BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Phạm Thị Thanh Nga
ĐÓNG GÓP CỦA VŨ NGỌC PHAN, TRƯƠNG
CHÍNH, ĐINH GIA TRINH VỀ MẶT PHƯƠNG
PHÁP PHÊ BÌNH, NGHIÊN CỨU VĂN HỌC
TRONG GIAI ĐOẠN 1930 – 1945
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THÀNH THI
Thành phố Hồ Chí Minh – 2008
LÔØI CAÛM ÔN
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy Nguyễn Thành Thi – người đã trực tiếp hướng
dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa
Ngữ văn – trường Đại học Sư phạm TP. HCM và các thầy cô đã giảng dạy Cao học khóa 16 ngành
Văn học Việt Nam.
các giai đoạn văn học.
Việc tìm hiểu về phương pháp phê bình sẽ cho ta thấy con đường hình thành và quá trình hiện
đại hóa của phê bình văn học Việt Nam thế kỉ XX, các luồng tiếp thu và ảnh hưởng, nguyên nhân
của nhiều cuộc tranh luận, tức là những điều mà nếu ta chỉ mô tả các tác giả, tác phẩm, các hiện
tượng một cách riêng lẻ thì khó có thể thấy rõ được. Đồng thời việc nghiên cứu như vậy cũng giúp
ích nhiều cho việc giảng dạy văn trong trường THPT khi các tác phẩm lý luận, phê bình ngày càng
chiếm một vị trí quan trọng hơn.
Chính vì những lý do trên, tác giả luận văn quyết định chọn cho mình đề tài “Đóng góp của Vũ
Ngọc Phan, Trương Chính, Đinh Gia Trinh về mặt phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học
trong giai đoạn 1930 – 1945”. Nghiên cứu đề tài này, tác giả luận văn muốn hướng đến các mục
đích sau:
- Xác định sơ bộ tiến trình phát triển của các phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học ở
Việt Nam để từ đó thấy được sự tự ý thức về mình của văn học qua các thời kỳ.
- Khảo sát toàn diện phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học của Vũ Ngọc Phan, Trương
Chính, Đinh Gia Trinh trong những tác phẩm trước Cách mạng tháng Tám. Đây cũng là cách để có
thể đánh giá đúng đắn vị trí của các ông trong lịch sử văn học cũng như góp thêm một số kiến thức
lý thuyết và thực hành cho nền lý luận, phê bình nước nhà.
2. Phạm vi đề tài và tư liệu nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nghiên cứu nêu trên, người viết sẽ phải quan tâm đến toàn bộ
những tác phẩm phê bình, nghiên cứu văn học của Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Đinh Gia Trinh
trong giai đoạn 1930 – 1945. Do điều kiện và khả năng hạn hẹp, người viết chưa thể tìm được tất cả
những bài viết đã xuất hiện trên mặt báo của các tác giả này. Vì vậy, phạm vi khảo sát của luận văn
sẽ chỉ gồm những tác phẩm đã được in thành sách. Cụ thể đó là các tác phẩm sau:
- Vũ Ngọc Phan (1960), Nhà văn hiện đại, NXB Thăng Long, Sài Gòn.
- Vũ Ngọc Phan (1963), Trên đường nghệ thuật, NXB Đời nay, Sài Gòn.
- Đinh Gia Trinh (2005), Hoài vọng của lý trí, NXB Hội nhà văn, Hà Nội.
Riêng với Trương Chính, do hai tập Dưới mắt tôi và Những bông hoa dại của ông chỉ được in
lại trong những tuyển tập nên người viết sẽ tìm hiểu văn bản của chúng trong quyển Văn học Việt
Nam thế kỷ XX (Quyển 5 – Phần lý luận, phê bình) (Tập 4) do Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên, NXB
Văn học, Hà Nội xuất bản năm 2005.
bình, ta thấy hiện rõ nhà xã hội” [104, tr.842], ta có thể suy ra phần nào Văn Ngoạn đã thấy Trương
Chính sử dụng phương pháp xã hội học.
Theo Vũ Ngọc Phan, “lối phê bình của Trương Chính đã bắt đầu kỹ càng và có phương pháp.
Sự khen chê của ông đã có căn cứ, không đến nỗi vu vơ (…) Đối với cái “phương pháp ba W” của
người Anh, Trương Chính là người rất trung thành” [78, tr.649]. Tuy vậy, Vũ Ngọc Phan chê
Trương Chính “không sâu sắc”, “lời phê bình nhiều khi không nhất trí, khó mà biết được ý kiến rõ
rệt của ông về một nhà văn”, đã thế ông lại còn “hay bắt bẻ thiên vị” [78, tr.654-655].
Trong giai đoạn này, người viết không tìm được bài viết nào đề cập đến phương pháp phê bình
của Đinh Gia Trinh.
