quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp cho xã phú minh, huyện kỳ sơn, tỉnh hoà bình - Pdf 14

Lời nói đầu
Để hoàn thành khoá học, đánh giá kết quả học tập tại trờng Đại học Lâm
nghiệp nhằm gắn liền lý thuyết với thực hành, tạo điều kiện cho sinh viên tiếp
cận với thực tế, củng cố và hoàn thiện những kiến thức đã đợc trang bị, biết vận
dụng những kiến thức đó ngoài thực tiễn sản xuất, đợc sự đồng ý của Nhà trờng,
khoa Lâm học và bộ môn Điều tra quy hoạch rừng, tôi xây dựng khoá luận tốt
nghiệp trên cơ sở đề tài:
Quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp cho xã Phú Minh, huyện Kỳ
Sơn, tỉnh Hoà Bình.
Trong thời gian xây dựng khoá luận, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản
thân, tôi đã nhận đợc sự hớng dẫn nhiệt tình của các thầy, các cô trong bộ môn
Điều tra quy hoạch rừng, các phòng ban, cán bộ, nhân dân xã Phú Minh, cùng
bạn bè đồng nghiệp, đặc biệt là thầy PGS.TS Vũ Nhâm đã trực tiếp hớng dẫn, chỉ
bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khoá luận của mình.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, lời cảm ơn chân thành
nhất đến tất cả các thầy, các cô trong bộ môn Điều tra quy hoạch rừng, các
phòng ban, cán bộ và nhân dân xã Phú Minh, cùng bạn bè đồng nghiệp, đặc biệt
là thầy PGS.TS Vũ Nhâm.
Do thời gian có hạn cũng nh trình độ bản thân còn hạn chế và lần đầu làm
quen với công tác nghiên cứu khoa học ngoài thực tế sản xuất; vì vậy, bản báo
cáo khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, kính mong đợc sự
quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để
khoá luận đợc hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Hà Thị Thu
2
Chơng1
Đặt vấn đề
Đất đai là một loại tài nguyên vô cùng quý giá đối với con ngời. Nó là
thành phần quan trọng của môi trờng sống, là địa bàn phân bố các khu dân c và

triển mới của đất nớc. Nó không chỉ có ý nghĩa trớc mắt mà còn cả lâu dài bởi vì
công tác quy hoạch vừa mang tính định hớng, điều tiết, vừa mang tính pháp lý
nhằm quản lý chặt chẽ đất đai, phục vụ cho sự phát triển chung của nền kinh tế,
xã hội, an ninh quốc phòng.
Xã Phú Minh, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình là một xã miền núi, trình độ
kinh tế, kỹ thuật, dân trí và cơ sở hạ tầng còn thấp. Trong xã, lâm, nông nghiệp
là ngành sản xuất chủ yếu, với diện tích đất lâm, nông nghiệp chiếm đại đa số
diện tích đất tự nhiên của xã, nhng trong những năm qua việc quản lý và sử dụng
đất tại xã cha đợc quan tâm đúng mức, diện tích đất đồi núi cha sử dụng còn
nhiều. Vì vậy, một trong những vấn đề cấp thiết đặt ra cho xã Phú Minh là cần
tiến hành quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp trong thời gian tới.
Xuất phát từ thực tế đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Quy hoạch sử
dụng đất lâm, nông nghiệp cho xã Phú Minh, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình
để góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác quy hoạch, đặc
biệt là quy hoạch sử dụng đất cho xã có căn cứ và định hớng phát triển nền lâm,
nông nghiệp tổng hợp, đa dạng và nhiều thành phần, nhằm khắc phục những khó
khăn, cải thiện và nâng cao đời sống của ngời dân trong xã.

