Sinh viên: Phan Thị Nga Lớp: Thống kê 47A
Lời mở đầu
Huyện Nghi Xuân từ xưa đến nay là vùng văn hóa tiêu biểu của xứ Nghệ, là một
huyện có đủ các điều kiện thuận lợi, một số tiềm năng lớn chưa khai thác được. Với
vị trí địa lý thuận lợi, huyện Nghi Xuân đang dần dần phát huy các thế mạnh của
mình, tổ chức khai thác một cách có hiệu quả.
Hiện nay, phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh đang
là một trong những mục tiêu lớn của huyện. Nó có tác động mạnh nhất đến sự phát
triển kinh tế, góp phần giảm tỉ lệ thất nghiệp, tăng năng suất lao động, nâng cao trình
độ khoa học công nghệ. Những năm gần đây công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
ngoài quốc doanh có hướng chuyển biến rõ rệt. Xuất phát từ thực tiễn đó, được sự
hướng dẫn nhiệt tình của PGS.TS. Trần Thị Kim Thu cùng với sự giúp đỡ của các cô,
chú, anh, chị phòng thống kê huyện Nghi Xuân-Hà Tĩnh, em quyết định chọn đề tài:
“Nghiên cứu thống kê tình hình phát triển Công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp ngoài
quốc doanh huyện Nghi Xuân-Hà Tĩnh giai đoạn 2002-2008 và dự đoán đến năm
2010”
Mục đích nghiên cứu của đề tài là kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để đánh giá
tình hình phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn
huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất giải pháp
nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành này.
Nội dung nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương I: Khái quát chung về huyện Nghi Xuân – Hà Tĩnh và ngành công
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh của huyện
Chương II: Một số chỉ tiêu và phương pháp thống kê nghiên cứu tình hình
phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh huyện Nghi Xuân
– Hà Tĩnh
Chương III: Vận dụng các phương pháp thống kê nghiên cứu tình hình
sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh của huyện
Nghi Xuân – Hà Tĩnh
Sinh viên: Phan Thị Nga Lớp: Thống kê 47A
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN NGHI XUÂN-HÀ TĨNH
ngàn dân, Thị xã Hồng Lĩnh nối liền đường 8B sang nước bạn Lào xuống cảng Xuân
Hải, có 32 km bờ biển, 20 km đường sông bao quanh, dãy núi Hồng Lĩnh 32 km bao
quanh về phía tây, tạo nên thế núi, sông, biển hữu tình, có sức thu hút đầu tư hấp dẫn.
Nghi Xuân với diện tích 219 km
2
, trong đó: núi rừng chiếm 8938 ha, sông ngòi
khe suối chiếm 536 ha, bãi cát ven biển chiếm 700 ha, đất trồng phi lao chiếm 1700
ha, bãi bồi ven sông chiếm 178 ha, ruộng đất chưa khai phá chiếm 2388 ha, diện tích
không sản xuất được chiếm 808 ha, diện tích trồng trọt chỉ có 6584 ha.
Về tài nguyên, Nghi Xuân có đủ nông, lâm, hải sản, ruộng đất nhiều vùng màu
mỡ, trồng đủ các loại lúa, khoai, ngô, đậu, … Dừa Xuân Song, hồng Xuân Tiên, là
những đặc sản có tiếng của huyện.
Nghi xuân có sông Lam bao bọc phía bắc, chảy xuống cửa Hội dài 31 km, ngày
đêm tàu thuyền qua lại tấp nập, rất thuận tiện cho việc giao lưu hàng hóa. Dãy Hồng
Lĩnh án ngự phía nam như một bức trường thành. Nghi Xuân lại có tám cảnh đẹp
(Nghi Xuân bát cảnh) được ghi vào sử sách. I.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Nghi Xuân có núi, sông, biển, đồng bằng ven biển nên nền kinh tế Nghi Xuân
phát triển hết sức đa dạng, nhưng trong đó ngành nông nghiệp và ngư nghiệp vẫn là
Sinh viên: Phan Thị Nga Lớp: Thống kê 47A
hai ngành chủ đạo. Hàng năm giá trị tổng sản lượng toàn huyện (kể cả hai khu vực sản
xuất vật chất và khu vực không sản xuất vật chất) đạt từ 250 tỉ đồng – 300 tỉ đồng. Sản
lượng lương thực đạt từ 15 – 18 ngàn tấn, tổng thu nhập hàng năm đạt 150 tỉ đồng –
180 tỉ đồng. Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm 6,5% – 8%. Thu nhập bình quân
đầu người trong năm đạt 1,5 -1,8 triệu đồng. Thu ngân sách tại địa bàn đạt bình quân 3
-3,5 tỉ đồng trong năm.