3.2. Ở miền Bắc, sau năm 1945, do những yêu cầu của nền văn nghệ cách mạng, những tác
phẩm của giai đoạn trước ít được đề cập. Ở miền Nam thời gian này, Vũ Ngọc Phan và Trương
Chính được các tác giả Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Tấn Long, Phạm Thế Ngũ, Thế
Phong nhắc tới trong một số công trình về phê bình văn học Việt Nam của họ. Tuy nhiên hai ông
không phải là đối tượng nghiên cứu chính nên họ chỉ dành cho hai ông những đánh giá chung về vị
trí, quan niệm (Nguyễn Văn Trung xếp Vũ Ngọc Phan, Trương Chính vào quan niệm phê bình ấn
tượng chủ quan giáo điều), khuynh hướng (Thanh Lãng xếp Vũ Ngọc Phan vào khuynh hướng phê
bình văn học sử, Trương Chính vào khuynh hướng phê bình cổ điển). Nhìn chung các tác giả này
đều ghi nhận đóng góp của hai ông. Riêng Thanh Lãng trong quyển Phê bình văn học Việt Nam thế
hệ 1932 cho rằng Trương Chính đã tiến hơn Thiếu Sơn và Phạm Quỳnh, Phan Khôi, thậm chí khởi
sắc hơn cả Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan ở chỗ không tỉ mỉ, vụn vặt như hai tác giả này. Đáng
nói là sau khi ca ngợi, Thanh Lãng lại chê phương pháp phê bình của Trương Chính rời rạc, không
khái quát, nhìn tác phẩm như một hiện tượng riêng lẻ, cô lập và cuối cùng là không đem lại cái gì
mới mẻ. Chính vì tiền hậu bất nhất như vậy nên lời bình luận của Thanh Lãng không thật thuyết
phục.
Trong bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, khi viết về tạp chí Thanh Nghị, Phạm Thế
Ngũ tỏ ra biệt nhãn Đinh Gia Trinh hơn cả. Theo ông, đây là ngòi bút khả ái bậc nhất ở Thanh Nghị
với “một khiếu phân tích sắc bén”, “một cái nhìn hơi nghiêm khắc nhưng công minh, nhiều nhận
định đúng và hay” [71, tr.660].
Trong chuyên đề Lí luận văn học so sánh, Nguyễn Văn Dân kể ra “người đầu tiên có ý thức
bàn luận đến văn học so sánh về mặt phương pháp luận” là Vũ Ngọc Phan. Tuy mới chỉ dùng
phương pháp thực chứng nhưng ông đã sớm “đề cập đến cả ba đối tượng của văn học so sánh”.
Quan điểm so sánh tương đồng của ông thậm chí đã “đi trước các nhà so sánh luận thế giới” [7,
tr.30, 31, 33].
Bên cạnh những ý kiến khen ngợi như trên, không ít tác giả cho rằng phương pháp phê bình
văn học của Vũ Ngọc Phan vẫn còn nhiều điểm hạn chế. Trần Đình Sử nhận thấy Vũ Ngọc Phan đã
biết sử dụng “phương pháp thực chứng” trong nghiên cứu văn học đáng tiếc là phê bình của ông
còn “giới hạn trong việc phẩm bình văn, tính chủ quan rất đậm” [15, tr.704, 705]. Trần Đình Sử
cũng đồng ý với Đỗ Lai Thúy khi khẳng định Vũ Ngọc Phan “không cắt nghĩa, lí giải tác phẩm như
một hiện tượng nghệ thuật văn hóa xã hội, mà chỉ vẽ hay dở cho nhà văn, nên nhiều khi rơi vào bắt
bẻ vụn vặt” [15, tr.709].
Nguyễn Thị Thanh Xuân chỉ ra “phương pháp hệ thống” và phần nào những mầm mống của
“phương pháp tiếp cận văn học theo đặc trưng thể loại” trong quyển Nhà văn hiện đại [123, tr.299,
305]. Tuy vậy, theo bà, những phương pháp này chưa được Vũ Ngọc Phan áp dụng một cách nhuần
nhuyễn, do đó chúng chưa mang lại hiệu quả như mong muốn.
Cũng như Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn Đăng Điệp nhận thấy Vũ Ngọc Phan đã tiến
hành một phương pháp làm việc khoa học [103, tr.413], song “ông còn quá nghiêng về mặt cảm thụ
nghệ thuật mà chưa thật sự sâu về mặt logic khoa học, tính khái quát các vấn đề văn học chưa cao”
[103, tr.421].
Lại Nguyên Ân đề cập đến “lối viết chân phương” “dạng bút ký của nhà biên khảo”. Ông cho
rằng “giá trị chủ yếu của Nhà văn hiện đại là ở “chất” nghiên cứu của nó” chứ không phải chất
phê bình [46, tr.137, 138, 140].
Theo Mộng Bình Sơn, Đào Đức Chương, Vũ Ngọc Phan đã “chối bỏ lập trường phê bình
khách quan, bằng cách tách rời thân thế của tác giả với tác phẩm” [89, tr.196]. Ông không lý giải
thơ văn từ cuộc đời tác giả mà lựa chọn cho mình một phương hướng chủ quan, cổ điển, thiên về
khen chê vụn vặt. Đây cũng là nhận xét của Trịnh Bá Đĩnh trong bài Ba kiểu nhà phê bình hiện đại.
Ở bài viết này, Trịnh Bá Đĩnh xếp Vũ Ngọc Phan vào nhóm các nhà bình giải văn học – những
người giới hạn cảm quan và sự hoạt động của mình chỉ trong lĩnh vực văn học, tránh việc cắt nghĩa
văn học từ các lĩnh vực khác.
