i
I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM
HONG TH HU
Tờn ti:
Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp cho xã Đức Vân
huyện Ngân Sơn - tỉnh Bắc Kạn
khóa luận tốt nghiệp đại học
H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Qun lý t ai
Khoa : Qun lý Ti nguyờn
Khoỏ hc : 2010-2014
Thỏi Nguyờn, nm 2014
iii
LỜI CẢM ƠN
Thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành”, thực tập tốt nghiệp là
thời gian để mỗi sinh viên sau giai đoạn học tập nghiên cứu tại trường có điều
kiện và củng cố các kiến thức đã học và thực tế. Đây là giai đoạn không thể
thiếu được đối với mỗi sinh viên các trường chuyên nghiệp nói chung và
trường Đại học Nông Lâm nói riêng.
Với tấm lòng biết ơn vô hạn em xin chân thành cảm ơn tới ban giám
hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa và các thầy, các cô trong khoa Quản lý
Tài nguyên đặc biệt là cô giáo, ThS. Nông Thu Huyền người luôn hết mình
vì sự nghiệp giáo dục, đã nhiệt tình hướng dẫn em trong suốt thời gian thực
hiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ Uỷ ban nhân dân xã Đức Vân
đã giúp đỡ em nhiệt tình trong suốt thời gian thực tập và viết khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã động viên
giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập vừa qua.
Trong thời gian thực tập và làm khóa luận, mặc dù e đã cố gắng hết sức
mình nhưng do chưa có kinh nghiệm và kiến thức có hạn nên chắc chắn
không tránh khỏi những khiếm khuyết và thiếu sót, em rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, các cô, bạn bè cùng người thân
để báo cáo của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Đức Vân, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Bảng 4.12. Hiệu quả môi trường của các LUT 46 DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 4.1. Cơ cấu đất đai xã Đức Vân năm 2013 33
Hình 4.2. Cơ cấu đất nông nghiệp xã Đức Vân năm 2013. 34 v
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
CAQ
CM
HĐND
L
LĐ
LUT
M
ThS
UBND
: Cây ăn quả
: Chuyên màu
: Hội đồng nhân dân
: Lúa
2.2.1. Nguyên tắc đánh giá đất 10
2.2.2 Nội dung đánh giá đất. 10
2.2.3 Các bước đánh giá đất. 10
2.2.4. Ý nghĩa của các công đoạn đánh giá hiện trạng sử dụng đất. 12
2.3. Hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất 12
2.3.1. Khái quát hiệu quả sử dụng đất 12
2.3.2. Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất 15
2.3.3. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất 15
2.4. Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 16
2.4.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn trong đề xuất sử dụng đất 16
2.4.2. Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 16
2.4.3. Định hướng sử dụng đất 17
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu. 18
3.4.2. Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp 19
3.4.3. Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất dựa vào các chỉ tiêu hiệu
quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường. 19
3.4.4. Phương pháp tính toán phân tích số liệu 20
3.4.5. Phương pháp kế thừa 20
3.4.6. Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia 20
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
4.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Đức Vân,
huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn 21
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 21
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 26
4.2. Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Đức Vân 32
4.2.1. Hiện trạng sử dụng đất của xã Đức Vân năm 2013 32
4.2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 34
4.2.3 Hiện trạng các cây trồng chính 36
4.2.4 Xác định các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của xã Đức Vân.
37
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, không chỉ là tái
nguyên thiên nhiên mà còn là nền tảng để định cư và tổ chức hoạt động kinh
tế, xã hội, không chỉ là đối tượng của lao động mà còn là tư liệu sản xuất đặc
biệt không thể thay thế trong sản xuất nông - lâm nghiệp, là địa bàn phân bố
dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc
phòng…Đất đai là điều kiện, nền tảng tự nhiên của mọi ngành sản xuất, nó
không mất đi nhưng nó có giới hạn đối với con người.
Xã hội phát triển dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi về lương
thực và thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa đã làm cho mối
quan hệ giữa đất đai và con người ngày càng trở nên căng thẳng. Nhu cầu về
đất đai cho các ngành kinh tế, nhu cầu về đất ở và đất phục vụ con người ngày
càng tăng trong khi quỹ đất của của nước ta có giới hạn. Việc sử dụng đất đai
hiện nay ở nước ta còn chưa hợp lý, chồng chéo, thiếu khoa học nên hiệu quả
chưa cao. Bên cạnh đó những sai lầm của con người trong quá trình sử dụng
đất cùng với sự tác động của thiên nhiên đã và đang làm hủy hoại môi trường
đất.Vấn đề quản lý và sử dụng đất đai một cách khoa học, hợp lý và đúng
pháp luật là nhiệm vụ mang tính cấp bách và lâu dài của nước ta.
