghệ đang khơng ngừng đổi mới. Mặc dù
thuật ngữ “truyện ngắn” xuất hiện chính thức vào khoảng cuối thế kỉ XIX cùng với báo chí,
bản thân nó cũng đã từng có một lịch sử phát triển riêng, nhưng cho đến nay trên thế giới cũng
như ở Việt Nam, người ta vẫn chưa xây dựng được một hệ thống lí luận hồn chỉnh về truyện
ngắn. Được quan niệm là “một bộ phận của tiểu thuyết” (Bùi Việt Thắng) hay là “một dạng
tiểu thuyết đặc biệt” (Vương Trí Nhàn), truyện ngắn đã có nhiều cách định nghĩa khác nhau.
Với kinh nghiệm từ nhiều năm cầm bút, Pautopxki đã phát biểu: “Truyện ngắn là truyện viết
ngắn gọn, trong đó cái khơng bình thường hiện ra như một cái bình thường và cái gì bình
thường hiện ra như một cái khơng bình thường” [44, tr 105]. Từ những trải nghiệm trong thực
tế sáng tác của mình, Aimatơp lại nói: “Truyện ngắn giống như một thứ tranh khắc gỗ, lao
động nghệ thuật ở đây đòi hỏi chặt chẽ, cơ đúc, các phương tiện phải được tính tốn một cách
kinh tế, nét vẽ phải chính xác. Đây là một việc vơ cùng tinh tế. Xoay xoả trên một mảnh đất
chật hẹp, đó chính là chỗ để cho truyện ngắn phân biệt với các thể tài khác”. [44, tr 146]. Từng
trăn trở rất nhiều trong mỗi trang viết, nhà văn Nguyễn Cơng Hoan lại cho rằng “Truyện ngắn
khơng phải là truyện mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết”. [71, tr 186].
Một trong những xác đònh súc tích và khá chuẩn về truyện ngắn là đònh nghóa của Lại
Nguyên Ân: “Một thể loại tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các
phương diện của đời sống con người và xã hội. Nét nổi bật của truyện ngắn là dung lượng,
tác phẩm truyện ngắn thích hợp với việc người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền mạch không
nghỉ”. [53, tr 1846 – 1847].
Xuất phát từ những quan niệm tương đối thống nhất về truyện ngắn đã cung cấp cho
chúng ta những nền tảng cơ bản để hiểu rõ hơn về khái niệm và có thể nêu ra một số đặc điểm
cơ bản của thể loại này.

1.1.2. Đặc điểm truyện ngắn
1.1.2.1. Đặc ñieåm đầu tiên, dễ thấy nhất của truyện ngắn là dung lượng nhỏ. Thế nào là
nhỏ? Có thể nói, dung lượng thông thường của một truyện ngắn co dãn khoảng từ 3 đến 50
trang. Dưới con số 3 trang, người ta gọi là “truyện ngắn mini”, hoặc “truyện ngắn trong lòng

thức biểu hiện qua một con mắt mà truyền đạt được cả tinh thần con người vốn có của nó. Bằng
sự trải nghiệm trong cuộc đời cầm bút của mình, Thomas Mann khẳng định: Truyện ngắn tuy
bé nhỏ, nhưng “những cái bé nhỏ đó cũng có sức chứa nội tại lớn lao, cũng có thể bao quát
được toàn bộ đời sống, có thể đạt được kích thước anh hùng ca và có được tác dụng nghệ thuật
chẳng khác gì một sáng tác đồ sộ khác” [59].