Năm 2008, tuy phải đối mặt những thiệt hại do thời tiết gây ra, kinh tế đã gặp
phải không ít khó khăn. Song với tình thần đoàn kết nhất trí cao cùng với sự hỗ trợ kịp
cấu kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho hàng ngàn
lao động.
Bên cạnh đó, thương mại – dịch vụ cũng có những bước tiến vượt bậc. Chợ nông
thôn tiếp tục được quan tâm đầu tư, mở rộng, thu hút hơn 2,5 hộ và trên 3,6 lao động
tham gia kinh doanh thương nghiệp. Các loại hình dịch vụ tiếp tục được hình thành và
phát triển. Tập trung vào các lĩnh vực: vận tải, xây dựng, văn hoá, thông tin, sửa
chữa Tạo cơ hội và giải quyết việc làm cho nhiều lao động; Tăng cường kiểm tra giá
cả thị trường, chống buôn lậu, gian lận thương mại, việc chấp hành luật pháp của các
cơ sở kinh doanh.
Nghi Xuân có bãi biển Xuân Thành là điểm di lịch lý tưởng cho du khách vào
những ngày nghỉ, là địa phương có thắng cảnh cũng như nhiều khu di tích lịch sử như
mộ Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ thu hút đông đảo du khách đến tham quan, du
lịch. Vì thế, du lịch trên địa bàn có điều kiện phát triển. Huyện đang tích cực thu hút
đầu tư xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng đáp ứng các dịch vụ cho du khách. Các di tích,
danh thắng tiếp tục được đầu tư, tôn tạo, gắn du lịch biển với du lịch văn hoá thu hút
một nguồn ngân sách lớn cho huyện nhà.
Để tạo đà cho phát triển, Nghi Xuân tích cực đầu tư cho xây dựng cơ bản, ưu tiên
cho các dự án đầu tư trọng điểm của huyện với tổng mức đầu tư từ ngân sách và các
nguồn vốn khác trị giá 530 tỷ đồng. Không ngừng đầu tư cho xây dựng giao thông
nông thôn, y tế, trường học và các công trình phúc lợi xã hội khác.
Các hoạt động văn hoá – xã hội - thể dục thể thao luôn được chú trọng tổ chức;
nghiêm túc thực hiện các cuộc thi đua và các cuộc vận động như "Học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Quan tâm đúng mức tới công tác bảo tồn, giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Đặc biệt, huyện đã hoàn thành 13 hồ sơ đề nghị
ủy ban nhân dân tỉnh công nhận 8 di tích lịch sử, văn hoá; chỉ đạo các đơn vị tổ chức
đón nhận Bằng công nhận các di tích lịch sử, văn hoá cấp tỉnh. Đẩy mạnh phong trào
Sinh viên: Phan Thị Nga Lớp: Thống kê 47A
toàn dân xây dựng lối sống văn hoá Lĩnh vực giáo dục trên địa bàn huyện cũng
không ngừng gặt hái thành công.
Công tác y tế, dân số kế hoạch hóa gia đình cũng được đẩy mạnh. Thành công
Sinh viên: Phan Thị Nga Lớp: Thống kê 47A
Công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh phát triển góp phần quan
trọng trong việc tạo tiền đề cơ sở vật chất kỹ thuật cho các hoạt động kinh tế-xã hội
Điều này là hiển nhiên và phù hợp với nguyên lý chung về phát triển kinh tế. Các
sản phẩm công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp ngoài phục vụ cho những muc tiêu của
chính phủ cũng như tiêu dùng cá nhân thì một phần lớn các sản phẩm kỹ thuật cơ bản
máy móc thiết bị kỹ thuật được dùng để trang bị cho các hoạt động kinh tế xã hội
khác. Ngoài những tác động có tính trực tiếp đến các hoạt động kinh tế xã hội, những
tác động gián tiếp của sự phát triển CN-TTCN NQD nhìn chung khó có thể lượng hóa
được. Với sự hỗ trợ của công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, nhiều ngành kinh tế phát
triển đã tạo ra việc làm và thu nhập, nâng cao đời sống của người lao động.