Hiện trạng sử dụng đất phản ánh sự tác động của con người lên tài
nguyên đất đai, là kết quả của quá trình chọn lọc và sử dụng lâu đời của con
người. Vì vậy đánh giá tình hình sử dụng đất là một trong các hoạt động nhằm
hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đất đai phục vụ công tác quy hoạch
xây dựng nông thôn mới.
Xã Đức Vân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn là địa bàn có diện tích đất
nông nghiệp khá lớn (2550,64 ha, chiếm 89,05% tổng diện tích tự nhiên của
xã), địa hình tương đối phức tạp gây khó khăn cho công tác quản lý các ban
ngành. Dân số sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp. Đất đai màu mỡ
nhưng sử dụng chưa hợp lý, chưa có biện pháp cải tạo đất nên hiệu quả sử
dụng đất chưa cao. Việc đánh giá tình hình sử dụng đất trên địa bàn xã là một
2
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận của đánh giá đất
2.1.1. Các khái niệm liên quan.
2.1.1.1. Khái niệm về đất đai.
Đất là một phần của vỏ trái đất, nó là lớp phủ của lục địa mà bên dưới
nó là đá và khoáng sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì và khí quyển. Đất là
lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng sản xuất ra sản phẩm của cây trồng.
Đất là lớp phủ thổ nhưỡng, là thổ quyển, là một vật thể tự nhiên, mà nguồn
gốc của thể tự nhiên đó là do hợp điểm của 4 thể tự nhiên khác của hành tinh
là thạch quyển, khí quyển, thủy quyển và sinh quyển. Sự tác động qua lại của
bốn quyển trên và thổ quyển có tính thường xuyên và cơ bản.
Theo luật đất đai 2003 quy định: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô
cùng quá giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu
của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở
kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng”.
Các nhà kinh tế, thổ nhưỡng và qui hoạch Việt Nam cho rằng: “ Đất đai
là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được”.
Như vậy đã có rất nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau về đất
nhưng khái niệm chung nhất có thể hiểu: Đất đai là khoảng không gian có
giới hạn, theo chiều thẳng đứng, gồm: Khí hậu của bầu khí quyển, lớp phủ thổ
nhưỡng, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm
và khoáng sản trong lòng đất; theo chiều ngang, trên mặt đất là sự kết hợp
giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn thảm thực vật với các thành phần khác,
nó tác động giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản
xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người.
2.1.1.2. Khái niệm đất nông nghiệp.
Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí
nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục
tính nhất định. LUT là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng
đất với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện kinh tế xã hội
và kỹ thuật được xác định. Trong sản xuất nông nghiệp, loại hình sử dụng đất
được hiểu khái quát là hình thức sử dụng đất đai để sản xuất hoặc phát triển
5
một nhóm cây trồng, vật nuôi trong một chu kỳ hoặc chu kỳ nhiều năm.
Ngoài ra LUT còn có nghĩa là kiểu sử dụng đất.[5]
2.1.1.5. Khái niệm đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit – LMU)
Đơn vị bản bồ đất đai là một hợp phần của hệ thống sử dụng đất trong
đánh giá đất. LMU là khoanh/vạt đất được xác định củ thể trên bản đỗ đơn vị
đất đai với những đặc tính và tính chất đất đai riêng biệt thích hợp đồng nhất
cho từng LUT, có cùng một điều kiện quản lý đất và cùng một khả năng sản
xuất và cải tạo đất. [5]
2.1.1.6. Khái niệm yêu cầu sử dụng đất.
Yêu cầu sử dụng đất là những đòi hỏi về đặc điểm và tính chất đất đai
để đảm bảo cho mỗi loại hình sử dụng đất nêu lên trong đánh giá đất phát
triển bền vững. Mỗi loại hình sử dụng đất đai có những yêu cầu cơ bản khác
nhau, để việc phân hạng mức độ sử dụng thích hợp được chuẩn xác, cần phải
cân nhắc, xem xét cận trọng cho sát đúng và phù hợp với thực tế, dựa trên cơ
sở 3 nhóm yêu cầu sử dụng đất sau:
- Các yêu cầu sinh trưởng hoặc sinh thái: Các yêu cầu sinh lý của LUT
cần thiết cho sự sinh trưởng và sự sống của LUT sẽ được tính vào mức đầu tư
và quản lý đã được xác định khi mô tả LUT.