Về tính chất thưởng thức, truyện ngắn khác tiểu thuyết ở chỗ, độc giả có thể đọc nó trong
một hơi không nghỉ: “Truyện ngắn là một tác phẩm tuỳ dài tuỳ ngắn, người ta có thể đọc trong
mười phút hoặc một giờ”. [44]
Tính nhanh nhạy, cập nhật cũng là một đặc điểm của truyện ngắn. Là một thể loại dân
chủ, truyện ngắn gần gũi với đời sống hằng ngày. Với đặc thù ngắn gọn, súc tích, dễ đọc, truyện
ngắn thường gắn liền với hoạt động báo chí, có tác động mạnh mẽ, kịp thời tới cuộc sống. Ở
truyện ngắn, người viết không được dông dài, độ căng của tác phẩm phải “như mũi tên mà dây
cung đã bật, phải bay vụt về tới đích không thể có một phần nghìn dây trù trừ” [71, tr 162]. Để
đạt được điều này, điều cốt yếu của truyện ngắn là phải “nhạy bén trước những đổi thay của
cuộc sống” [44], truyện ngắn cần bắt nhịp nhanh với cuộc sống thời hiện tại. Truyện ngắn là
thể loại thích hợp giúp nhà văn tìm hiểu về những vấn đề mới đang được đặt ra trong cuộc
sống. Người ta có thể cho phép tiểu thuyết trở về khái quát một giai đoạn đã qua, nhưng truyện
ngắn thì không thể làm thế. Truyện ngắn phải trực tiếp đả động đến điều mọi người đang suy
nghĩ trong cuộc sống ngày hôm nay, cho dù chất liệu sử dụng trong tác phẩm là những điều xưa
cũ.
1.1.2.2. Truyện ngắn là thể loại văn xuôi tự sự. Trên phương diện này, truyện ngắn gần
với tiểu thuyết và các thể loại truyện kể dân gian như: truyện cổ tích, thần thoại, truyện cười…
và khác với tùy bút, thơ ca. Từ đặc trưng lớn có tính bao trùm này, có thể rút ra những nét riêng
của truyện ngắn như sau:
Cốt truyện là yếu tố hết sức quan trọng của thể tự sự nói chung và truyện ngắn nói riêng.
Song, khác với tiểu thuyết, cốt truyện của truyện ngắn “thường tự giới hạn về thời gian, không
gian” (Lại Nguyên Ân). Nếu tiểu thuyết dõi theo cả một hay nhiều số phận nhân vật, và tái hiện
một bức tranh xã hội rộng lớn rậm rạp với những mâu thuẫn, xung đột và diễn biến thì truyện
ngắn, tập trung vào một khoảnh khắc, trong đó xây dựng một tình huống truyện. Trong
những bài giảng của mình về Mỹ học Hégel nói: “Tình huống là một trạng thái có tính chất

kì, hấp dẫn nhưng cũng có khi không có, hoặc mờ nhạt. Thạch Lam là một nhà văn có nhiều tác
phẩm có cốt truyện mơ hồ, “truyện mà không có chuyện” như thế.
Vậy có yếu tố nào khác khiến cho truyện ngắn vẫn được chấp nhận khi thiếu vắng cốt
truyện? Có lẽ, yếu tố đó chính là chi tiết.
Ở truyện ngắn, chi tiết đóng vai trò rất quan trọng. Nó góp phần tạo dựng cảnh trí, không
khí, tình huống và khắc họa tính cách, hành động, tâm tư, nhân vật. Nhận xét về điều này, nhà
văn Nguyên Ngọc khẳng định: “Truyện ngắn có thể có cốt truyện, thậm chí cốt truyện li kì, gay
cấn, kể được. Truyện ngắn cũng có thể chẳng có cốt truyện gì cả, không kể được nhưng truyện
ngắn không thể nghèo chi tiết. Nó sẽ như nước lã” [49, tr 33].
Cũng nhấn mạnh chi tiết, nhà văn Vũ Thị Thường cho rằng: “viết truyện dài như làm một
căn nhà đồ sộ, còn bắt tay viết truyện ngắn là nhận lấy việc chạm trổ một cái khay, một tấm
tranh khắc gỗ” [44, tr 128].