4
Chơng 2
Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp là một ngành có lịch sử hình
thành từ rất sớm.
2.1. Trên thế giới
2.1.1. Khái quát chung
Quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp là một chuyên ngành đợc công
nhận với lịch sử đợc bắt đầu bằng các quy hoạch vùng ngay từ thế kỷ XVII. Theo
Olschowy (1975) vào thời gian này quy hoạch quản lý rừng và lâm sinh ở Châu
Âu đợc xem nh là một lĩnh vực phát triển ở mức cao trên cơ sở có liên quan đến
quy hoạch sử dụng đất. Những ý tởng của Weber năm 1921 trong tác phẩm

thập cho quy hoạch sử dụng đất nh: khí hậu, độ dốc, địa mạo, thổ nhỡng, thuỷ
văn đất và tài nguyên nhân tạo (hệ thống tới tiêu, thảm thực vật).
Từ cuối thập kỷ 70, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm phát triển các phơng
pháp điều tra, đánh giá cùng tham gia nh đánh giá nhanh nông thôn (RRA), đánh
giá có sự tham gia của ngời dân (PRA), đ ợc nghiên cứu rộng rãi. Phơng pháp
RRA vào thập kỷ 80 và phơng pháp PRA vào thập kỷ 90 đợc thử nghiệm trong
phát triển nông thôn và lập kế hoạch sử dụng đất đợc thực hiện trên 30 nớc phát
triển (Chambers.1994) cho thấy u thế của phơng pháp này trong quy hoạch.
Năm 1988 Dent và nhiều tác giả đã khái quát quy hoạch sử dụng đất trên
3 cấp khác nhau và mối quan hệ của các cấp: kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia,
cấp vùng (tỉnh, huyện), cấp cộng đồng (xã, thôn).
Theo Purenll năm 1988, mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất là thiết lập
các kế hoạch thực tiễn có khả năng sử dụng tốt nhất các loại đất đai nhằm đạt đ-
ợc các mục tiêu khác nhau để sản xuất quốc gia, cải thiện đời sống, bảo vệ môi
trờng, đạt đợc lợi ích xã hội và giải trí.
Năm 1990, tổ chức Fao đã xuất bản cuốn Phát triển hệ thống canh tác
(Farming system development) đa ra phơng pháp tiếp cận mới nhằm phát triển
các hệ thống trang trại và cộng đồng nông thôn trên cơ sở bền vững.
2.2. ở Việt Nam.
Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và
pháp chế của Nhà nớc về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả cao
thông qua việc tái phân bổ quỹ đất, tổ chức sử dụng đất nh một t liệu sản xuất
cùng với t liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất
xã hội, tạo điều kiện để bảo vệ đất và môi trờng. Quy hoạch sử dụng đất lâm,
nông nghiệp thuộc quy hoạch phân bổ sử dụng đất đai theo ngành lâm, nông
nghiệp.
6
2.2.1. Một số chính sách quan trọng của Nhà nớc có liên quan đến quy
hoạch nông, lâm nghiệp cấp xã
Chỉ thị của Ban chấp hành Trung ơng Đảng tháng 11 năm 1983 nêu rõ:

(1995) là cơ sở tiền đề cho quy hoạch cấp xã. Palmkivist (1992) với nghiên cứu
7
của mình về quy hoạch sử dụng sử dụng đất cấp tỉnh và toàn quốc ở Việt Nam
đã đa ra một bức tranh chung về quy hoạch vĩ mô trong tơng lai của Việt Nam và
ông cũng phân biệt rõ đặc điểm khác nhau quy hoạch vĩ mô và quy hoạch cấp
xã. Nhiều quan điểm cho rằng quy hoạch vĩ mô là quy hoạch phản ánh hiện
trạng và phân chia 6 loại đất và 3 loại rừng. Các nhà khoa học trong và ngoài nớc
cho rằng quan điểm quy hoạch lâm, nông nghiệp cấp địa phơng nên đi theo h-
ớng sau:
- Tiến hành nghiên cứu khả năng chuyển từ quy hoạch lâm, nông nghiệp
chủ yếu dựa trên chức năng sử dụng đất sang dựa trên tiềm năng của đất.
- Rà soát, xem xét lại hệ thống chính sách nhằm hớng tới đa mục đích sử
dụng đất đai bằng việc đa dạng hoá các hoạt động sản xuất trong mỗi bản quy
hoạch cộng đồng.
- Gắn hai quá trình quy hoạch và giao đất, coi đó là hai bộ phận có quan
hệ chặt chẽ làm cơ sở cho quy hoạch sản xuất lâm, nông nghiệp ở mỗi địa ph-
ơng, cộng đồng.
- Nghiên cứu và thử nghiệm phơng pháp cùng tham gia trong quá trình
quy hoạch, phát riển lâm, nông nghiệp, xác định và phân tích rõ các chủ thể
trong quy hoạch lâm, nông nghiệp cấp xã.
2.2.3. Các nghiên cứu và thử nghiệm liên quan đến quy hoạch sử dụng đất
lâm, nông nghiệp cấp xã
Nghiên cứu và thí điểm đầu tiên về quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm
nghiệp cấp xã đợc thực hiện từ năm 1993 tại xã Tử Nê, huyện Tân Lạc và xã
Hang Kia, Pà Cò huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình do dự án đổi mới chiến lợc
phát triển lâm nghiệp thực hiện.
Chơng trình phát triển nông thôn miền núi giai đoạn 1996 2000 trên
phạm vi 5 tỉnh: Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ đã thử
nghiệm quy hoạch phát triển lâm, nông nghiệp cấp xã trên cơ sở xây dựng kế
hoạch phát triển cấp thôn và hộ gia đình. Theo Bùi Đình Toái và Nguyễn Văn