Công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh phát triển tạo động lực
thúc đẩy các ngành khác phát triển
Ngược với việc trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật và cung cấp vật tư kỹ thuật cho
các hoạt động kinh tế-xã hội, sự phát triển của CN-TTCN NQD còn có tác dụng lôi
kéo các hoạt động kinh tế-xã hội phát triển. Trước hết, công nghiệp-tiểu thủ công
nghiệp là nơi tiêu thụ các sản phẩm từ một số ngành kinh tế khác. Thứ hai, CN-TTCN
NQD phát triển tào nhiều cơ hội việc làm cho đông đảo người lao động. Thứ ba, sự
phát triển của CN-TTCN NQD sẽ làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt của huyện. Thứ
tư, với một chiến lược phát triển CN-TTCN NQD hợp lý sẽ góp phần giảm bớt sự
khác biệt giữa các khu vực dân cư trong huyện.
Sinh viên: Phan Thị Nga Lớp: Thống kê 47A
1.2.2. Thực trạng phát triển công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc
doanh huyện Nghi Xuân-Hà Tĩnh
Về công nghiệp ngoài quốc doanh huyện Nghi Xuân-Hà Tĩnh
Những năm qua, nhờ có những bước đi thích hợp, Nghi Xuân đã biến các mục
tiêu của mình trở thành hiện thực. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng với tốc độ bình quân
đạt 12,8%. Trong năm 2007, giá trị sản xuất công nghiệp xấp xỉ đạt 153,376 tỷ đồng,
chiếm tỷ trọng 20% trong tổng giá trị sản xuất. Riêng công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp địa phương giá trị sản xuất ước đạt 90 tỷ đồng, đạt 101% kế hoạch, tăng 22%
dồi dào, nhu cầu làm việc rất cao, bên cạnh đó, nhiều năm qua, Nghi Xuân đã làm rất
tốt công tác cải cách hành chính, do đó, đã tạo hành lang pháp lý thông thoáng, cơ sở
hạ tầng thuận lợi, nên thực sự đã trở thành một điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư.
Vì vậy, một khu công nghiệp hiện đại và đóng góp đáng kể những thành tựu cho kinh
tế Nghi Xuân là cái đích mà khu công nghiệp Gia Lách đang hướng tới.
Với điều kiện thế mạnh như vùng kinh tế Xuân An rất phù hợp để phát triển
công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh .
Thị trấn Xuân An lợi thế về giao thông có đường quốc lộ 1A chạy qua với chiểu dài
2km qua cầu Bến Thủy sang thành Vinh. Đường 8B nối cửa khẩu Cầu treo (qua Lào)
chạy qua Thị trấn nối cảng Xuân Hải. Giao nhau của tỉnh lộ, đường 8B, quốc lộ 1A tạo
ngã ba ngay sát khu công nghiệp. Sông Lam chạy qua Thị trấn cách khu công nghiệp
500m về phía bắc, với bến cảng sông thuận tiện cho vận tải đường sông, nối cảng biển
chưa đầy 10km về phía đông bắc (có quy hoạch kèm theo). Mặt bằng, đất đai bằng
phẳng: Diện tích kéo dài theo chân núi Hồng Lĩnh vào xã Xuân Viên, Xuân Lĩnh có
diện tích trên 400ha chưa có dân cư, đang canh tác có thể quy hoạch mở rộng cho khu
công nghiệp. Gần bến ga xe lửa, sân bay: Trung tâm khu công nghiệp chỉ cách sân bay
Vinh và ga xe lửa Vinh chưa đầy 7km về phía bắc. Gần thị trường tiêu thụ: Thành phố
Vinh, thị xã Hồng Lĩnh đang được mở rộng, phía nam cầu Bến Thủy. Ủy ban nhân dân
tỉnh đã có quyết định quy hoạch xây dựng khu đô thị với diện tích 30ha, với phương
thức đổi đất lấy cơ sở hạ tầng. Do vậy dân số trong tương lai phát triển lớn là thị
trường tiêu thụ sản phẩm thuận lợi. Hệ thống điện đã được đầu tư bảo đảm cho sản
xuất và sinh hoạt. Nhà máy nước với công suất 6000m
3
/ngày đêm, đang được triển
khai xây dựng. Nguồn lao động trên địa bàn đang dồi dào, đủ đáp ứng cho nhu cầu sản
xuất của khu công nghiệp.