Nhận xét trên cũng tương tự như nhận xét của Vương Trí Nhàn ở bài viết Khuôn mặt tinh thần
của một trí thức hoạt động văn học. Trong bài viết này, Vương Trí Nhàn cho rằng Đinh Gia Trinh
đã tiếp thu được “óc khoa học” của phương Tây, điều đó thể hiện rõ qua bài tranh luận của ông với
Nguyễn Bách Khoa về vấn đề Truyện Kiều [119, tr.463].
*
* *
Điểm lại tất cả những ý kiến trong gần bảy thập kỷ vừa qua, ta thấy giữa các nhà nghiên cứu
có sự thống nhất và cũng có những khác biệt.
Nhìn chung các bài viết về Đinh Gia Trinh không nhiều và khá nhất quán. Các tác giả đều
nhận thấy nhờ tiếp thu được hệ thống tri thức lý luận phương Tây và biết cách vận dụng chúng một
cách nhuần nhuyễn nên những trang viết của ông có nhiều chỗ vẫn còn giữ nguyên giá trị đến ngày
hôm nay.
Về phía Trương Chính, phần lớn các nhà nghiên cứu đều đồng ý với ý kiến của Vũ Ngọc
Phan: lối phê bình của Trương Chính đã bắt đầu kỹ càng và có phương pháp, mọi sự khen chê đều
dựa trên những căn cứ xác thực, tuy nhiên dấu ấn chủ quan, giáo điều thể hiện rõ nét trong những
nhận xét của ông khiến cho bài phê bình nhiều lúc chưa thật thuyết phục.
Khác với trường hợp của Đinh Gia Trinh và Trương Chính, những ý kiến đánh giá về Vũ
Ngọc Phan tương đối phong phú và phức tạp. Mặc dù ai cũng khẳng định tầm vóc đồ sộ của bộ Nhà
văn hiện đại và những đóng góp của Vũ Ngọc Phan cho nền văn học nước nhà nhưng về phương
pháp phê bình của ông thì mọi người vẫn chưa hoàn toàn nhất trí. Có người bảo ông đã thực hiện
một lối phê bình theo phương pháp khoa học, cụ thể là ông đã sử dụng phương pháp hệ thống,
phương pháp thực chứng, phương pháp so sánh, phương pháp tiếp cận theo đặc trưng thể loại vào
việc nghiên cứu tác phẩm văn học. Nhưng cũng có người lại cực lực phản đối lối phê bình vụn vặt,
tùy tiện, thấy cây không thấy rừng của ông. Họ cho rằng cái cách Vũ Ngọc Phan bắt bẻ từng li từng
tí những chỗ hay dở không giúp ích gì nhiều cho việc soi rọi tác phẩm; có thể nói ông đã thực hiện
một lối phê bình hoàn toàn chủ quan, ấn tượng, tách rời tác giả với tác phẩm, cô lập nghệ thuật với
các lĩnh vực khác.
Tuy mức độ quan tâm của giới nghiên cứu đối với ba nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, Trương
Chính, Đinh Gia Trinh có khác nhau nhưng nhìn chung phương pháp phê bình của ba ông đều chưa
được khảo sát một cách toàn diện, sâu kĩ mà mới chỉ được nhắc tới bằng những nhận định khái quát.
và nét đặc thù nhằm làm sáng tỏ bản chất của chúng.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Chọn lựa đề tài “Đóng góp của Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Đinh Gia Trinh về mặt phương
pháp phê bình, nghiên cứu văn học trong giai đoạn 1930 – 1945”, người viết hi vọng sẽ có thể góp
một phần công sức nhỏ bé cho nền lý luận, phê bình văn học Việt Nam về cả hai phương diện lý
thuyết và thực tiễn. So với các công trình nghiên cứu lý luận, phê bình trước đây, đề tài có những
nét mới như sau:
- Phác thảo được sơ nét hành trình diễn tiến của các phương pháp phê bình, nghiên cứu văn
học của Việt Nam. Như chúng ta đã biết, chính sự xuất hiện của phương pháp đã biến phê bình
thành một khoa học thực sự. Vì vậy việc nghiên cứu về các phương pháp phê bình sẽ cho ta thấy
được sự vận động của tư duy khoa học trong văn học.
- Tìm hiểu được một cách khá toàn diện những đóng góp về mặt phương pháp phê bình,
nghiên cứu văn học của Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Đinh Gia Trinh trong giai đoạn 1930 –
1945. Đây là một cách hữu hiệu để khẳng định tầm vóc của các nhà phê bình này qua mức độ am
hiểu và vận dụng các tri thức lý luận cũng như khả năng cảm thụ bén nhạy của họ.