Chơng 3
Mục tiêu, giới hạn, nội dung, phơng pháp nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu:
3.1.1. Mục tiêu tổng quát:
Quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp bền vững cho xã Phú Minh
trong 10 năm tới.
3.1.2. Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích những thuận lợi và hạn chế trong việc sử dụng đất lâm, nông
nghiệp của xã Phú Minh.
-Tìm ra những nguyên nhân tạo ra những thuận lợi và hạn chế đó.
-Quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp cho xã trong thời gian 10 năm.
-Dự tính hiệu quả sau khi thực hiện quy hoạch sử dụng đất lâm, nông
nghiệp.
3.2. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu:
3.2.1. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tiến hành quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp trong phạm vi
xã Phú Minh và quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp là chủ yếu.
3.2.2. Giới hạn nghiên cứu:
Do giới hạn về thời gian, trình độ bản thân còn hạn chế và thiếu kiến thức
chuyên môn nên đề tài chỉ tiến hành quy hoạch sử dụng đất trên cơ sở kế thừa có
chọn lọc những tài liệu đã có sẵn, kết hợp với điều tra, khảo sát ngoài thực tế để
thẩm định và điều chỉnh.
3.3. Nội dung tiến hành:
Để đạt đợc mục tiêu đã nêu trên, đề tài tiến hành nghiên cứu các nội dung:
3.3.1. Điều tra điều kiện cơ bản của xã Phú Minh
1. Điều tra, phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã.
2. Điều tra, đánh giá tình hình sản xuất lâm, nông nghiệp của xã.
3. Đánh giá hiện trạng sử dụng đất lâm, nông nghiệp xã.
4.Tình hình sử dụng lâm sản, lơng thực và phân tích thị trờng nông lâm sản.
5. Dự báo nhu cầu lâm sản, lơng thực, xã hội, môi trờng trong tơng lai.

+ Trên mỗi trạng thái rừng lập 1 OTC có diện tích 500m
2
.
11
+ Các thông tin về cây trồng, năng suất và sản lợng cây trồng của xã,
thông tin về khuyến nông, khuyến lâm, tình hình sâu bệnh hại
3.4.4. Phơng pháp tổng hợp, phân tích số liệu và đánh giá hiệu quả sau khi
thực hiện kế hoạch
Trên cơ sở tài liệu, số liệu đã khảo sát ở các bớc thu thập số liệu, tiến hành
chỉnh lý, tổng hợp và phân tích các mặt:
- Phân tích đánh giá điều kiện sản xuất lâm, nông nghiệp
- Bổ sung và hoàn thiện bản đồ
- Xây dựng phơng án quy hoạch sử dụng đất
- Tính toán một số chỉ tiêu hiệu quả kinh tế sau khi thực hiện kế hoạch.
Sử dụng phơng pháp có sự trợ giúp của máy tính điện tử với phần mềm Excel:
Phơng pháp tĩnh:
Coi các yếu tố kinh tế và kết quả là độc lập tơng đối, không chịu tác động
của nhân tố thời gian, mục tiêu đầu t và biến động của thị trờng tiền tệ.
+ Tổng lợi nhuận: P = T
N
- C
P
(1)
Trong đó: P là tổng lợi nhuận trong 1 năm
T
N
là tổng thu nhập trong 1 năm
C
P
là tổng chi phí sản xuất kinh doanh trong 1 năm

r là tỷ lệ chiết khấu hay lãi xuất
t là thời gian thực hiện các sản xuất (năm)
12
NPV dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình kinh tế hay các
phơng thức canh tác. NPV càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn.
+ Tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ IRR: là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn
đầu t có kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu. IRR chính là tỷ lệ
chiết khấu khi tỷ lệ này làm cho NPV = 0 tức là khi
0
)1(
0
=
+