Như vậy, vai trò của chi tiết trong truyện ngắn là hết sức quan trọng. Không chỉ vậy,
nhiều chi tiết đắt giá có thể nâng tác phẩm lên đến “cấp độ tượng trưng, tạo sức ám ảnh” [71, tr
84]. Văn học của chúng ta, có nhiều tác giả, nhiều tác phẩm đã lựa chọn được những chi tiết
như thế: chi tiết Hoàng và vợ đọc Tam Quốc vào mỗi đêm trước khi ngủ, trang trọng như một
thứ lễ nghi, chi tiết Hoàng vỗ đùi khen Tào Tháo “Tài thật! Tài thật! Tài đến thế là cùng! Tiên
sư anh Tào Tháo…” trong truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao. Chi tiết kết thúc truyện ngắn
Oẳn tà roằn của Nguyễn Công Hoan cũng thật độc đáo, ấn tượng: “Bắc nhìn kĩ cái tóc cái mặt,
cái mũi con… Rồi giở bọc ra ngắm thằng bé… Ngắm xong, bọc cẩn thận trả lại, chàng từ từ lui
ra, thở dài một cái rõ dài, nét mặt thất vọng. Té ra thằng bé con chàng nước da lại đen như cái
cột nhà cháy. Vậy nó không phải con Rồng cháu Tiên. Nó giống Oẳn tà roằn, không biết chống
gậy”…
Bên cạnh việc sử dụng các chi tiết đắt giá, cách kết thúc tác phẩm cũng có một vai trò
rất lớn trong việc tạo nên sự hấp dẫn của cốt truyện. Nhà văn Nga, D. Phuốcmanôp đã nói: “sức
mạnh của cú đấm (nghệ thuật) là thuộc về đoạn cuối”. Và như vậy, ta có thể hiểu rằng: với
truyện ngắn, tư tưởng tác phẩm thường thể hiện đột ngột và có thể chỉ thể hiện trong mấy dòng
cuối cùng của văn bản. O Henri là một nhà văn được nhiều độc giả trên thế giới yêu thích một
phần cũng là vì nghệ thuật kết thúc tác phẩm của ông rất độc đáo, ấn tượng.
Theo dòng lịch sử, đã có sự thay đổi đáng kể trong cách kết thúc tác phẩm của truyện

cảnh ngộ, một sự việc, phân tích một hiện tượng, một lời nói, một bức ảnh thì rất có thể viết từ
đầu đến cuối bằng một thái độ, bằng tâm tình của mình và viết ngắn được. Và cũng chỉ có thể
viết ngắn thôi. Điểm này cũng là điểm mà truyện ngắn khác với truyện dài. Khi viết truyện dài
tác giả chỉ có thể gửi tâm tình của mình vào từng nhân vật, trong từng sự kiện” [44, tr 121].
Nếu tiểu thuyết ngày càng có xu hướng là đa thanh, mỗi nhân vật được nhà văn phú cho
một giọng tương ứng, thì với truyện ngắn, tính chất này không phải là một yêu cầu tiên quyết.
Tuy vậy, vẫn có những truyện ngắn dung nạp nhiều giọng điệu. Lúc bấy giờ, người ta nói nhà
văn ấy viết truyện ngắn bằng tư duy tiểu thuyết, hay nói khác đi, đó là hiện tượng giao thoa về
thể loại, rất dễ thấy trong kỷ ngun hiện đại và hậu hiện đại.
1.2. Khái quát về truyện ngắn Tạ Duy Anh
1.2.1. Vài nét về tác giả và hoàn cảnh ra đời của truyện ngắn Tạ Duy Anh
Vài nét về tác giả: Nhà văn Tạ Duy Anh với các bút danh khác Lão Tạ, Chu Q, Bình
Tâm Tên khai sinh Tạ Viết Dũng, sinh 9 tháng 9 năm 1959, q ở thơn Cổ Hiền, xã Hồng
Diệu, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Cử nhân Văn học, Tạ Duy Anh nhập ngũ ngày 7 tháng 2
năm 1985, cấp bậc Trung sĩ nhân viên qn lực của tiểu đồn. Tháng 10 năm 1987, Tạ Duy
Anh xuất ngũ về làm việc tại cơng ty thủy điện Sơng Đà. Tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn
Du khóa IV, từng cơng tác ở trường. Trở thành
thành viên Hội nhà văn Việt Nam (1993). Hiện
là biên tập viên Nhà xuất bản Hội Nhà văn.