Thực hiện Công văn số 328/UBND-XD ngày 9/2/2007 của ủy ban nhân dân tỉnh
Hà Tĩnh, thời gian qua, huyện Nghi Xuân và các ban ngành liên quan đã tổ chức xem
Sinh viên: Phan Thị Nga Lớp: Thống kê 47A
xét, khảo sát thực địa và thống nhất cao về việc chuyển khu công nghiệp Gia Lách với
Đá phục vụ cho xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng dồi dào.
Nguồn cát vàng tại Xuân Liên, cát xây, cát đổ dồi dào trên dọc sông Lam
Sinh viên: Phan Thị Nga Lớp: Thống kê 47A
Khoáng sản Ti tan ở Xuân Liên, Cương Gián
Nguồn khoáng sản Ti tan ở 2 xã này đã được khảo sát có chất lượng tốt và có
trữ lượng lớn.
Thủy hải sản dọc ven biển cả đánh bắt, nuôi trồng có thể đáp ứng qua cảng
cá Xuân Phổ đủ cho sản xuất công nghiệp chế biến các hải sản xuất khẩu như tôm,
mực, cua, rong, tảo biển và các loại cá có chất lượng cao, …
Về tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh huyện Nghi Xuân-Hà Tĩnh
Trong những năm trước đây Nghi Xuân là huyện có nghề truyền thống xuất
khẩu hang thảm len, thảm đay với nhiểu cơ sở sản xuất nổi tiếng như xí nghiệp 22-12,
xí nghiệp 19-5 tại Xuân Hội. Do thị trường Đông âu biến động nên khâu tiêu thụ bị
đình trệ đến nay cơ sở sản xuất phải đóng cửa. Năm 2002 sản phẩm chủ yếu của ngành
tiểu thủ công nghiệp tập trung vào các mặt hàng sau: Sản xuất vật liệu xây dựng hàng
năm có sản lượng như sau: Đá, cát, sỏi: 100.000m
3
; Gạch nung: 25.000.000 viên; Ngói
ép: 160.000 viên; Chiếu cói: 120.000m
2
; Chế biến nước mắm: 500.000 lít; Chế biến
hải sản khác: 60.000 tấn; Sản xuất cánh cửa sắt dân dụng: 4.000 m
2
; Xẻ gỗ, sản xuất
đồ mộc: 5.000 m
2
; Sản xuất muối ăn: 300 tấn và một số mặt hàng dân dụng thiết yếu
khác.
1.2.3. Định hướng phát triển công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc
doanh huyện Nghi Xuân-Hà Tĩnh
- Số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc
doanh
Số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh
huyện Nghi Xuân là số cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp được ghi
tên vào danh sách cơ sở sản xuất của doanh nghiệp ngoài quốc doanh, do doanh
nghiệp trực thuộc ghi tên vào danh sách cơ sở lao động của doanh nghiệp, do doanh
nghiệp trực tiếp quản lý
- Số lượng lao động sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc
doanh
Số lượng lao động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc
doanh là những người lao động đã được ghi tên vào danh sách lao động của doanh
nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc
doanh; do các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đó trực tiếp quản lý sử dụng
sức lao động và trả lương.
2.1.2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất công nghiệp-tiểu thủ
công nghiệp ngoài quốc doanh huyện Nghi Xuân-Hà Tĩnh giai đoạn 2002-2008
2.1.2.1. Khối lượng sản phẩm công nghiệp-thủ công nghiệp ngoài quốc
doanh huyện Nghi Xuân-Hà Tĩnh
Khái niệm: Khối lượng sản phẩm hiện vật công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp ngoài
quốc doanh huyện Nghi Xuân-Hà Tĩnh là tổng số sản phẩm của từng mặt hàng do các
bộ phận sản xuất của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đó tạo ra trong một năm
Ý nghĩa: Khối lượng sản phẩm công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh là
kết quả sản xuất của từng mặt hàng sản phẩm phản ánh khối lượng giá trị sử dụng của
nó, được dùng làm cơ sở để tính các chỉ tiêu giá trị của các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh đó và phục vụ việc lập bảng cân đối liên ngành.