=
n
i
t
i
CtBt
(3) thì IRR = i
+ Tỷ lệ thu nhập so với chi phí BCR: là hệ số sinh lãi thực tế. Nó phản ánh
chất lợng đầu t và cho biết mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất:
CPV
BPV
r
Ct
r
Bt








+=
100
1.
0
(5) - Số hộ
No
Nt
HoHt .
=
(6)
Trong đó: N
t
là số dân dự đoán Ht là số hộ trong tơng lai
P là tỷ lệ tăng dân số tự nhiên Ho là số hộ hiện tại
V là tỷ lệ tăng dân số
n là số năm dự tính
N
0
là số dân hiện tại
3.4.6. Phơng pháp phân tích thị trờng lâm nông sản
Để phân tích thị trờng lâm nông sản dùng phơng pháp điều tra thực tế, kết
hợp với phỏng vấn hộ gia đình.
*Tóm lại: ứng với mỗi một mục tiêu nghiên cứu của khoá luận là các nội

liệu liên quan đến
nội dung nghiên
cứu của đề tài.
- Tìm ra những
nguyên nhân
của những thuận
lợi và hạn chế
đó.
- Đánh giá hiện trạng sử
dụng đất lâm, nông
nghiệp xã.
- Tình hình sử dụng lâm
sản, lơng thực và phân
tích thị trờng nông lâm
sản.
- Dự báo nhu cầu lâm
sản, lơng thực, xã hội,
môi trờng xã trong tơng
lai.
- Phơng pháp phỏng
vấn có định hớng và
bán định hớng. Phơng
pháp SWOT, 5Whys.
- Phơng pháp điều tra
các chuyên đề
- Phơng pháp kế thừa
- Tìm ra đợc
những điểm
mạnh, điểm yếu,
cơ hội, thách thức

- Xây dựng kế
hoạch sử dụng đất
lâm, nông nghiệp
một cách hợp lý.
14
pháp sản xuất lâm,
nông nghiệp xã.
- Tổng hợp vốn đầu t và
nguồn vốn thực hiện
quy hoạch sử dụng đất.
- Sử dụng các định
mức kinh tế, kỹ thuật.
- Đa ra đợc những
giải pháp nhằm
thực thi phơng án
một cách có hiệu
quả.
- Dự tính hiệu
quả sau khi thực
hiện quy hoạch
sử dụng đất lâm,
nông nghiệp.
- Dự tính hiệu quả kinh
tế, xã hội, môi trờng.
- Các giải pháp thực
hiện quy hoạch sử dụng
đất lâm, nông nghiệp.
- Sử dụng các chỉ tiêu
kinh tế, kỹ thuật và kết
hợp với phần mềm