Rất nhiều lần trong tác phẩm, trong các bài phỏng vấn, Tạ Duy Anh đều nêu câu hỏi:
Tôi là ai? Và ông luôn tìm cách trả lời câu hỏi đó từ góc độ khác nhau, khi là những lời tự
bạch, khi là lời nhân vật mà ông muốn gửi gắm suy tư của mình: “Tôi sinh ra vào những cơn
mưa. Vào một đêm sâu thẳm nào đó, trong nỗi cô đơn khủng khiếp, cha tôi lang thang đi
tìm Miền khô ráo. Ông đã nằm mơ thấy trước tất cả những gì sẽ diễn ra. Trong cơn vùi dập
của trời đất, ông thấy tôi mang hình quả cầu lửa. Mẹ tôi khi ấy giống nhưng cọng cỏ úa
vàng vì ẩm ướt đã giơ tay cầu nguyện. Chiếc giường tre nấc lên bởi cuộc báo thù số phận,
bởi nỗi đau đớn triền miên không thể giải thoát. Bà tiên cảm tới một cuộc sinh nở sẽ rất
quằn quại và điều đó bắt đầu làm nên số phận tôi” [10, tr 193].
Như lời tự bạch: “Tôi sinh ra ở vùng q hẻo lánh, thấm đẫm khơng khí thù hận, cơ thể
còi cọc mặt mũi đen đủi, xấu xí, sống với một người cha rắn như thép” [9, tr 171]. “Tôi biến

lo âu về thân phận và trạng thái tha hoá của con người hiện đại?
Hồn cảnh ra đời của truyện ngắn Tạ Duy Anh: Tạ Duy Anh có năng khiếu văn chương
rất sớm. Ngay từ khi học lớp 8 ông đã viết truyện ngắn đầu tay của mình với đề tập làm văn
cô giáo cho: “Em hãy kể lại một kỉ niệm đáng nhớ”. Bài văn đạt điểm cao và con đường
đến với văn chương nghệ thuật của Tạ Duy Anh được manh nha từ bòa truyện đầu tiên ấy.
Ông tâm sự, với bài văn ấy, “tôi cảm thấy mình bòa được truyện”.
Là cậu tú tài của làng Đồng, Tạ Duy Anh lên Sông Đà học lớp chuyên nghiệp giám
sát bê tông. Thời gian này ông có viết nhưng như người làm vườn mới tập gieo hạt, đến
mùa thu hoạch ông chẳng gặt hái được gì. Cho đến năm 1980, khi đi thực tập, trong căn lều
heo hút ngọn đèn dầu, một đêm ông thấy trong mình “cứ cựa quậy một cái gì đó”, ngày
càng mãnh liệt, càng rõ nét thôi thúc ông phải cầm bút. Và truyện ngắn Để hiểu một con
người ra đời. Cái tên Tạ Duy Anh chợt nảy ra, rồi được đề ngay dưới truyện ngắn. Truyện
được đăng ở báo Lao động – một tờ báo danh giá của thời bấy giờ. Tạ Duy Anh trở thành
bút danh, thành tên gọi quen thuộc đối với công chúng văn học.
Hai năm 1982, 1983 ông viết một loạt truyện ngắn về công trường thủy điện Sông Đà
nhưng chính người sáng tác lại không muốn ai tìm đọc vì cảm thấy không tự tin. Bài học
sáng tác đầu tiên mà ông cảm nhận được là không thể viết những điều không phải là máu
thòt của mình.
Năm năm sau (1988), trở về làng Đồng sau ngày ra quân, trong buổi chiều âm u, cái
cảm xúc của tám năm về trước lại rạo rực trong tâm trí nhà văn. Như người đang khao khát
kiếm tìm bỗng được gia ân, Tạ Duy Anh cảm thấy có một vốn sống, vốn kí ức vô cùng
phong phú, q báu về làng quê mà xưa nay mình không nhận ra, cứ lang thang đi tìm những
đâu. Ông viết Lũ vòt trời (mới đầu đặt tên là Mưa đá), viết liên tiếp, liền một mạch vào
những vỏ bao thuốc lá, chữ bé li ti, dày ri rít. Hành trình đến với văn chương nghệ thuật của
Tạ Duy Anh tuy được manh nha từ sớm nhưng chỉ đến khi viết Lũ vòt trời, ông mới có cảm
giác mình hoàn toàn tự tin. Ông bắt đầu nghó nghiêm túc về quê hương mình, hoá ra toàn bộ
thế giới này có hết dưới dạng thu nhỏ ở làng mình. Quá trình “bừng ngộ” đó giúp ông viết
Bước qua lời nguyền (1989) mê mải sáng tác đến tối, mười bảy trang bản thảo chữ nhỏ li ti.
