xu hướng nghề của học sinh và công tác tư vấn hướng nghiệp ở một số trường trung học phổ thông quận 12 thành phố hồ chí minh - Pdf 14



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ TRƯỜNG HÂN XU HƯỚNG NGHỀ CỦA HỌC SINH
VÀ CÔNG TÁC TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP Ở
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC
Mã số: 603180
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và
kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các tác giả cho phép sử
dụng và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác.
Tác giả luận văn

NGUYỄN THỊ TRƯỜNG HÂN


MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong thế kỷ XXI, con người chứng kiến những biến đổi lớn về thò trường
nghề nghiệp. Xu thế hội nhập kinh tế thế giới và toàn cầu hoá khiến cho các
ngành nghề phát triển đa dạng. Bên cạnh sự xuất hiện của nhiều nghề mới thì
không ít nghề cũ phải mất đi hoặc thay đổi công nghệ…
Ở bất cứ ngành nghề hoặc lónh vực hoạt động nào, nguồn lực con người
luôn là yếu tố cơ bản của mọi sự phát triển, quyết đònh sự thành công hay thất
bại. Do đó, vấn đề nguồn nhân lực luôn được đặt lên hàng đầu. Thực tế cho thấy,
con người có thể phát huy tất cả thế mạnh của mình nếu được làm công việc yêu
thích và phù hợp. Điều này được bắt nguồn từ việc đònh hướng đúng đắn về nghề
nghiệp đònh chọn.
Lứa tuổi học sinh THPT, học tập không chỉ đơn thuần là tiếp thu tri thức
mà còn gắn liền với việc chọn nghề. Chọn cho mình một nghề nghĩa là chọn
tương lai, chọn hướng đi cho cả cuộc đời. Chọn nghề không phù hợp là tự đặt
mình vào một tương lai không vững chắc. Đây là quyết đònh mang tính bước
ngoặt của đời người, như nhận đònh của C.Mac: “Chọn nghề là ngày sinh nhật
thứ hai của cuộc đời”. Có thể nói, việc xác đònh đúng hướng đi cho mình ngay từ
lúc còn ngồi trên ghế nhà trường là một yếu tố quan trọng để gặt hái thành công
trong tương lai.
Tuy nhiên, đối với phần lớn học sinh, việc chọn được nghề phù hợp để lập
nghiệp sau này không phải dễ dàng, bởi nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố: năng
lực, hứng thú, tính cách, sức khoẻ, điều kiện kinh tế, nhu cầu xã hội… Chính vì
vậy, học sinh cần sự hỗ trợ từ gia đình, nhà trường và xã hội trong quá trình
hướng nghiệp, trong đó, nhà trường giữ vai trò chủ đạo. Năm 1981, trong quyết
đònh 126/CP của Hội đồng Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong trường phổ
thông có nêu rõ: “Công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông nhằm mục
2

đích bồi dưỡng, hướng dẫn việc chọn nghề của học sinh cho phù hợp với yêu cầu

cũng như hoàn cảnh gia đình” hay chưa? Câu hỏi này không chỉ dành cho các
trường THPT trên cả nước nói chung, mà còn dành cho các trường THPT Quận
12 thành phố Hồ Chí Minh nói riêng - một Quận có nhiều nét đặc trưng vì lòch sử
phát triển, vò trí đòa lý, quy hoạch phát triển kinh và điều kiện giáo dục.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, người nghiên cứu chọn đề tài: “Xu
hướng nghề của học sinh và công tác tư vấn hướng nghiệp ở một số trường trung
học phổ thông Quận 12 thành phố Hồ Chí Minh”.

2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng xu hướng nghề của học sinh và
công tác tư vấn hướng nghiệp ở một số trường THPT Quận 12 thành phố Hồ Chí
Minh. Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công
tác này.

3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu: giáo viên, cán bộ quản lý và học sinh ở 3 trường
THPT Quận 12 thành phố Hồ Chí Minh: VÕ TRƯỜNG TOẢN, THẠNH LỘC và
TRƯỜNG CHINH.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Xu hướng nghề và công tác tư vấn hướng nghiệp.