- Từ việc thấy được sự vận động, phát triển của các phương pháp phê bình, nghiên cứu văn
học và sự thể hiện cụ thể của chúng trong tác phẩm của những nhà phê bình nổi tiếng, rút ra những
bài học kinh nghiệm khi phân tích, tìm hiểu các tác giả, tác phẩm, các hiện tượng văn học. Đây là
một công việc ý nghĩa đối với những người học văn nói chung và những người dạy văn nói riêng.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu (13 trang) và kết luận (7 trang), luận văn được chia thành ba chương dựa
trên nội dung nghiên cứu:
Chương 1: Sự phát triển của các phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học ở Việt Nam
Chương này sẽ tìm hiểu một số nét khái quát về phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học và
lịch sử phát triển của các phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học ở Việt Nam. Trong quá trình
tìm hiểu, người viết sẽ đặc biệt chú ý đến các phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học xuất hiện
vào giai đoạn 1930 – 1945. Đây chính là cơ sở để chúng ta thấy được vị trí và vai trò của Vũ Ngọc
Phan, Trương Chính, Đinh Gia Trinh trong giai đoạn này.
Chương này dài 37 trang
Chương 2: Những đóng góp của Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Đinh Gia Trinh trong việc đổi
tượng văn học (tác giả, tác phẩm, sự kiện, giai đoạn…) một cách hiệu quả.
Khái niệm trên đã cho thấy phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học vừa là điều kiện,
phương tiện, lại vừa là sản phẩm, kết quả của tư duy khoa học. Nó chính là cầu nối giữa chủ thể
nghiên cứu (nhà phê bình) và đối tượng nghiên cứu (tác giả, tác phẩm, trào lưu…). Vì lẽ đó, nó là
một hoạt động vừa có tính chủ quan vừa có tính khách quan. Chủ quan vì chịu sự chi phối của năng
lực sáng tạo khoa học và mục đích khoa học của chủ thể nghiên cứu. Khách quan vì phụ thuộc vào
đặc điểm và tính chất của đối tượng nghiêu cứu. Do vậy, sau khi lựa chọn đối tượng nghiên cứu,
nhà nghiên cứu phải căn cứ vào đặc điểm, tính chất của đối tượng và mục đích của chính mình để
xác định một hay nhiều phương pháp phù hợp. Trong suốt q trình thực hiện phương pháp, yếu tố
chủ quan và yếu tố khách quan phải gắn bó chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau để soi sáng những
vấn đề cần giải quyết.
1.1.2. Vai trò của phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học
Chế Lan Viên, một nhà thơ rất thành cơng trong lĩnh vực phê bình, nghiên cứu văn học, từng
khẳng định nhà phê bình là kẻ thất bại trong sáng tác. Bàn về phê bình, Nguyễn Quang Sáng cũng
đưa ra nhận xét: “Viết khơng viết, vẽ khơng vẽ, chỉ có khen với chê cũng làm khơng đúng” [16].
Cho đến nay vẫn còn nhiều người nghĩ rằng phê bình, nghiên cứu văn học là một thể loại dễ
viết. Chỉ cần lược lại nội dung tác phẩm rồi nêu ra một ít cảm nhận của bản thân hoặc đơi ba dòng
nhận xét chỗ này hay, chỗ kia dở là chúng ta có ngay một bài phê bình. Quả là một suy nghĩ sai lầm.
Nhiều nhà phê bình chân chính đã cực lực phản đối suy nghĩ đó. Thực tế cho thấy phê bình là một
công việc khó khăn. Muốn thành công, nhà phê bình phải có trực giác bén nhạy, vốn kiến thức uyên
bác ở nhiều lĩnh vực và đặc biệt là một phương pháp phê bình khoa học.
Thật vậy, phê bình mà không có phương pháp khoa học sẽ chỉ là những cảm xúc vụn vặt, trực
tiếp, tức thời, mang nặng ấn tượng chủ quan, từ đó dễ dẫn đến những nhận định mang tính áp đặt,
quy chụp, suy diễn. Điều này có thể được chứng minh cụ thể bằng thực tiễn phê bình văn học nước
ta. Vào thời trung đại, khi cách nghiên cứu tác phẩm mới chỉ dừng lại ở việc trình bày những cảm
nhận, những lời bình giải chung chung thì rõ ràng là phê bình văn học kém phát triển, nó hoàn toàn
không thể xem là sự luận giải về mình của văn học. Và dĩ nhiên nó cũng không đảm nhiệm được
chức năng chiếc cầu nối trung gian giữa tác giả và công chúng, giữa tác phẩm và người đọc.
Chân lý của khoa học thường đạt được nhờ sự nỗ lực vận dụng các phương pháp tiếp cận của
giới khoa học. Phải khẳng định rằng sự phát triển của một bộ môn khoa học phụ thuộc rất nhiều vào
trong một công trình khoa học cụ thể, và sự phân cấp chính – phụ đó phụ thuộc vào mục đích, đối
tượng và tính chất của công trình nghiên cứu. Một phương pháp khi được áp dụng cho công trình
nghiên cứu này có thể là phương pháp chính nhưng khi được áp dụng cho một công trình khác nó
lại là phương pháp phụ. Dĩ nhiên phụ ở đây có nghĩa là phụ trợ chứ không phải là kém giá trị hơn.
Một nhà phê bình không nhất thiết phải trung thành với một phương pháp, nhưng sự chuyên
chú vào một phương pháp có thể giúp nhà phê bình tạo được dấu ấn trong lịch sử văn học (ví dụ
như Hải Triều với phê bình xã hội học mácxít, Trần Đình Sử với thi pháp học, Đỗ Lai Thúy với văn
hóa học…). Ngày nay, chúng ta không khuyến khích sự độc tôn của phương pháp phê bình nhưng
vẫn rất cần sự chuyên sâu về phương pháp.