Viết xong, như con tằm nhả tơ, tác giả “cảm thấy không còn gì để sống nữa, một cảm giác
rỗng hết ở trong con người”.

Đồng thời, các nhà văn
đã bước đầu có ý thức tìm tòi thể nghiệm những cách nhìn mới, cách đánh giá mới, những đổi
mới trong thủ pháp nghệ thuật.
Xuất hiện trên văn đàn Việt Nam đúng vào lúc Đảng và nhà nước chủ trương “Cởi trói
cho văn học nghệ thuật”, Tạ Duy Anh có điều kiện để thể nghiệm một lối đi riêng cùng với
những cách tân hiện đại trong mỗi trang viết của mình. Những tác phẩm của ơng đã lập tức gây
được tiếng vang lớn và ơng nhanh chóng trở thành một hiện tượng độc đáo trong đời sống văn
học đang từng bước khởi sắc của nước nhà. Người ta chờ đón tác phẩm của ơng trong sự háo
hức, và ơng từng bước khẳng định tài năng cũng như phong cách văn xi đặc biệt của mình
trong sự tiếp nhận đa dạng: khen, chê, khẳng định, phủ định. Tác phẩm của ơng đem đến cho
độc giả những cách lí giải mới về cuộc sống, khiến họ có thể chạm sâu vào đời sống thực tế,
hiểu hơn về bản chất của nó cũng như những trạng thái nhân sinh trong buổi đầu của thời kì đổi
mới. Với
các tác phẩm đã công bố: Bước qua lời nguyền (tập truyện), Luân hồi (tập truyện),
Gã và nàng (tập truyện), Bố cục hoàn hảo (tập truyện), Truyện ngắn chọn lọc Tạ Duy Anh
(t
ập truyện), Những truyện khơng phải trong mơ (tập truyện), Ba đào ký, Ngẫu hứng sáng
trưa chiều tối (tập tản văn), Lão Khổ, Nhân vật đi tìm, Thiên thần sám hối, Sinh ra để chết,
Giã biệt bóng tối (tiểu thuyết)… cùng gần 10 tập sách (gồm truyện ngắn, truyện vừa, tản văn)
dành cho thiếu nhi…
Tạ Duy Anh quả đã đóng góp nhiều cho văn học Việt Nam. Song, thể loại
làm nên tên tuổi và mang lại cho ơng một phong cách nghệ thuật độc đáo chính là truyện ngắn.
1.2.2. Quan niệm văn chương nghệ thuật của Tạ Duy Anh
Trong các bài phê bình đã được cơng bố hoặc trong các bài phỏng vấn, Tạ Duy Anh có
nhiều dịp bày tỏ những quan niệm của mình về văn chương.
Xuất hiện khi những đột phá về
nhận thức xã hội, quan niệm văn chương, sự đổi mới lối viết, cách thể nghiệm hình thức
trần thuật không còn quá lạ lẫm sau một loạt những tiếng vang của thế hệ “làn sóng
thứ
nhất” Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Dương Thu Hương, Phạm

đã cô đặc thành “chất” sống, là sự rút ruột, nhả tơ cho tâm hồn. Lao động nhà văn, theo ông
là một công việc đòi hỏi sự nghiêm túc, nơi không bao giờ có chỗ cho sự cẩu thả. Bất cứ sự
buông thả nào đều phải trả giá ngay. Tạ Duy Anh viết “như đã lónh một sứ mệnh từ trên trời,
từ khi mới sinh ra”, đứng trước trang giấy như một thứ pháp trường trắng nghiệt ngã, mỗi
trang đầy ắp suy nghó và bản lónh nghề nghiệp. Viết là cách mà Tạ Duy Anh chống lại nỗi
đau tinh thần xuất phát từ hiện thực không ngừng vò xé. Viết là cách tốt nhất để đối mặt và
giải phẫu cuộc đời. Ông viết về nhiều thực trạng đen tối của cuộc sống, cũng có khi cách
viết lạnh lùng cố ý trước một sự trả thù của ông lại bò chê là quá tàn nhẫn, mở đường cho
cái ác văn chương vì miêu tả quá chi tiết và khách quan. Thế nhưng Tạ Duy Anh không
phải là một nhà “hoài nghi chủ nghóa”. Trái lại ông luôn đặt niềm tin vào cuộc sống, tin vào
điều kì diệu mà văn chương mang lại cho cuộc đời này, dẫu có lúc “mỏi m
ệt đến tuyệt vọng
vì xem tivi thấy người ta giết một lúc hàng ngàn người, thấy bất lực đến chảy nước mắt vì chỉ
một thằng quan tham làm nhân dân mất đứt
hàng tỉ tiền đóng thuế, thấy những gì mình viết
ra vô nghóa đến thảm hại, nhưng rồi vẫn lại cầm bút và viết thôi, và vẫn phải tin là vì những
đóng góp nhỏ hơn cả hạt bụi của mình mà ngày mai sẽ sáng hơn hôm nay một chút” [83].