4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
- Đa số học sinh ở các trường THPT Quận 12 đều có xu hướng học lên Đại
học. Học sinh lựa chọn ngành nghề và trường để thi phần nhiều theo cảm tính,
các em chỉ căn cứ vào một hoặc một vài yếu tố mà chưa có sự quan tâm đúng
mức đến những yếu tố quan trọng khác để chọn được nghề phù hợp.
- Công tác tư vấn hướng nghiệp đã được các trường THPT Quận 12 tổ chức
thực hiện nhưng chưa hiệu quả. Đây là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng
đến việc học sinh lựa chọn trường hoặc nghề chưa phù hợp. Vì vậy, cần có những
4


- Nghiên cứu nhiều khía cạnh trong công tác tư vấn hướng nghiệp như
nội dung tư vấn hướng nghiệp, biện pháp tư vấn hướng nghiệp và các yếu tố liên
quan khác. Xem xét công tác tư vấn hướng nghiệp của các trường THPT trên đòa
bàn Quận 12 trong những điều kiện đặc trưng của Quận như: lòch sử phát triển, vò
trí đòa lý và quy hoạch phát triển kinh tế, nhưng vẫn thống nhất với mục tiêu
chung của giáo dục Việt Nam về công tác tư vấn hướng nghiệp.
7.1.2. Quan điểm thực tiễn
Thông qua việc khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng, đề tài cung cấp
một bức tranh thực tiễn vừa khái quát, vừa cụ thể về xu hướng nghề của học sinh
và công tác tư vấn hướng nghiệp của các trường THPT Quận 12. Qua đó, chỉ ra
những khó khăn rất thực mà học sinh gặp phải trong quá trình lựa chọn nghề
nghiệp tương lai và phát hiện những tồn tại trong công tác tư vấn hướng nghiệp
của các trường. Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu
quả của công tác tư vấn hướng nghiệp cho các trường THPT Quận 12.
7.1.3. Quan điểm lòch sử –lôgic
Tìm hiểu lòch sử nghiên cứu xu hướng nghề và tư vấn hướng nghiệp. Xem
xét xu thế phát triển kinh tế – xã hội và nhu cầu nguồn nhân lực ở các ngành
nghề trong những năm qua của đất nước và thành phố Hồ Chí Minh nói chung,
của Quận 12 nói riêng, đặc biệt những ngành nghề đang và sẽ cần phát triển.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: phân tích, tổng hợp và hệ thống hoá
các vấn đề lý luận trong sách, báo, văn bản, thông tin trên Internet có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu làm căn cứ để viết cơ sở lý luận cho đề tài.
7.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1. Phương pháp quan sát: tác giả quan sát có chủ đònh hoạt động của
phòng tư vấn, cách thức tổ chức một số biện pháp tư vấn hướng nghiệp của
trường cũng như sự tham gia, hưởng ứng của học sinh qua các buổi tư vấn hướng
nghiệp được các trường THPT kết hợp với các trường đại học, cao đẳng.
6


- Đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác tư vấn
hướng nghiệp cho học sinh các trường THPT Quận 12, đặc biệt là việc sử dụng
các trắc nghiệm khách quan vào công tác tư vấn hướng nghiệp.

9. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn bao gồm 3 phần:
- Phần 1: Mở đầu: trình bày các nội dung: Lý do chọn đề tài, mục đích
nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu,
giới hạn đề tài, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của luận văn.
- Phần 2: Nội dung luận văn: bao gồm 3 chương:
+ Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
+ Chương 2: Thực trạng xu hướng nghề của học sinh và công tác tư vấn
hướng nghiệp ở các trường THPT Quận 12
+ Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác tư vấn hướng
nghiệp ở các trường THPT Quận 12
- Phần 3: Kết luận và kiến nghò
8