1.2. NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÊ BÌNH,
NGHIÊN CỨU VĂN HỌC Ở VIỆT NAM
Để thấy rõ sự phát triển của các phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học ở Việt Nam,
chúng ta không thể không nhắc qua sự phát triển của nền lý luận, phê bình Việt Nam nói chung. Vì
vậy, trong phần này, người viết sẽ điểm sơ nét về lịch sử phát triển của lý luận, phê bình văn học
Việt Nam nhằm làm bật lên sự xuất hiện và phát triển của các phương pháp phê bình, nghiên cứu
văn học. Qua đó, chúng ta sẽ có cái nhìn toàn diện, khách quan khi đánh giá về những đóng góp nổi
bật của giai đoạn 1930 – 1945 trong dòng chảy của lý luận, phê bình văn học ở Việt Nam.
1.2.1. Trước XX
Phê bình văn học ở Việt Nam, xét như một hoạt động chuyên ngành, là một thể loại trước đây
chưa từng có. Nó hoàn toàn là con đẻ của sự hiện đại hóa văn học thế kỷ XX. Tuy vậy, phê bình
không phải là một sản phẩm ngoại nhập, thuần túy của phương Tây. Nó đã có những mầm mống
đầu tiên từ nhiều thế kỉ trước.
Ngay từ thế kỉ XIV, XV, công việc ghi chép, biên soạn, sưu tầm, bổ sung những truyền thuyết,
những truyện ngụ ngôn trong dân gian… đã được ông cha ta chú trọng. Những thuật ngữ như phê
văn hay bình thơ thực ra không xa lạ gì với các nhà nho xưa – những tác giả chủ yếu của nền văn
học trung đại Việt Nam. Mỗi thi tập, văn tập ra đời đều kèm theo lời đề tựa của đôi ba người bạn
thân và nhiều lúc là lời bạt của chính tác giả. Trong chốn thư phòng yên tĩnh, những khi ngâm vịnh
xướng họa, cha ông ta hẳn cũng có sự khen chê, bình giải của riêng mình về những tác phẩm quá
khứ hay đương thời. Các cụ cũng trao đổi thư từ, đọc và suy nghĩ về văn thơ một cách say mê. Chỉ
riêng Đoạn trường tân thanh đã làm tốn giấy mực của biết bao nhà nho và có hẳn một cuộc thi Vịnh
Một lý do khác giải thích cho sự kém phát triển của thể loại phê bình văn học ở nước ta là
quan niệm của người xưa về văn học. “Thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo” – mục đích của người sáng
tác chủ yếu nhằm biểu dương những tình trung hiếu tiết nghĩa và bảo vệ, duy trì luân lý, đạo đức. Vì
lẽ đó, phê bình văn chương với họ không dựa vào sự cảm thụ nghệ thuật mà chủ yếu dựa trên nền
tảng luân lý đã được thấm nhuần. Nhà nho yêu ghét nhiều khi không căn cứ vào văn bản mà chỉ xét
nhân thân của chủ thể sáng tác. Phạm Thái phê bình bài Tụng Tây Hồ phú của Nguyễn Huy Lượng
chẳng qua vì “Xưa hắn làm tôi triều Lê, nay ra làm Ngụy lại còn tụng Tây Hồ mà chẳng thẹn mặt!
Ghét đứa nịnh làm sao!”. Nguyễn Công Trứ – một nhà nho tài hoa – đứng trên quan điểm phong
kiến cũng không khỏi nặng lời với Kiều: “Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm”
Lối phê bình chỉ dừng ở mức giới thiệu chung chung hoặc đưa ra một vài ý kiến diễn tả ấn
tượng, sự đồng điệu của mình với tác phẩm rồi đề cập đến đôi nét nghệ thuật như vậy được xem là
phê bình trực giác (không nên hiểu là nó đồng nhất hoàn toàn với phương pháp trực giác trong phê
bình Âu Tây), chủ yếu dựa vào cảm nhận cá nhân, không sử dụng đến những thao tác khoa học,
không phân tích bằng lí trí. Kiểu phê bình này chỉ giới thiệu cho người đọc những ấn tượng chủ
quan, sơ sài về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm cũng như phong cách tác giả chứ chưa đi sâu
vào việc nghiên cứu các nguồn ảnh hưởng và các yếu tố cấu thành tác phẩm. Từ đặc điểm đó, ta có
thể kết luận rằng phê bình văn học trung đại Việt Nam hầu như chưa có phương pháp, hoặc nếu cố
gắng gạn lại để khái quát thì có thể gọi đó là phương pháp trực giác có tính chất chủ quan và giáo
điều.