2.1.2.2. Giá trị sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc
doanh huyện Nghi Xuân-Hà Tĩnhh
Khái niệm:
Giá trị sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh là toàn bộ
giá trị của các sản phẩm vật chất và dịch vụ hữu ích do lao động công nghiệp-tiểu thủ
Doanh thu tiêu thụ thành phẩm (chính, phụ và nửa thành phẩm) do lao động của
doanh nghiệp làm ra
Doanh thu tiêu thụ thành phẩm tương tự như trên (làm bằng nguyên, vật liệu
của doanh nghiệp) thuê gia công bên ngoài
Doanh thu từ hợp đồng chế biến sản phẩm cho khách hàng
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm của hoạt động sản xuất phụ (khi không thể hạch
toán riêng về ngành phù hợp)
Thu nhập từ hàng hóa mua vào bán ra không qua chế biến
Doanh thu bán phế liệu, phế phẩm
Sinh viên: Phan Thị Nga Lớp: Thống kê 47A
Chênh lệch giá trị sản phẩm trung gian và công cụ mô hình tự chế giữa cuối và
đầu kỳ
Chênh lệch giá trị hàng hóa đã gửi bán chưa thu được tiền giữa cuối và đầu kỳ
Doanh thu cho thuê nhà xưởng, máy móc, thiết bị trong dây chuyền sản xuất
của các doanh nghiệp đó
Kết quả tính toán GO theo hai cách trên có thể không khớp nhau, do các nguyên
nhân:
Mỗi cách dựa vào nguồn số liệu riêng
Ở giác độ tiêu thụ có nhiều khoản thu hơn
Ở góc độ sản xuất thường tính theo giá so sánh và giá hiện hành, còn ở góc
độ phân phối chỉ tính theo giá hiện hành
Phương pháp tính:
GO của hoạt động sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp tính theo giá sử
dụng cuối cùng gồm các yếu tố sau:
(+) Doanh thu thuần của hoạt động sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp
(gồm doanh thu thuần bán sản phẩm hàng hóa công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp và
doanh thu thuần cung cấp dịch vụ sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp)
(+) Trợ cấp của Nhà nước
(+) Chênh lệch (cuối kỳ trừ đầu kỳ) của sản phẩm trung gian, công cụ mô hình tự
chế
phương pháp:
- Phương pháp sản xuất: VA = GO – IC
- Phương pháp phân phối: VA = V + M + C
1
Trong đó:
V là thu nhập lần đầu của lao động, gồm:
Tiền lương hoặc thu nhập theo ngày công của người lao động (nhận dưới
hình thức tiền mặt và cả bằng hiện vật)
Tiền đóng góp vào các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công
đoàn của người sử dụng lao động
Các khoản thu nhập ngoài lương hoặc ngoài thu nhập theo ngày công (như
chi ăn trưa, ca 3, chi lương cho ngày nghỉ việc, bồi dưỡng nghiệp vụ, các khoản tiền
thưởng được hạch toán vào chi phí kinh doanh) mà doanh nghiệp trả trực tiếp cho
người lao động
M là tổng thu nhập lần đầu tạo ra trong doanh nghiệp công nghiệp-tiểu thủ
công nghiệp ngoài quốc doanh (hay tổng lãi gộp), gồm các khoản:
Thuế sản xuất (trừ trợ cấp), gồm: thuế sản phẩm, thuế sản xuất khác
Lãi trả tiền vay ngân hàng (không kể chi phí dịch vụ ngân hàng đã tính vào
IC)
Thuế thu nhập doanh nghiệp
Phần còn lại là lãi ròng của hoạt động công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp của
doanh nghiệp, dùng để chia cho các chủ sở hữu vốn và trích lập các quỹ của doanh
nghiệp
C
1
là khấu hao tài sản cố định dùng vào sản xuất, kinh doanh công nghiệp-
tiểu thủ công nghiệp
Để tính được VA theo phương pháp sản xuất cần phải xác định được chi phí
trung gian
Chi phí trung gian là chi phí sử dụng đối tượng lao động cho sản phẩm trung
• Chi phí phòng cháy chữa cháy, bảo vệ an ninh và vệ sinh khu vực
• Tiền thuê quảng cáo, thông tin, kiểm toán
• Tiền trả cho các dịch vụ khác: in, sao, chụp tài liệu, …
2.1.3. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công
nghiệp huyện Nghi Xuân-Hà Tĩnh
Hiệu quả sản xuất, kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ khai
thác các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất, nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh
của doanh nghiệp. Nó là chỉ tiêu tương đối biểu hiện quan hệ so sánh giữa kết quả sản
xuất, kinh doanh với chi phí sản xuất, kinh doanh (chỉ tiêu hiệu quả thuận), hoặc
ngược lại (chỉ tiêu hiệu quả nghịch). Các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất, kinh doanh còn
được gọi là các chỉ tiêu năng suất.