Tổng diện tích tự nhiên của xã là 2152,28 ha. Dân số thời kỳ chống Pháp
có 936 ngời, hiện nay có 2394 ngời, với 3 dân tộc anh em cùng chung sống, vói
dân tộc Mờng chiếm đa số 82%.
Hiện nay xã có 6 xóm: Quốc, Mom, Bu Chằm, Vật Lại, Đồng Bài và Phú
Châu. Trong đó, có 2 xóm đạt danh hiệu xóm văn hoá và 12 hộ gia đình đạt danh
hiệu gia đình văn hoá cấp huyện, 400/491 hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá cấp
xã.
Trong xã, 100% số hộ có phơng tiện nghe nhìn, 35% số hộ có xe máy,
95% số hộ có điện lới quốc gia, bu điện văn hoá xã và trụ sở là việc của Đảng
16
uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND đợc xây dựng kiên cố. Có 75% số hộ có nhà mái
bằng và nhà cấp 4.
4.1.1.2. Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Xã Phú Minh là xã nằm về phía Bắc của huyện Kỳ Sơn, cách trung tâm
huyện 15 km, có vị trí địa lý nh sau:
- Phía Đông giáp xã Yên Sơn, huyện Lơng Sơn
- Phía Tây giáp xã Hợp Thịnh, huyện Kỳ Sơn
- Phía Nam giáp xã Hợp Thành, huyện Kỳ Sơn
- Phía Bắc giáp xã Khánh Thợng, Yên Bài, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây
b. Đặc điểm địa hình, địa thế:
Phú Minh là xã có địa hình thấp dần từ Đông sang Tây. Độ cao trung bình
từ 250m đến 300m, cao nhất là 725m. Phía Tây địa hình bằng phẳng hơn, nơi
đây là nơi tập trung chủ yếu dân c và diện tích đất canh tác nông nghiệp của xã.
Phía Đông Bắc và phía Tây Nam chủ yếu là đồi núi xen kẽ, địa hình phức tạp
hơn nên phát triển lâm nghiệp là một thế mạnh của xã.
c. Đặc điểm khí hậu:
Phú Minh chịu ảnh hởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nên mùa hè nóng
ẩm, ma nhiều, mùa đông khô và lạnh
Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm là 24,2

- Đất Feralit đỏ vàng biến đổi do trồng lúa với diện tích khoảng 110,3 ha,
chiếm 4,7% diện tích tự nhiên và chủ yếu trồng lúa, mầu.
- Đất đỏ vàng trên đá phiến sét và đá biến chất với diện tích khoảng 1582
ha, chiếm 73,5% diện tích tự nhiên.
Các loại đất khác chiếm 15,1%.
* Tài nguyên rừng
Tổng diện tích rừng của xã Phú Minh là 776,23ha chiếm 36,07% tổng
diện tích tự nhiên toàn xã, trong đó rừng tự nhiên có diện tích là 42,9 ha, rừng
trồng có diện tích 733,33ha. Thảm thực vật rừng tự nhiên hạn chế về số lợng
cũng nh chủng loại, rừng trồng chủ yếu là một số loại cây trồng chủ yếu nh Keo,
Muồng,
* Tài nguyên nhân văn
Dân số toàn xã có 2394 ngời, trong đó ngời Mờng chiếm đa số với 1963
ngời, chiếm 82% tổng dân số xã, ngời Kinh có 429 ngời, chiếm 17,92% dân số
xã, ngời Tày với 2 ngời chiếm 0,08%. Dới sự chỉ đạo của Đảng uỷ, UBND xã, bà
con nhân dân trong xã sống hoà thuận, cùng nhau làm ăn, sinh sống.
4.1.1.3. Điều kiện kinh tế
Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế
huyện Kỳ Sơn, nền kinh tế xã Phú Minh cũng có nhiều chuyển biến tích cực.
Tăng trởng kinh tế những năm gần đây đều đạt tốc độ khá từ 7- 8%, tổng giá trị
sản phẩm của xã năm 2004 đạt 10,29 tỷ đồng. Trong đó nông, lâm nghiệp chiếm
95% tổng giá trị sản phẩm, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thơng mại chiếm 5%
tổng giá trị sản phẩm. Thu nhập bình quân đầu ngời năm 2004 đạt 4,3 triệu
đồng.
Nhận xét: Nền kinh tế của xã Phú Minh tuy đã phát triển đáp ứng đợc
phần nào nhu cầu của ngời dân. Song bên cạnh đó do cơ cấu nền kinh tế còn cha
cân đối, phù hợp với tiềm năng của vùng nên cha phát huy đợc khả năng của
18
mình. Trong những năm tới cán bộ xã cần có những chủ trơng, kế hoạch cụ thể
để chuyển biến nền kinh tế chủ yếu là sản xuất lâm, nông nghiệp sang nền kinh




+=N
(ngời).
Dự tính dân số của xã Phú Minh trong giai đoạn 2006 2015.
Năm
Tỷ lệ tăng dân số
Tự nhiên (%)
Cơ học
(%)
2006 0.76 0.08
2414
2007 0.7 0.06
2433
2008 0.65 0.05
2450
2009 0.6 0.05
2466
2010 0.55 0.05
2481
2011 0.5 0.05
2495
2012 0.45 0.05
2508
2013 0.45 0.05
2521
2014 0.45 0.05
2534
2015 0.4 0.05