mỹ; 4. Động cơ nhận thức; 5. Động cơ sáng tạo; 6. Các động cơ có liên quan đến
nội dung của lao động; 7. Động cơ vật chất; 8. Động cơ danh vọng; 9. Các động
cơ khác. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã khẳng đònh rằng
những động cơ chiếm vai trò chủ đạo và tối quan trọng là động cơ đạo đức và
động cơ xã hội [19, tr.9-10].
Theo A.V.Pêtropxki, nguyên nhân hấp dẫn học sinh lựa chọn một nghề
nào đó là do tính chất sáng tạo của lao động, ý nghóa xã hội của nghề nghiệp và
qui mô tiền lương. Tác giả nhận xét: học sinh THPT quan tâm nhiều nhất đến giá
trò xã hội của nghề, sau đó mới đến giá trò vật chất [41]. Tuy nhiên, chưa thấy tác
giả đề cập đến hứng thú của học sinh với nghề nghiệp tương lai và các yếu tố
ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề của học sinh.
Trong công trình nghiên cứu của mình, N.D. Lêvitov đánh giá động cơ
chọn nghề có ý nghóa to lớn đối với sự hình thành nhân cách và việc tự quyết
đònh đường đời của thanh niên. Khi chọn nghề thì xu hướng xã hội thường kết
hợp với động cơ cá nhân như hứng thú đối với một công việc nào đó, nhận thấy
mình có năng lực về công tác đó. Ông đã đưa ra một số động cơ bên trong và
bên ngoài có ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề của học sinh và đã nhận xét, học
sinh chú ý đến hứng thú, năng lực, nguyện vọng của mình khi chọn nghề nhưng
chưa nêu lên được thứ bậc động cơ nào chiếm ưu thế trong việc chọn nghề [29].
V.A. Cruchetxki cho rằng nghề được chọn phù hợp với nguyện vọng của
cá nhân khi khuynh hướng cá nhân đối với một dạng lao động nhất đònh, các
năng lực đối với dạng lao động ấy và sự đánh giá các ý nghóa xã hội của nó được
kết hợp nhuần nhuyễn với nhau mang lại sự thoả mãn về đạo đức cho con người
và lợi ích tối đa cho xã hội [15].
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu Mỹ thuộc nhóm lý luận về động
cơ mà đại diện là G.Reynolds, J.Shister, A.Roe, A.A.Maslow thì điều kiện để
con người thoả mãn với một nghề nghiệp là: 1. Tính độc lập và tính chất của sự
chỉ dẫn; 2. Mối quan hệ qua lại tốt với đồng sự, đòa vò xã hội; 3. Sự công bằng; 4.
10


gia tư vấn với học sinh và phụ huynh học sinh [49]. Tác giả xin nêu mô hình
hướng nghiệp có tổ chức chặt chẽ và khoa học được thực hiện ở Pháp và Úc.
* Hướng nghiệp ở Pháp:
Pháp là một trong những nước rất đề cao công tác hướng nghiệp cho học
sinh và công việc này do những nhà tâm lý tư vấn hướng nghiệp đảm nhiệm,
thuộc biên chế của Bộ Giáo dục và làm việc tại các trung tâm độc lập với các
trường phổ thông. Công tác hướng nghiệp tại Pháp phân biệt rõ hai loại: đònh
hướng học đường (thường dành cho học sinh và thanh thiếu niên) và đònh hướng
nghề dành cho người trưởng thành đã đi làm. Mục tiêu của đònh hướng học
đường nhằm giúp cho thanh thiếu niên có những lựa chọn tốt cho đường hướng
tương lai, phát triển bản thân; về mặt xã hội làm giảm tỉ lệ thất nghiệp ở thanh
thiếu niên, cũng như đảm bảo sự phân bố nguồn lực trong cơ cấu xã hội. Triết lý
của công tác hướng nghiệp ở Pháp là “làm cho cá nhân nhận thức được những
đặc tính, năng lực của cá nhân và phát triển các đặc tính đó để chọn ngành học
và các hoạt động chuyên môn trong các hoàn cảnh của đời sống với mong muốn
được phục vụ xã hội và phát triển trách nhiệm của mình”. Có 3 cách thức đònh
hướng học đường: 1: hướng nghiệp ban đầu trong hệ thống trường phổ thông; 2.
Học nghề dưới dạng hợp đồng lao động chuyên biệt dành cho nhóm thanh niên
từ 16 đến 25 tuổi. Cơ sở sử dụng lao động phải tổ chức việc đào tạo thực hành
nghề và chỉ đònh người hướng dẫn. Sau khi làm việc, học viên được cấp chứng
chỉ nghề. Học viên được trả lương theo qui đònh của pháp luật. Kinh phí cho học
nghề được lấy kinh phí của cơ sở sử dụng lao động, nhà nước và đòa phương. 3.
Thanh niên từ 16-25 tuổi rời trường phổ thông nhưng không đạt được bằng cấp
hoặc chứng chỉ nào được hưởng những hỗ trợ đặc biệt của chính quyền (kí hợp
đồng dự thính, hợp đồng làm thế chỗ) nhằm cung cấp cho họ các kỹ năng nghề
cơ bản và giúp họ xâm nhập vào thò trường lao động. Các nhà tâm lý tư vấn đònh
hướng có trình độ tương đương Thạc só chuyên về tư vấn đònh hướng. Nhiệm vụ
của họ là: 1. Tham gia giám sát liên tục học sinh và thành công học tập của các
12