- Về kết quả sản xuất, kinh doanh có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:
Sinh viên: Phan Thị Nga Lớp: Thống kê 47A
Tính bằng sản phẩm hiện vật: Số lượng sản phẩm sản xuất được trong kỳ tính
toán
Tính bằng tiền tệ, gồm có: Doanh thu, doanh thu thuần, GO, VA, NVA, lợi
nhuận, …
- Về chi phí sản xuất, kinh doanh có thể sử dụng 3 nhóm chỉ tiêu sau:
Chi phí lao động :
Tổng số giờ - người làm việc trong kỳ
Tổng số ngày – người làm việc trong kỳ
Số lao động làm việc bình quân trong kỳ
Tổng quỹ lương
Tổng quỹ phân phối lần đầu cho người lao động
Chi phí về vốn:
Tổng vốn có bình quân trong kỳ
Vốn cố định có bình quân trong kỳ
Vốn lưu động có bình quân trong kỳ
Tổng giá trị khấu hao trong kỳ
Tổng chi phí sản xuất trong kỳ
+ Biến động sản phẩm hiện vật
+ Phân tích biến động GO, gồm: Biến động chung, biến động theo thành phần
kinh tế, biến động theo ngành kinh tế: sử dụng phương pháp phân tích dãy số
thời gian và đồ thị thống kê
+ Phân tích biến động VA, gồm: Biến động chung, biến động theo thành phần
kinh tế, biến động theo ngành kinh tế; sử dụng phương pháp phân tích dãy số
thời gian và đồ thị thống kê
-Phân tích chỉ tiêu năng suất lao động, gồm:
+ Phân tích biến động năng suất lao động theo GO, gồm: Biến động chung,
biến động theo ngành kinh tế; sử dụng phương pháp phân tích dãy sô thời gian
và đồ thị thống kê
+ Phân tích biến động năng suất lao động theo VA, gồm: Biến động chung, sử
dụng phương pháp phân tích dãy số thời gian
-Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến biến động GO, VA: Sử dụng phương pháp
chỉ số
-Dự đoán GO đến 2010: Vì có số liệu theo năm nên không có biến động thời vụ ,
có biến động thành phần ngẫu nhiên và có xu thế. Do đó có thể sử dụng các
phương pháp dự đoán sau:
+ Dự đoán theo các mức độ bình quân
+ Dự đoán dựa vào hàm xu thế
+ Dự đoán bằng mô hình san bằng mũ có xu thế, không biến động thời vụ (Mô
hình Holt)
+ Dự đoán bằng mô hình tuyến tính không dừngh
2.2. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SẢN
XUẤT CÔNG NGHIỆP-TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
HUYỆN NGHI XUÂN-HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2002-2008
2.2.1.Phương pháp phân tổ thống kê
2.2.1.1. Khái niệm
Sinh viên: Phan Thị Nga Lớp: Thống kê 47A
Phân tổ thống kê là căn cứ vào một (hay một số) tiêu thức nào đó để tiến hành
tế, chính trị, xã hội để phân biệt các bộ phận khác nhau về tính chất đang tồn tại khách
quan trong nội bộ hiện tượng
Sinh viên: Phan Thị Nga Lớp: Thống kê 47A
- Phân tổ thống kê có nhiệm vụ biểu hiện kết cấu của hiện tượng nghiên cứu.