Là người luôn có ý thức nhận thức lại, nghi ngờ tất cả những gì đã được xác tín để
xây d
ựng những cách nhìn mới, giá trò mới, quan niệm về lòch sử của Tạ Duy Anh rất gần
gũi với Kundera khi ông cho rằng nhà văn không phải thằng hầu của lòch sử. Đối với Tạ
Duy Anh, “bản
thân lòch sử là vô ý, vô cảm và chẳng có giá trò gì với chính nó. Nó chỉ có
giá trò với tương lai ở khía cạnh kinh nghiệm và những bài học. Những bài học lòch sử, đặc
biệt là những bài học rút ra từ những thảm họa, cần phải được nhắc đi nhắc lại. Mọi sự bóp
méo, che giấu hoặc thổi phồng các sự kiện lòch sử đều là tội ác” [83]. Bảng lảng trong tác
phẩm của ông tinh thần hoài nghi về lòch sử, bởi lẽ một xã hội nhân văn, biết đề cao phẩm
giá luôn phải tạo điều kiện để các công dân tiếp cận với mọi sự th
ật lòch sử, thuộc làu nó
ngay từ trên ghế nhà trường và không ngừng truy tìm cận căn nguyên của từng sự kiện chắc

tìm kiếm thể nghiệm đều nhằm tăng thêm khả năng biểu đạt cho văn chương, sao cho văn
chương có thể hiểu tâm hồn con người ngày một sâu hơn. Với ý nghĩ này, văn học là nơi lưu
giữ nhân tính, là sự xác lập những giá trị nhân văn nhân danh vẻ đẹp con người.
1.2.3. Đổi mới trong nghệ thuật thể hiện
Thực tiễn đổi mới trong hai thập kỉ qua đã thổi vào văn học luồng gió mới. Cùng với
thành cơng của Đại hội Đảng lần VI, cuộc gặp gỡ giữa Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với giới
văn nghệ là những yếu tố vơ cùng quan trọng thúc đẩy q trình đổi mới văn học. Hồ vào với
sự đổi mới nói chung của văn học, sáng tác của Tạ Duy Anh có những cách tân, đổi mới trên
nhiều phương diện: Đổi mới về quan niệm hiện thực của nhà văn, đổi mới quan niệm nghệ
thuật về con người, đổi mới trong nghệ thuật xây dựng nhân vật…
1.2.3.1 Đổi mới về quan niệm hiện thực của nhà văn
Trước năm 1975, hiện thực được các sáng tác văn học lựa chọn là hiện thực chính trị
rộng lớn. Sau 1975, văn học hưởng ứng chủ trương: “Đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật,
đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” (Báo cáo chính trị Ban chấp hành Trung ương - Đại
hội Đảng VI). Quan niệm về hiện thực của các nhà văn có sự đổi mới. Hiện thực được thể hiện
khơng đơn giản xi chiều như trước mà đa dạng, phong phú được soi chiếu từ kinh nghiệm
bằng cả kinh nghiệm cộng đồng lẫn kinh nghiệm cá nhân với quan điểm nhân bản khác nhau.