lónh vực trách nhiệm chủ yếu: chính sách, triển khai, sự chòu trách nhiệm [28].
1.1.2. Ở Việt Nam
1.1.2.1. Vấn đề nghề nghiệp và xu hướng nghề
Ở nước ta, vấn đề nghề nghiệp và xu hướng nghề của học sinh cũng đã
được nhiều tác giả đề cập:
Kết quả nghiên cứu về xu hướng chọn nghề, dự đònh nghề nghiệp của học
sinh THPT được trình bày trong tác phẩm “Một số vấn đề tâm lý học sư phạm và
lứa tuổi học sinh Việt Nam” (1975) của tập thể tác giả thuộc Viện Khoa học
Giáo dục cho thấy: đa số học sinh có xu hướng đạt trình đại học trước khi đi vào
lao động phục vụ (78.64% ở nữ, 63.38% ở nam). Hứng thú nghề nghiệp của nam
biểu hiện tập trung vào những nghề công nghiệp và của nữ là những nghề thuộc
lónh vực y tế. Từ đó, các tác giả đi đến tìm hiểu những yếu tố tác động đến sự
hình thành xu hướng nghề nghiệp của học sinh cấp III [31].
Các tác giả Nguyễn Thò Xuân Hoà, Nguyễn Thò Bích Hồng, Phạm Thò
Dung (1986-1987) đã đề cập đến xu hướng, nguyện vọng, lý do chọn nghề của
học sinh lớp 12. Kết quả cho thấy xu hướng học lên đại học là xu hướng chủ yếu
của học sinh sau khi tốt nghiệp THPT. Việc chọn nghề của học sinh chòu sự tác
động của nhiều yếu tố khác nhau. Nhưng lý do chủ yếu là phù hợp khả năng bản
thân và hứng thú cá nhân.
Trong khi đó, kết quả nghiên cứu về xu hướng nghề nghiệp của hai tác giả
Phạm Nguyệt Lãng và Trần Anh cho thấy: thanh niên học sinh suy nghó về nghề
rất muộn. Suy nghó đó luôn luôn thay đổi và thiếu ổn đònh. Các nghề mà thanh
niên học sinh chọn đều hướng về phân phối lưu thông và dòch vụ. Đáng chú ý là
3 ngành chủ chốt trong 3 chương trình kinh tế chủ chốt của đất nước như nông
nghiệp, công nghiệp và thủ công nghiệp thì thanh niên chưa coi là loại nghề yêu
thích. Vấn đề khoa học kỹ thuật là một yêu cầu phát triển của đất nước cũng
chưa được thanh niên quan tâm và coi là nghề say mê, yêu thích của mình [17].
14

Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cùng đồng nghiệp đã nghiên cứu đặc điểm về

nghề nghiệp phù hợp hơn [38].
Hai tác giả Nguyễn Thạc và Nguyễn Thò Ngọc Liên nghiên cứu xu hướng
chọn nghề của học sinh trung học phổ thông có kiểu nhân cách khác nhau ở ba
khía cạnh: nhận thức của học sinh về yêu cầu nghề lựa chọn, thái độ của học
sinh đối với nghề được chọn và thực trạng chọn nghề của học sinh có kiểu nhân
cách khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy: có mối quan hệ giữa kiểu nhân
cách hướng nội, hướng ngoại với việc lựa chọn nghề của học sinh THPT. Họ đã
lựa chọn nghề chỉ ở trình độ cao (đại học) và tương đối phù hợp với kiểu nhân
cách. Theo hai tác giả, việc phát hiện kiểu nhân cách của học sinh và chỉ ra
những phẩm chất cần có của mỗi nghề sẽ là căn cứ cơ bản để tư vấn hướng
nghiệp cho học sinh THPT [42].
Kết quả nghiên cứu xu hướng nghề nghiệp của học sinh trung học của tác
giả Đào Thò Oanh cho thấy: hầu hết học sinh đã xác đònh được cho mình những
hứng thú đối với một số lónh vực tri thức và nghề nghiệp tương ứng. Tuy nhiên,
chưa thấy có sự thể hiện rõ khuynh hướng nghề nghiệp đối với bất cứ lónh vực
nào. H ọc sinh chỉ mới dừng lại ở mong muốn hiểu biết chứ chưa đạt tới nguyện
vọng được làm việc trong lónh vực đó. Theo tác giả, điều này có thể có nhiều
nguyên nhân nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản nhất là công tác hướng
nghiệp trong nhà trường phổ thông chưa được thực hiện hiệu quả [35].
Trong công trình nghiên cứu về khả năng tự đònh hướng cho nghề nghiệp
và cuộc sống tương lai của học sinh trung học phổ thông, tác giả Đặng Hoàng
Minh và các cộng sự kết luận: Trong các dự đònh về nhiều vấn đề khác nhau,
vấn đề học tập – nghề nghiệp được quan tâm hàng đầu. Nghiên cứu cũng chỉ ra
mối quan hệ mật thiết, biện chứng về xu hướng hành động, các mức độ chuẩn bò
cho kế hoạch tương lai và các dự đònh cụ thể [32]. 16