1.2.2. Từ đầu XX đến 1930
Những năm cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, phong trào Cần vương và những cuộc chiến đấu
của các văn thân đều lần lượt thất bại. Thực dân Pháp sau khi ổn định xong chế độ cai trị của chúng
đã quyết định thay đổi giáo dục, phế bỏ Hán học, truyền bá chữ quốc ngữ. Văn hóa Việt Nam dần
dần thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa phong kiến Trung Hoa, bắt đầu mở rộng tiếp xúc với văn hóa
phương Tây mà chủ yếu là văn hóa Pháp. Luồng văn hóa mới thông qua tầng lớp trí thức Tây học
(phần lớn là tiểu tư sản) ngày càng thấm sâu vào ý thức và tâm hồn người cầm bút cũng như người
đọc sách. Nó mang lại cho lớp trí thức trẻ ấy óc suy xét khách quan, lối làm việc khoa học và thói
quen độc lập trong tư duy.
Văn học nói chung và phê bình, nghiên cứu văn học nói riêng vì thế cũng
phẩm, ông dịch tiểu thuyết Vương Thúy Kiều của Dư Hoài trong bộ Ngu sơ tân chí để đối chiếu;
nghiên cứu tiểu sử Nguyễn Du, ông dịch lại đoạn viết về nhà thơ này trong Đại Nam liệt truyện)
nhưng bài viết vẫn chưa vượt qua được lối phê bình cũ. Chủ yếu ông vẫn dựa vào những khái niệm
truyền thống: lời, ý, cách tạo dựng hoàn cảnh Trực giác của ông không thật sự nhạy bén trong khi
cách vận dụng kĩ thuật phê bình của phương Tây lại chưa thuần thục.
Từ sau bài viết trên, phong trào đọc lại Truyện Kiều bắt đầu xuất hiện, thu hút nhiều cây bút ở
cả hai khuynh hướng cũ và mới: Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Trọng Thuật, Vũ Đình Long, Nguyễn
Tường Tam… Đáng chú ý có loạt bài của Vũ Đình Long đăng liên tiếp trên 8 số báo Nam phong:
Nhân vật Truyện Kiều (số 68, 69, 70), Triết lý và luân lý Truyện Kiều (số 71), Văn chương Truyện
Kiều (số 81, 83, 85, 87, 1924). Ở loạt bài này, Vũ Đình Long đã bám sát vào các chi tiết trong
truyện mà phân tích luận bàn để từ đó nhận ra cái hay của Truyện Kiều không dừng ở “lời văn đẹp,
câu thơ dài” mà quan trọng hơn là tài sáng tạo nhân vật và cách dựng truyện của Nguyễn Du. Có
thể nói Vũ Đình Long đã phân tích Truyện Kiều một cách khá toàn diện, ông đề cập đến cả văn tự
sự, văn tả người, văn tả tình, văn tả cảnh. Đây là một dấu hiệu cho thấy bước tiến của khoa phê
bình, nghiên cứu văn học ở nước ta.
Đến năm 1924, sau những lời đại ngôn của Phạm Quỳnh về vị trí của Truyện Kiều đối với sự
tồn vong của dân tộc, của tiếng Việt, cuộc tranh luận về tác phẩm này đã thực sự nổ ra giữa một bên
là Phạm Quỳnh và một bên là các nhà chí sĩ yêu nước: Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng.
Kéo dài trong 10 năm, cuộc tranh luận thực sự đã vượt ra ngoài tính chất phê bình một tác
phẩm văn học, thậm chí không còn nằm trong phạm vi thuần túy văn học bởi vì cả hai xu hướng
ngay từ đầu đã xuất phát từ những động cơ ngoài văn học để đánh giá Truyện Kiều. Tuy nhiên vẫn
xuất hiện những ý kiến phê bình khởi nguồn từ cảm hứng thật sự với bản thân tác phẩm. Cuộc tranh
luận đã cho thấy quan điểm, cách thức nghiên cứu, phê bình văn học của nhiều nhà phê bình đương
thời với hai xu hướng rõ rệt: xu hướng sử dụng những phương pháp, kĩ thuật phương Tây để phân
tích văn học, nhận xét nó trên cả hai phương diện nội dung – hình thức và xu hướng khen chê, bình
giá dựa trên lập trường đạo đức phong kiến.
Đại diện cho xu hướng thứ hai là Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng. Đứng trên lập trường
dân tộc, yêu nước của một nhà Nho chân chính, Ngô Đức Kế phê phán Truyện Kiều hết sức kịch
liệt. Ông cho rằng hành động gặp gỡ nhau giữa Kim – Kiều là bất chính, người đọc Kiều là kẻ đàng
điếm, học Kiều là “học cái lối thơ phú ca ngâm” khiến “người ngu nước yếu” [18, tr.261-262], .…
thích cho nghiệp chính trị, nghiệp võ và nghiệp văn của vị danh nhân này song chất phê bình của
cuốn sách còn nhạt. Cùng lắm, nó chỉ là mầm mống của xu hướng phê bình tiểu sử mà sau này Trần
Thanh Mại đã áp dụng.
Tóm lại, trong quá trình chuyển từ phương thức tư duy và phân tích văn học mang tính chất
phương Đông sang phương thức tư duy và phân tích văn học mang tính chất phương Tây, giai đoạn
từ đầu XX đến 1930 là giai đoạn mang tính bản lề. Đây là giai đoạn chuyển mình, chuẩn bị cho sự
trưởng thành nhảy vọt của lý luận, phê bình văn học Việt Nam giai đoạn sau.