Hiện thực đa chiều đó là hiện thực chưa hồn kết, khơng thể khơng biết hết đòi hỏi nhà
văn ln phải khám phá, tìm tòi. Văn học tìm đến hiện thực cuộc sống đời tư phức tạp, từ số
phận của cá nhân đến số phận chung của cộng đồng đã đem lại cho văn học những hiện thực
mới mẻ, chân thực đậm chất nhân văn và thực sự gần gũi với con người. Nhân vật là phương
tiện cơ bản của nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng. Nhà văn sáng tạo nhân vật để
thể hiện nhận thức của mình về cá nhân nào đó, về một loại người nào đó, về vấn đề nào đó của
hiện thực. Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong
một thời kỳ lịch sử nhất định.
Viết về nông thôn, Tạ Duy Anh đề cập đến số phận con người, số phận của những người
nông dân luôn phải sống trong sự đè nặng của biết bao thù hận, bao định kiến tối tăm, bảo thủ.
Chỉ ở một cái làng bé nhỏ thôi mà lúc nào cuộc sống cũng căng lên, ngột ngạt bởi các mối quan
hệ chằng chịt phức tạp và rất nhiều cuộc đời không được lựa chọn quyền sống cho chính mình.
Không khinh bạc, không gai góc, mỗi trang viết của Tạ Duy Anh cứ da diết một cảm giác của

một cái gì đó nặng nề. Như cha của cậu Tư, luôn khắc ghi trong tâm khảm mình hình ảnh của
cha và người em ruột chết một cách thảm thương vì tay lão Hứa. Bởi vậy, bắt tay với kẻ thù sẽ
còn như một việc làm tán tận lương tâm, bất trung bất hiếu.
Nhân vật người cha trong Vòng trầm luân trần gian cũng nuôi một mối thù sâu sắc. Nỗi
hận trong quá khứ không lúc nào được người cha quên nhắc lại cho con mình. Và ông minh
chứng bằng những hồi ức rành rẽ, đầy tính thuyết phục: “Thằng nào bôi đen lý lịch nhà anh?
Thằng nào lệnh mang cứt đổ vào cửa nhà anh? Chính cái thằng đập cả bàn thờ nhà anh vì nghi
có truyền đơn Việt Minh. Mày bảo tao phải quên đi những thằng như thế à?” [92].
Thế giới nội tâm của họ cũng đầy phức tạp, luôn tồn tại những nỗi dằn vặt, vò xé, đau
đớn. Họ sống, ứng xử theo những quan niệm và hồi ức của chính mình. Khi họ đã mang một
nỗi hận nào đó thì cũng đồng nghĩa với việc họ sẽ mang nó suốt cuộc đời. Hơn thế, còn truyền
kiếp lại cho những đời con cháu họ, đừng mong chờ hai chữ vị tha. Tuy nhiên, Tạ Duy Anh lại
viết về những vấn đền này với sự cảm thông, chia sẻ. Có những đòi hỏi quá sức chịu đựng của
con người. Bản thân những người nông dân đôi khi không hề muốn khoét sâu hơn vết hằn quá
khứ nhưng tất cả những gì họ đã trải qua luôn nhắc nhở và không cho phép họ bội tín với những
lời thề, những ràng buộc vô tình.
Không chỉ luẩn quẩn, tăm tối với những hận thù, người nông dân trong cái làng Đồng bé
nhỏ ấy còn tự làm khổ mình và làm khổ người khác với những nhận thức ấu trĩ và những định
kiến sai lầm. Trong một số tác phẩm của Tạ Duy Anh hay láy đi láy lại môtíp những người con
gái xinh đẹp vượt trội trong làng luôn luôn phải chịu một cuộc sống cô độc, ghẻ lạnh bởi họ bị
coi là hiện thân của tình yêu, ác quỷ về hãm hại dân làng, thậm chí có khi họ còn bị chôn sống
(Thiên thần ác quỷ, Truyền thuyết viết lại, Ánh sáng nàng ). Cái đẹp là sự lạc loài, nó làm
người ta nhớ đến những bi kịch của làng từ trong truyền thuyết.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status