1.1.2.2. Hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp

yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông” (11/2001). Nhiều trang web hướng nghiệp
xuất hiện trên mạng internet với những thông tin cụ thể về các ngành nghề, các
trường đào tạo, các trắc nghiệm về sự phù hợp nghề. Rất nhiều bài báo xoay
quanh vấn đề hướng nghiệp, phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THCS,
THPT. Kéo theo đó là sự ra đời và phát triển của các trung tâm tư vấn hướng
nghiệp, trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp…
Xét về lý luận lẫn thực tiễn, công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ
thông Việt Nam được gắn liền với các tác giả Nguyễn Văn Hộ, Phạm Tất Dong,
Đặng Danh Ánh, Đoàn Chi, Lê Đức Phúc [38, tr.12]. Trong những công trình của
mình, các tác giả đã giải quyết những vấn đề của công tác hướng nghiệp:
- Lòch sử phát triển hệ thống công tác hướng nghiệp ở các nước trên thế
giới và Việt Nam.
- Bản chất khoa học của công tác hướng nghiệp.
- Mục đích, nhiệm vụ, vai trò của công tác hướng nghiệp.
- Nội dung cơ bản và các hình thức hướng nghiệp.
- Vấn đề tổ chức và điều chỉnh công tác hướng nghiệp.
Trong những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu về công tác tư vấn
hướng nghiệp cho học sinh THPT đã được thực hiện. Có thể điểm qua một số
công trình tiêu biểu sau:
Nghiên cứu đònh hướng nghề nghiệp ở lứa tuổi học sinh THPT, hai tác giả
Nguyễn Văn Lê – Nguyễn Công Khanh kết luận [27]: Đa số học sinh THPT
chưa được đònh hướng nghề phù hợp, chưa được chuẩn bò tốt để sau khi tốt
nghiệp phổ thông có một bộ phận lớn học sinh có thể sẵn sàng tham gia ngay
vào thò trường việc làm. Đònh hướng nghề của học sinh THPT phụ thuộc rất lớn
vào sự giáo dục hướng nghiệp ở từng trường. Tuy nhiên, các hoạt động giáo dục
hướng nghiệp có vai trò mờ nhạt, chưa tạo được sự phát triển có sự khác biệt về
chất cả trên bình diện thái độ nghề nghiệp lẫn năng lực hiểu biết nghề nghiệp,
18