1.2.3. Từ 1930 đến 1945
Trong tiến trình hiện đại hóa, phê bình văn học Việt Nam đã trưởng thành bằng việc tiếp thu,
tự giác hoặc không tự giác, các tư tưởng phê bình của văn học phương Tây được kết tinh trong lý
thuyết và được cụ thể hóa trong phương pháp. Nó tự khu biệt và tách biệt dần với hoạt động sáng
tác để trở thành một bộ môn riêng với đối tượng, chức năng và đặc trưng riêng.
Thời kỳ 1930 – 1945 là thời kỳ phê bình, nghiên cứu văn học ở nước ta tiến những bước dài
mạnh mẽ bằng đôi hia bảy dặm để thực sự đóng một vai trò quan trọng trong đời sống văn học. Đội
ngũ phê bình đông dần lên. Những quan niệm mới về đặc trưng và bản chất xã hội, lịch sử của văn
học đã xuất hiện. Nhiều phương pháp nghiên cứu, phê bình văn học cũng ra đời. Nhiều cuộc bút
chiến nổ ra sôi nổi. Các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình đều muốn thể hiện thái độ, quan niệm, của
mình về cuộc sống, con người và văn chương. Thông qua báo chí, họ bày tỏ lập trường, tranh luận ý
thức hệ, thậm chí hạ bệ, bôi nhọ nhau nhằm lôi kéo độc giả. Những mục Điểm sách, Đọc sách mới,
Tin sách, Phê bình sách mới được in thường kỳ trên các báo Phụ nữ tân văn, Phong hóa, Loa,
Thanh nghị, Tri tân, Hà Nội báo… Nhờ vậy mà không khí văn học trở nên sôi nổi, thu hút sự quan
tâm của quần chúng và kích thích sáng tác phát triển. Có thể nói chưa bao giờ hoạt động nghiên
cứu, phê bình lại hào hứng như những năm này. Phê bình đã tự tạo ra một môi trường văn học cần
thiết để đổi mới mình và do đó tác động mạnh mẽ đến việc đổi mới các thể loại khác như tiểu
thuyết, thơ, kịch. Chính sự hình thành và phát triển rực rỡ của phê bình đã dẫn đến sự xuất hiện của
hàng loạt tác giả tên tuổi, hàng loạt tác phẩm có giá trị và nhiều cuộc tranh luận học thuật đáng chú
ý.
Trước tiên phải nói đến cuộc tranh luận dai dẳng và không kém phần quyết liệt giữa thơ cũ và
thơ mới. Đó thật sự là một cuộc cách mạng trong thi ca như Hoài Thanh nhận định. Nó âm ỉ từ rất
lâu, tận những năm 1917, khi Phạm Quỳnh chê niêm luật thơ Tàu làm cho tiếng nói của con tim mất
một bên là Hải Triều, Hồ Xanh, Phan Văn Hùm… và một bên là Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Lê
Tràng Kiều, Phan Văn Dật… Đây là cuộc tranh luận đầu tiên đi vào những vấn đề lý luận văn học,
cụ thể nó đã bàn đến nguồn gốc, bản chất và quy luật phát triển của văn học, phản ánh luận với văn
học, chức năng của văn học, tính đặc trưng và tính giai cấp của văn học… Ngoài ra nó cũng đề cập
đến phương pháp sáng tác tả chân chủ nghĩa và tả thực xã hội; nội dung, hình thức và nhân vật trong
tác phẩm văn học.
Trước đây, khi nhìn lại cuộc tranh luận này, các ý kiến đều mặc nhiên thừa nhận thắng lợi của
phe “nghệ thuật vị nhân sinh”, đồng thời không tiếc lời phê phán phe ”nghệ thuật vị nghệ thuật”. Sự
thực thì quan niệm của cả hai phe đều có những mặt hợp lý và bất hợp lý của nó. Khách quan mà
nói khuynh hướng nghệ thuật vị nhân sinh mà Hải Triều là đại biểu đã trình bày rất bài bản, lập luận
rất vững vàng và dẫn chứng khá đắt về những vấn đề văn học. Bằng lòng nhiệt tình hăng say và
giọng văn bút chiến sắc sảo, Hải Triều thành công trong việc đặt những viên gạch đầu tiên cho việc
xây dựng một hệ thống lý luận mácxít sau Cách mạng tháng Tám. Nhược điểm của ông là còn giản
đơn khi nhìn nhận về nghệ thuật. Ông chưa thấy hết tính thẩm mỹ chính là yêu cầu sống còn đối với
một tác phẩm văn chương. Vì vậy nhiều khi ông nhìn văn học đơn thuần chỉ ở cặp phạm trù có ích
và không có ích.