Ta biết rằng một hiện tượng kinh tế, xã hội do nhiều bộ phận, nhiều nhóm đơn vị có
tính chất khác nhau hợp thành. Các bộ phận hay nhóm này chiếm những tỷ trọng khác
nhau trong tổng thể và nói lên tầm quan trọng của mình trong tổng thể dó. Mặt khác,
tỷ trọng của các bộ phận còn nói lên kết cấu của tổng thể theo một tiêu thức nào đó.
Muốn nghiên cứu được kết cấu của tổng thể, phải dựa trên cơ sở phân tổ thống kê.
- Phân tổ được dùng để biểu hiện mối liên hệ giữa các tiêu thức. Hiện tượng
kinh tế - xã hội phát sinh và biến động không phải một cách ngẫu nhiên, tách rời với
các hiện tượng xung quanh, mà chúng có liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau theo những
quy luật nhất định. Giữa các tiêu thức mà thống kê nghiên cứu cũng thường có mối
liên hệ với nhau: sự thay đổi của tiêu thức này sẽ đưa đến sự thay đổi của tiêu thức kia
theo một quy luật nhất định. Tìm hiểu tính chất và trình độ của mối liên hệ giữa các
hiện tượng nói chung và giữa các tiêu thức nói riêng là một trong các nhiệm vụ quan
trọng của nghiên cứu thống kê. Phân tổ thống kê là một trong các phương pháp có thể
giúp ta thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu này
2.2.1.4. Các loại phân tổ thống kê
Trong thống kê ta có thể phân loại phân tổ thống kê căn cứ vào nhiệm vụ của
phân tổ thống kê và căn cứ vào số lượng tiêu thức của phân tổ
-Căn cứ vào nhiệm vụ của phân tổ thống kê: có ba loại phân tổ:
Phân tổ phân loại
Phân tổ phân loại giúp nghiên cứu một cách có phân biệt các loại hình kinh tế -
xã hội, nêu lên đặc trưng và mối quan hệ giữa chúng với nhau. Từ việc nghiên cứu
riêng biệt mỗi loại hình đó, tiến thêm một bước nghiên cứu các đặc trưng của toàn bộ
hiện tượng phức tạp, giải thích một cách sâu sắc bản chất và xu hướng phát triển của
hiện tượng trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể.
Theo loại phân tổ này các doanh nghiệp công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp ngoài
quốc doanh huyện Nghi Xuân-Hà Tĩnh được phân loại theo thành phần kinh tế, theo
mối liên hệ giữa năng suất lao động CN-TTCN NQD và giá trị sản xuất CN-TTCN
NQD thì tiêu thức nguyên nhân là năng suất lao động CN-TTCN NQD và tiêu thức kết
quả là giá trị sản xuất CN-TTCN NQD. Năng suất lao động CN-TTCN NQD tăng lên
tạo điều kiện cho giá trị sản xuất CN-TTCN NQD cũng tăng lên.
Phân tổ liên hệ còn có thể được vận dụng để nghiên cứu mới liên hệ giữa nhiều
tiêu thức. Khi phân tổ liên hệ nhiều tiêu thức trước hết tổng thể được phân tổ theo một
tiêu thức nguyên nhân, sau đó mỗi tổ lại được chia thành các tiểu tổ theo nguyên nhân
thứ hai, tiếp tục quá trình với các nguyên nhân còn lại, cuối cùng tính trị số tổng hoặc
bình quân của tiêu thức kết quả cho từng tổ và tiểu tổ đó.