đặc biệt chưa phát triển được năng lực làm các quyết đònh nghề nghiệp phù hợp,

triển nguồn nhân lực (đề tài KX-05-09), hai tác giả Nguyễn Sinh Huy và Nguyễn
Văn Lê khẳng đònh: giáo dục hướng nghiệp thực chất là vấn đề văn hóa xã hội
phức tạp, nó không chỉ là vấn đề giáo dục, tư vấn, đònh hướng cho mỗi cá nhân
mà đòi hỏi sự tham gia của các lực lượng xã hội, gia đình và các đoàn thể xã hội
tương ứng. Hơn thế nữa, công việc này còn đòi hỏi không chỉ phải xây dựng và
tiến hành công việc theo căn cứ, các cơ sở khoa học và thực tiễn, mà còn đòi hỏi
sự bảo trợ của Nhà nước với các hỗ trợ về tài chính, cơ sở vật chất và nhất là về
pháp luật với cơ chế điều kiện thích hợp [25].
Ngoài ra, còn nhiều tác giả khác cũng nghiên cứu về hướng nghiệp như:
Quang Dương, Trần Thế Linh, Đoàn Văn Đàng, Phạm Thò Miền, Đào Văn Lê…
1.1.3. Một vài nhận xét chung
Vấn đề xu hướng nghề và công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh
THPT không phải là mới mẻ. Nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này đã
được thực hiện ở trong và ngoài nước. Đây chính là nguồn tài liệu q báu làm cơ
sở để tác giả triển khai đề tài này. Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy, phần lớn
các công trình khảo sát xu hướng nghề của học sinh THPT trên các đòa bàn khác
nhau trong cả nước. Nhiều nghiên cứu về công tác tư vấn hướng nghiệp cũng chỉ
dừng lại ở việc khảo sát thực trạng chứ chưa áp dụng một số biện pháp hướng
nghiệp cụ thể. Hơn nữa, bản thân thế giới nghề nghiệp luôn biến động và phát
triển không ngừng, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động ở từng đòa phương và trong
cả nước cũng có sự chuyển dòch, kéo theo đó là sự thay đổi về xu hướng đối với
các ngành nghề, các giá trò nghề nghiệp mà học sinh hướng tới. Vì vậy, việc
nghiên cứu vấn đề liên quan đến nghề nghiệp không bao giờ lỗi thời, mà ngược
lại, luôn có tính thời sự và mới mẻ. Ở Quận 12, đây là vấn đề thực tiễn của đòa
phương cần được quan tâm nghiên cứu nhưng cho đến nay vẫn chưa có công trình
nào đề cập đến. Và đó là lý do thúc đẩy người nghiên cứu thực hiện đề tài này.

20

1.2. KHÁI QUÁT VỀ NGHỀ

khác nhau về từng chuyên môn trong nghề. Nghề là thuật ngữ để chỉ một hình
thức lao động trong xã hội có được do sự phân công lao động, ở đó, con người sử
dụng sức lao động của mình để tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội.
Nghề là sự tổ hợp những chuyên môn có quan hệ cùng loại. Nói cách khác, một
nghề bao gồm nhiều chuyên môn. Ví dụ: nghề dạy học có giáo viên dạy Văn
học, giáo viên dạy Lòch sử, giáo viên dạy Đòa lý… chúng liên kết với nhau một
cách có ý nghóa trong một nhóm gọi là “nghề dạy học”.
Ở bất kỳ quốc gia nào cũng tồn tại hai loại nghề: nghề đào tạo và nghề
không được đào tạo.
+ Nghề không được đào tạo là nghề được hình thành tự phát do nhu cầu
của xã hội, do tích luỹ kinh nghiệm hoặc do sự truyền nghề từ người này sang
người khác, từ đời này sang đời khác.
+ Nghề đào tạo là nghề được ghi trong danh mục ngành nghề của Nhà
nước, được qui đònh rõ về nội dung, chương trình, thời gian, trình độ đào tạo,
được cấp chứng chỉ văn bằng tương ứng. Nghề đào tạo là trình độ tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo mà con người cần đạt được nhờ quá trình đào tạo dài hạn hoặc
ngắn hạn nhằm tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội, đòi hỏi người
học phải có trình độ học vấn nhất đònh, có sức khoẻ và những yêu cầu về tâm lý
phù hợp với nghề. Vì vậy, so với các nghề không được đào tạo thì nghề đào tạo
phức tạp hơn, có trình độ cao hơn; đối với các nghề thuộc về kỹ thuật thực hành
ít nhất phải có trình độ bán lành nghề nếu được đào tạo ngắn hạn, hoặc có trình
độ lành nghề hoặc lành nghề bậc cao nếu được đào tạo dài hạn [22].
- Giải thích khái niệm việc làm, giáo sư Lê Thi cho rằng: “Đó là công việc
đem lại lợi ích cho người lao động, tạo thu nhập để nuôi sống gia đình và bản
thân, bất kỳ ở ngành nghề gì và khu vực kinh tế nào (quốc doanh, tập thể, tư
nhân) và không bò pháp luật ngăn cấm”. Việc làm cũng có thể hiểu là hành động
cụ thể, là công việc được cho làm và được trả công để sinh sống.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status