- Các yêu cầu quản lý: Các yêu cầu này liên quan đến các thuộc tính kỹ
thuật và quản lý của LUT.
- Các yêu cầu về bảo vệ: Các yêu cầu này nhằm đảm bảo LUT trên cơ
sở bền vững, cụ thể là chống thoái hóa đất và thoái hóa thực vật.
2.1.1.7. Khái niệm chất lượng đất
Chất lượng đất đai là khả năng thực hiện chức năng của từng loại đất
riêng biệt trong giới hạn của hệ sinh thái nhân tạo hoặc tự nhiên để:
Đôcutraiev cho rằng để đánh giá đất đai có hiệu quả cần nghiên cứu
khả năng tự nhiên của đất. Theo ông khả năng tự nhiên của đất là yếu tố quyết
định giá trị của đất và thu nhập từ đất.
- Những yếu tố đánh giá đất và chỉ tiêu của chúng ở những vùng khác
nhau thì khác nhau.
- Những yếu tố đánh giá đất dự đoán chủ yếu là những yếu tố có mối
liên quan chặt chẽ với năng suất cây trồng và được thể hiện giá trị tương đối
bằng điểm.
7
- Những yếu tố đánh giá đất chủ yếu là:
+ Loại đất phát sinh.
+ Những số liệu phân tích về tích chất đất (tính chất hóa học, tính chất
lý học và các dấu hiệu khác).
- Việc lựa chọn các yếu tố đánh giá đất cần được hoàn thiện để phù hợp
với điều kiện khí hậu, điều kiện kinh tế - xã hội của vùng.[2]
b/ Luận điểm đánh giá đất của Pháp
Theo Đôlômông khả năng của đất ảnh hưởng rất lớn đến đặc tính dinh
dưỡng của cây trồng và ở mức độ nhất định, sinh trưởng, phát triển và khả
năng cho năng suất của cây trồng đã thể hiện được tính chất của đất. Theo
luận điểm này, có thể lập được một thang năng suất biểu thị tương quan sơ bộ
với đặc tính đất đai và đánh giá đất theo độ phì của đất dựa trên nguyên tắc
thống kê năng suất cây trồng nhiều năm.Tuy nhiên đánh giá đất theo độ phì có
những bất cập sau:
- Không thể chỉ dựa vào một loại cây trồng để làm tiêu chuẩn đánh giá
đất có giá trị mà cần phải thống kê năng suất của các loại cây trồng trong hệ
thống luân canh.
- Đánh giá đất theo năng suất cây trồng ở mức độ nhất định cũng thể
hiện trình độ của người sử dụng đất, bởi vì kết quả tổng hợp của tất cả các
biện pháp kỹ thuật tác động là tiền đề để tăng độ màu mỡ của đất.
- Độ phì nhiêu của đất phụ thuộc vào nhiều loại hình thái phẫu diện đất,
Từ ngàn xưa ông cha ta đã có cách phân hạng ruộng đất thành ruộng xấu,
ruộng tốt. Đánh giá phân hạng đất đai là một đòi hỏi của thực tiễn nông
nghiệp.Từ thời phong kiến, các triều đại phong kiến nước ta đã thực hiện đo đạc,
phân hạng theo kinh nghiệm nhằm quản lý đất đai cả về số lượng lẫn chất
lượng.Năm 1092 nhà Lý tiến hành đo đạc ruộng đất lần đầu tiên và lập danh bạ
để đánh thuế đất đai. Đến nhà Hậu Lê ruộng đất đã được phân chia thành các
hạng: Nhất đẳng điền, nhị đẳng điền…nhằm phục vụ việc quản điền và thu thuế.
Đến thời kỳ Pháp thuộc, cách phân hạng được thực hiện đối với một số
đồn điền nhằm đánh thuế. Vào năm 1886, Pavie và cộng sự đã tiến hành khảo
sát vùng Trung Lào, Trung bộ và Đông Nam Bộ Việt Nam. Cuối cùng vào
năm 1890 kết quả này được xem là tài liệu nghiên cứu đầu tiên của Việt Nam
và cả Đông Dương.
9
Năm 1954 đất nước ta chia làm hai miền: Ở miền Bắc cùng với công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, việc đánh giá đất đai bắt đầu được nghiên
cứu, chủ yếu là việc nghiên cứu đánh giá đất của Liên Xô cũ theo trường phái
Đôcutraiev.