- Căn cứ vào số lượng tiêu thức của phân tổ:
Ta chia thành phân tổ theo một tiêu thức và phân tổ theo nhiều tiêu thức
Phân tổ theo một tiêu thức
Sinh viên: Phan Thị Nga Lớp: Thống kê 47A
Phân tổ theo một tiêu thức là tiến hành phân chia các đơn vị thuộc hiện tượng
nghiên cứu thành các tổ có tính chất khác nhau trên cơ sở một tiêu thức thống kê hay
còn gọi là phân tổ giản đơn. Ví dụ: Giá trị sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp
ngoài quốc doanh huyện Nghi Xuân-Hà Tĩnh theo tiêu thức thành phần kinh tế được
chia thành ba tổ: thành phần kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể
Phân tổ theo nhiều tiêu thức
Phân tổ theo nhiều tiêu thức là tiến hành phân chia các đơn vị thuộc hiện tượng
nghiên cứu thành các tổ và các tiểu tổ có tính chất khác nhau trên cơ sở nhiều tiêu thức
thống kê (từ hai tiêu thức trở lên). Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, đặc điểm của
hiện tượng và các tiêu thức phân tổ mà phân tổ theo nhiều tiêu thức được chia thành
hai loại: phân tổ kết hợp và phân tổ nhiều chiều
o Phân tổ kết hợp: là tiến hành phân tổ lần lượt theo từng tiêu thức một. Các
tiêu thức được sắp xếp theo thứ tự phù hợp với mục đích nghiên cứu và đặc điểm của
hiện tượng. Thông thường người ta hay phân tổ theo tiêu thức liên quan trực tiếp đến
mục đích nghiên cứu và có ít biểu hiện trước. Tuy nhiên theo cách này số tiêu thức
phân tổ không nên quá nhiều (thường 2 hoặc 3) vì nếu như vậy sẽ chia tổng thể thành
quá nhiều bộ phận nhỏ có thể gây khó khăn cho việc phân tích
Dãy số thời gian được dùng để phân tích các đặc điểm biến động của hiện
tượng qua thời gian, tính quy luật của sự biến động, tứ đó tiến hành dự đoán về mức
độ của hiện tượng trong thời gian đó
2.2.2.2. Phân tích đặc điểm biến động của hiện tượng qua thời gian
Để phân tích đặc điểm biến động của hiện tượng qua thời giant a sử dụng các chỉ
tiêu sau đây:
- Mức độ bình quân qua thời gian
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đại diện cho các mức độ tuyệt đối của dãy số thời
gian. Tùy theo dãy số thời kỳ hay dãy số thời điểm mà công thức tính khác nhau.
Sinh viên: Phan Thị Nga Lớp: Thống kê 47A
- Đối với dãy số thời kỳ, mức độ bình quân qua thời gian được tính theo công
thức sau đây:
n
y
n
yyy
y
i
n
∑
=
+++
=
21
Trong đó: y
i
(i = 1, 2,…,n) là các mức độ của dãy số thời kỳ.
- Đối với dãy số thời điểm có các khoảng cách thời gian bằng nhau cần phải giả
thiết rằng sự biến động của các mức độ là tương đối đều đặn. Công thức để tính mức
21
2211
Trong đó: h
i
(i = 1, 2, …, n) là khoảng thời gian có mức độ y
i
(i = 1, 2,…, n)
- Lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối
Chỉ tiêu này phản ánh sự biến động về mức độ tuyệt đối giữa hai thời gian. Tùy
theo mục đích nghiên cứu, có thể tính các chỉ tiêu về lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối
sau đây:
- Lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối liên hoàn (hay từng kỳ): Phản ánh sự biến
động về mức độ tuyệt đối giữa hai thời gian liền nhau và được tính theo công thức sau
đây:
1−
−=
iii
yy
δ
(với i = 2, 3, …,n)
Sinh viên: Phan Thị Nga Lớp: Thống kê 47A
Trong đó:
i
δ
: Luợng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối liên hoàn (hay từng kỳ) ở thời
gian i so với thời gian đứng liền trước đó là i – 1
y
i
: Mức độ tuyệt đối ở thời gian i
−
−
=
−
∆
=
−
+++
=
n
yy
nn
nnn
δδδ
δ
- Tốc độ phát triển
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ và xu hướng biến động của hiện tượng nghiên cứu
qua thời gian. Tuy theo mục đích nghiên cứu, có thể tính các tốc độ phát triển sau đây:
- Tốc độ phát triển liên hoàn: Phản ánh tốc độ và xu hướng biến động của hiện
tượng ở thời gian sau so với thời gian liền trước đó và được tính theo công thức
sau đây:
1−
=
i
i
i
y
y
t
(với i = 2, 3,…, n)