- Thuỷ lợi:
Xã Phú Minh có hệ thống thuỷ lợi khá phong phú, với nhiều các công
trình khác nhau. Trên địa bàn xã có 3 hồ thuỷ lợi: hồ Đầm Bài, hồ Lão Ngảo và
hồ Voi Già. Hồ Đầm Bài với diện tích 29 ha là nguồn cung cấp nớc tới chủ yếu
của hai xóm Đồng Bài và xóm Quốc. Hệ thống kênh mơng của xã dần đợc kiên
cố hoá với 4500 m (mơng xây ở đồng xóm Quốc và đồng xóm Đồng Bài). Hiện
tại, có một số bai đập đã dợc đầu t xây dựng kiên cố (bai ở xóm Quốc, bai
Châm) còn lại là mơng đất nên năng lực tới tiêu cha đáp ứng đợc yêu cầu của
sản xuất đặt ra, vì vậy mà khả năng tăng vụ còn gặp nhiều khó khăn.
- Mạng lới điện và bu chính viễn thông:
Hiện tại toàn xã có hai trạm biến áp đặt tại xóm Mom và xóm Quốc cung
cấp điện phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của 95% tổng số hộ toàn xã.
Trong xã, có 5/6 xóm có điện sản xuất và sinh hoạt, hiện tại xóm Vật Lại cha có
điện do trớc đây họ có sử dụng nguồn nớc ở con suối chảy qua xóm để sản xuất
điện nhng hiện nay suối không đủ nớc nên họ không có điện dùng.
Mạng lới bu chính viễn thông trong xã cũng đợc quan tâm với sự hoạt
động của điểm văn hoá xã, mạng lới điện thoại đã và đang đợc xây dựng từng b-
ớc và đa vào sử dụng. Các phơng tiện nghe nhìn khác nhìn chung đã đáp ứng đợc
nhu cầu thông tin nhanh nhạy, kịp thời, phục vụ sản xuất và sinh hoạt của ngời
dân. Hiện tại, trong xã đã xây dựng đợc trạm truyền phát thông tin đặt tại xóm
Bu Chằm nhằm nâng cao khả năng cung cấp thông tin đến mọi ngời dân.
- Các công trình xây dựng cơ bản, văn hoá phúc lợi:
Các công trình xây dựng cơ bản chính của xã đều đợc bố trí ở các vị trí
hợp lý, diện tích đảm bảo. Tuy nhiên, còn một số công trình xây dựng đã lâu,
trong tơng lai cần từng bớc nâng cấp, xây dựng mới cho phù hợp với sự phát
triển chung của xã hội.
Hiện tại, xã Phú Minh có trụ sở UBND xã đặt tại xóm Quốc với diện tích
0,1ha nhà xây kiên cố 2 tầng, trạm y tế xã với diện tích 0,3 ha.
Hệ thống trờng học trong xã với 3 cấp học: mầm non, tiểu học và trung
học cơ sở. Năm 1991, bằng nguồn vốn của Nhà nớc và nhân dân cùng làm, đến