Khuynh hướng nghệ thuật vị nghệ thuật mà Hoài Thanh là đại diện tiêu biểu chưa có một hệ
thống lý luận chặt chẽ, rõ ràng như khuynh hướng vị nhân sinh, các phát biểu của những nhà phê
bình theo khuynh hướng này nhìn chung còn rời rạc, lẻ tẻ, cảm tính. Song bù lại, họ là những người
hoạt động văn học khá lâu nên rất nhạy cảm với những vấn đề thuộc về quy luật phát triển của văn
học, vì thế họ muốn việc nghiên cứu văn học phải bắt đầu từ góc độ bản thể, nói cách khác khi
thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật “phải chú ý đến cái đẹp trước khi chú ý đến những tính cách
phụ, những hình thức tạm thời của nó” [59, tr.33]. Cần lưu ý trong toàn bộ các bài tranh luận và cả
những bài viết sau đó, Hoài Thanh đều nhấn mạnh chủ thuyết của ông phải mang tên “văn chương
là văn chương” chứ không phải “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Nghĩa là ông đề cao những “mục đích tự
thân” của văn học nhưng không hề chủ trương “đoạn tuyệt giữa cái đẹp và cái có ích” như
Théophine Gautier trong văn học sử nước Pháp [98, tr. 58-59].
Hai cách quan niệm khác nhau về văn học lẽ dĩ nhiên sẽ dẫn đến hai cách nghiên cứu, phê bình
tác phẩm khác nhau. Nếu Hải Triều và những nhà văn cùng chí hướng với ông cho rằng chỉ văn học
hiện thực mới là đồng minh, trợ thủ của cách mạng còn văn học lãng mạn với tất cả các khuynh
đổi mới, hoàn thiện mình thông qua tranh luận. Chính không khí tranh luận hào hứng, sôi nổi đã
làm nên bộ mặt đặc biệt của phê bình văn học giai đoạn 1930 – 1945. Nhờ đó, ở nước ta đã xuất
hiện một đội ngũ phê bình đông đảo và đầy tài năng. Đội ngũ này không chỉ phong phú về lượng,
ưu tú về chất mà còn rất đa dạng về các mặt trường phái, khuynh hướng, phương pháp, phong cách.
Trước tiên ta có thể chia các nhà phê bình thời kỳ này làm hai nhóm. Nhóm một gồm Hải
Triều, Đặng Thai Mai, Hồ Xanh, Hải Khách, Phan Văn Hùm… Đây là những nhà phê bình theo
quan điểm mácxít. Nhóm hai gồm hầu hết những tên tuổi sáng giá của nền phê bình đương thời: Vũ
Ngọc Phan, Hoài Thanh, Trương Chính, Ngô Tất Tố, Thế Lữ, Xuân Diệu, Vũ Trọng Phụng… Đây
là những nhà phê bình theo quan điểm ý thức hệ tư sản.
Các nhà phê bình nhóm một vừa kế thừa quan niệm văn học truyền thống Việt Nam vừa tiếp
thu và truyền bá hệ tư tưởng mácxít. Tư tưởng mácxít được giới thiệu ở Việt Nam từ đầu những
năm 30 của thế kỉ XX trong một số bài báo của Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu và Hải Triều, nhưng
để xuất hiện với tư cách là một kiểu phê bình thì phải đến cuộc tranh luận nghệ thuật 1935 – 1939
mà Hải Triều là người khởi xướng. Cái lõi của tinh thần phê bình mácxít đã bước đầu thể hiện trong
các bài viết của Hải Triều và được phát triển lên một bước khá rõ với Đặng Thai Mai vào cuối giai
đoạn.
Nhìn chung các nhà mácxít lấy ba phạm trù hiện thực tính, giai cấp tính và nội dung tính làm
cơ sở chính để phân tích sáng tác văn học. Theo đó, họ coi văn học là tấm gương phản ánh thực tại,
là vũ khí đấu tranh giai cấp và công cụ phục vụ cách mạng. Họ yêu cầu văn học phải gắn liền với
đời sống, có chức năng giáo dục, cảm hóa con người và cải tạo xã hội. Họ khẳng định nội dung là
cái thứ nhất, quyết định hình thức, hình thức thể hiện nội dung song bản thân nó cũng có tính độc
lập tương đối. Họ nêu rõ quan điểm nghệ thuật vô sản, cho rằng văn học phải hướng về nhân dân
lao động và nhờ vậy, họ đã góp phần giải thoát sự bế tắc cho những văn nghệ sĩ lúc ấy, đồng thời
tập hợp được một số nhà văn ưu tú, có tài có tâm, để đảm trách những nhiệm vụ cách mạng giao
phó.
Tuy nhiên tình hình xã hội đương thời chưa tạo ra những tiền đề thuận lợi cho sự thâm nhập
của quan điểm mácxít. Hơn nữa, việc vận dụng quan điểm vào thực tiễn ở giai đoạn đầu không
tránh khỏi những khó khăn, bỡ ngỡ. Trừ một vài bài báo của Phan Văn Hùm, Minh Tước, K&T…,
các nhà phê bình mác xít đều chưa có điều kiện đi sâu vào phân tích những tác phẩm văn học cụ thể.
Phê bình mác xít lúc bấy giờ mới chỉ ở dạng lý luận, phê bình tổng quát dựa trên nền tảng của triết
nghĩa của văn học so sánh hiện đại, Hoài Thanh đã chú ý đến đối tượng thứ nhất (các mối quan hệ
trực tiếp) của bộ môn này. Nhìn chung ở giai đoạn 1930 – 1945, các nhà nghiên cứu văn học đều có
khuynh hướng đi tìm những điểm giống nhau giữa văn học Việt Nam với văn học Pháp và văn học