Những năm gần đây, công tác đánh giá đất đai đã và đang được nghiên
cứu và triển khai nhằm phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất theo hướng
chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển nông nghiệp bền vững. Các chương
trình nghiên cứu đánh giá đất đã được triển khai rộng trên phạm vi toàn quốc
với nhiều đối tượng cây trồng và vùng đất chuyên canh khác nhau. Các nhà
khoa học đất của các cơ quan nghiên cứu và đào tạo về đất đai của Việt Nam
đã phối hợp với nhau, đồng thời mở rộng mối quan hệ hợp tác với các tổ chức
và nhà khoa học Quốc tế để nhanh chóng tiếp thu chương trình đánh giá phân
hạng đất của FAO, vận dụng có kết quả do tình hình của Việt Nam. Những
kết quả ban đầu của chương trình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong đánh giá đất
của FAO vào các vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau của Việt Nam, đặc
biệt đã vận dụng thành công về các bước đi trong đánh giá đất và vận dụng
các chỉ tiêu phân cấp cụ thể cho vùng đã được ghi nhận khả quan. Điển hình
- Xây dựng thang tiêu chuẩn thích hợp cho các loại sử dụng đất đó.
- Hệ thống cấu trúc phân hạng đất đai.
2.2.3 Các bước đánh giá đất.
Bước 1: Xác định mục tiêu, chọn tỷ lệ bản đồ đánh giá đất
* Xác định mục tiêu
Lựa chọn điều kiện sử dụng đất hợp lý nhất cho mỗi đơn vị xác định,
xem xét các yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và bảo vệ tài nguyên
môi trường cho việc sử dụng đất hiện tại và tương lai.
* Chon tỷ lệ bản đồ đánh giá đất đai
Bản đồ thể hiện kết quả đánh giá đất đai thông nhất thống nhất với các
tỷ lệ bản đồ và quy hoạch cho các đơn vị quản lý hành chính, quản lý dự án.
Ở nước ta tỷ lệ bản đồ thường chọn là:
- Cấp quốc gia:1/1.000.000 - 1/500.000
- Cấp vùng sinh thái nông nghiệp : 1/250.000
- Cấp tỉnh: 1/100.000 - 1/50.000
- Cấp huyện: Diện tích lớn ở miền núi 1/50.000
11
Diện tích trung bình là 1/25.000
Diện tích nhỏ là 1/10.000
Bước 2: Thu thập tài liệu
* Những tài liệu về tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
* Tài liệu về kinh tế - xã hội.
Bước 3: Xác định đơn vị đất đai
* Điều tra các thông tin, dữ liệu về tài nguyên đất.
* Xác định các đơn vị bản đồ đất đai.
Bước 4: Xác định loại hình sử dụng đất.
* Lựa chọn và mô tả loại hình sử dụng đất
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất.
- Lựa chọn loại hình sử dụng đất (LUT).
- Mô tả các loại hình sử dụng đất.
kiện cấp xã của nước ta nhằm phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất hợp lý.
- Đánh giá đất đai có ý nghĩa thực tiễn là kết quả nghiên cứu của đề tài,
phản ánh mức độ thích hợp của một đơn vị đất đai đối với mỗi loại hình sử
dụng đất hiện tại, từ đó có hướng khai thác sử dụng hợp lý.
2.3. Hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất
2.3.1. Khái quát hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc mang lại. Do tính chất
mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu ngày càng cao của con
người mà ta phải xem xét kết quả tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra
kết quả đó là bao nhiêu? Có đưa ra kết quả hữu ích không? Chính vì thế khi
đánh giá kết quả hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết
quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra
sản phẩm đó.
Để xác định bản chất và khái niệm hiệu quả cần xuất phát từ những
luận điểm của Mác và những luận điểm lý thuyết hệ thống sau:
- Thứ nhất: Bản chất của hiệu quả là yêu cầu tiết kiệm thời gian, thể
hiện trình độ nguồn lực của xã hội. Các Mác cho rằng quy luật tiết kiệm thời
gian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt tồn tại trong nhiều phương thức
sản xuất. Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật đó, nó quyết
13
định động lực phát triển của lực lượng sản xuất, tao điều kiện phát triển văn
minh xã hội và nâng cao đời sống của con người qua mọi thời đại.