hạ tầng, đẩy mạnh việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nhằm nâng
cao năng suất lao động, giảm hộ nghèo, đa nền kinh tế phát triển đi lên.
22
4.1.2. Tình hình sản xuất kinh doanh lâm, nông nghiệp
4.1.2.1. Sản xuất lâm nghiệp
Phú Minh là một xã miền núi có nhiều u thế cho việc phát triển ngành
lâm nghiệp nh: có những chính sách u đãi của Nhà nớc, đất đai rộng, nguồn lao
động dồi dào. Tuy nhiên những năm trớc đây do việc khai thác rừng bừa bãi, bất
hợp lý, phát rừng làm nơng rẫy đã làm nguồn tài nguyên này ngày càng cạn kiệt.
Trong những năm gần đây, rừng ở Phú Minh dần dần đợc phục hồi nhờ có thực
hiện tốt công tác giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình sử dụng ổn định lâu dài,
cũng nh có các chơng trình, dự án nh: Dự án PAM, 327, 661, nên đã hạn chế
đợc rất nhiều. Hàng năm , diện tích rừng trồng mới cũng nh rừng tái sinh tăng
lên rõ rệt. Đến hết năm 2004, tổng diện tích đất trồng mới là 105,7ha rừng theo
các dự án, chăm sóc 200ha rừng trồng năm thứ 2 và thứ 3, thực hiện tốt các biện
pháp bảo vệ rừng. UBND xã thực hiện quy chế dân chủ, mỗi xóm đều phải có
một bản quy ớc về bảo vệ và phát triển rừng do nhân dân họp bàn và xây dựng
lên. Tổng diện tích rừng hiện có toàn xã là 776,23ha, trong đó rừng tự nhiên là
42,9ha, rừng trồng là 733,33ha. Nhng nhìn chung cho đến nay sự phát triển còn
rất chậm, chất lợng rừng thấp, nhiều diện tích vẫn còn trảng cỏ, cây bụi, tre nứa.
Các diện tích này đã đợc giao khoán đến các hộ gia đình, song do thiếu nguồn
vốn, kỹ thuật mà đến nay diện tích đất trống vẫn còn 873,52ha. Thu nhập từ
rừng chủ yếu vẫn là củi làm chất đốt, còn thu nhập gỗ là không đáng kể.
4.1.2.2. Sản xuất nông nghiệp:
Nông nghiệp là ngành sản xuất chính của xã Phú Minh. Trong những năm
vừa qua, diện tích gieo trồng và sản lợng tăng lên đáng kể.
a. Trồng trọt:
Năm 2004, tổng diện tích gieo trồng của toàn xã là 544ha đạt 101% kế
hoạch, tăng 9,16% so với năm 2003, cụ thể:
+ Cây lúa là 298ha đạt 99,76% kế hoạch, tăng 4,2%. Năng suất bình quân

của xã.
Nhận xét về tình hình sản xuất lâm, nông nghiệp
Nền kinh tế của xã Phú Minh mà chủ yếu là nền sản xuất lâm, nông nghiệp
trong những năm vừa qua đã có nhiều tiến bộ và từng bớc phát triển vững chắc,
góp phần vào sự thay đổi toàn xã . Sản xuất nông nghiệp đã chuyển đổi cơ cấu
mùa vụ, cơ cấu giống cây trồng, đã mạnh dạn đa các giống mới, chất lợng tốt,
năng suất cao vào sản xuất.
Sản xuất lâm nghệp tuy mới chỉ đáp ứng đợc nhu cầu gỗ củi của ngời dân
trong xã, song trong những năm tới với những chủ trơng, chính sách hợp lý của
Nhà nớc và kế hoạch cụ thể của xã sẽ thu hút đợc ngời dân tham gia vào nghề
24
rừng, mở rộng nhiều mô hình nông lâm kết hợp, phát triển mô hình nuôi ong,
góp phần nâng cao tỷ trọng ngành lâm nghiệp trong nền kinh tế của xã.
4.1.2.3. Đánh giá điều kiện cơ bản của xã
Qua phân tích những điều kiện cơ bản của xã ta rút ra đợc những điểm
thuận lợi và khó khăn đối với sự phát triển sản xuất lâm, nông nghiệp nh:
a. Thuận lợi:
- Phú Minh là một xã có điều kiện đất đai phong phú với một quỹ đất lớn,
điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển sản xuất lâm, nông nghiệp. Nguồn lao
động dồi dào, ngời lao động có truyền thống cần cù, chịu khó, tính sáng tạo cao.
Ngời dân trong xã tuy khác nhau về dân tộc nhng sống hoà thuận.
- Xã có hai hệ thông suối chính và nhiều nhánh suối nhỏ chảy bao quanh
các quả đồi tạo điều kiện cho việc phát triển du lịch sinh thái trong tơng lai.
- Xã có địa hình thuận lợi cho sự phát triển sản xuất lâm nghiệp - một
ngành đang đợc Việt Nam và cả Thế giới quan tâm chú ý đầu t, phát triển.
b. Khó khăn:
- Là một xã vùng núi, ruộng, đất phân bố không đồng đều, địa hình phức
tạp, có nhiều núi nên việc sản xuất và đi lại của ngời dân rất khó khăn.
- Cơ sở hạ tầng còn thiếu và kém chất lợng.
- Mặc dù diện tích đất lâm nghiệp nhiều song việc thu hút ngời dân tham


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status