- Thứ hai: Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã
hội là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành
giữa con người với con người trong quá trình sản xuất. Hệ thống sản xuất xã
hội bao gồm trong nó các quá trình sản xuất, các phương tiện bảo tồn và tiếp
tục đời sống xã hội, đáp ứng các nhu cầu của xã hội, nhu cầu của con người là
những yếu tố khách quan phản ánh mối quan hệ nhất định của con người với
môi trường bên ngoài. Đó là quá trình trao đổi vật chất giữa sản xuất xã hội và
môi trường.
đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng vật chất xã hội. ( Phạm Vân Đình, 2011).
* Hiệu quả xã hội: Phản ánh mối tương quan giữa kết quả thu được về
mặt xã hội mà sản xuất mang lại với các chi phí sản xuất xã hội bỏ ra. Loại
hiệu quả này chủ yếu đánh giá về mặt xã hội do hoạt động sản xuất mang lại.
“Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác
định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp” (Nguyễn
Duy Tính, 1995),
Từ những quan điểm trên cho thấy, giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả
xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là một
phạm trù thống nhất, phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất với các lợi
ích xã hội mà nó mang lại. Trong giai đoạn hiện nay, việc đánh giá hiệu quả
xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là nội dung được nhiều nhà
khoa học quan tâm.
* Hiệu quả môi trường: Hiệu quả môi trường là xem xét sự phản ánh
của môi trường đối với hoạt động sản xuất. Từ các hoạt động sản xuất, đặc
biệt là sản xuất nông nghiệp đều ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường. Đó có
thể là ảnh hưởng tích cực đồng thời có thể là ảnh hưởng tiêu cực. Thông
thường hiệu quả kinh tế thường mâu thuẫn với hiệu quả môi trường. Chính vì
vậy khi xem xét cần phải đảm bảo tính cân bằng với phát triển kinh tế, nếu
không thường sẽ bị thiên lệch và có những kết luận không tích cực.
Xét về khía cạnh hiệu quả môi trường, đó là việc đảm bảo chất lượng
đất không bị thoái hóa, bạc màu và nhiễm các chất hóa học trong canh tác.
15
Bên cạnh đó còn có các yếu tố như độ che phủ, hệ số sử dụng đất, mối quan
hệ giữa các hệ thống phụ trợ trong sản xuất nông nghiệp như: Chế độ thủy
văn, bảo quản chế biến, tiêu thụ hàng hóa.
2.3.2. Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất
“Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp.
Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3 - 5 tỷ ha. Nhân loại đang
làm hư hại khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện nay có khoảng 6 - 7 triệu ha đất nông
- Truyền thống, kinh nghiệm và tập quán sử dụng đất lâu đời của nhân
dân Việt Nam.
- Những số liệu, tài liệu thống kê định kỳ về sử dụng đất ( diện tích,
năng suất, sản lượng), sự biến động và xu hướng phát triển.
- Chiến lược phát triển của các ngành: Nông nghiệp, lâm nghiệp, công
nghiệp, xây dựng, giao thông…
+ Các dự án phát triển kinh tế - xã hội của các vùng của địa phương.
+ Kết quả nghiên cứu tiềm năng đất đai về phân bố, sản lượng, chất
lượng và khả năng.
+ Tốc độ gia tăng dân số, dự báo dân số qua các thời kỳ, truyền thống,
kinh nghiệm và tạp quán sử dụng đất lâu đời của nhân dân Việt Nam.
2.4.2. Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Sử dụng đất phải gắn liền với định hướng kinh tế - xã hội của địa phương.
- Khai thác sử dụng đất phải dựa trên cơ sở quy hoạch và lập kế hoạch
sử dụng đất.
- Khai thác sử dụng đất phải đạt hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường và
tiến tới sự ổn định bền vững lâu dài.
- Khai thác sử dụng đất phải gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
- Khai thác sử dụng đất phải đảm bảo khai thác tối đa lợi thế so sánh,
tiềm năng của từng vùng trên cơ sở kết hợp giữa chuyên môn hóa và đa dạng
hóa sản phẩm và sản xuất hàng hóa.
- Khai thác sử dụng đất phải đảm bảo ưu tiên trước hết cho mục tiêu
đảm bảo an ninh lương thực của các nông hộ và địa phương.
- Khai thác sử dụng đất phải đảm bảo ổn định về xã hội, an ninh quốc phòng.
17
2.4.3. Định hướng sử dụng đất
Định hướng sử dụng đất nông nghiệp là xác định phương hướng sử
dụng đất nông nghiệp theo điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế, điều kiện vật
chất xã hội, thị trường…đặc biệt là mục tiêu, chủ trương chính sách của nhà