Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ NGỌC HUYỀN
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GIAO TIẾP KHẨU NGỮ
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THPT TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Hoàng Mai Diễn Thái Nguyên - 2014
i
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ
từ Giáo viên hƣớng dẫn là TS. Hoàng Mai Diễn. Các nội dung nghiên cứu và
kết quả trong luận văn này là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất
cứ công trình nghiên cứu nào trƣớc đây. Những số liệu trong các bảng biểu
phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá đƣợc chính tác giả thu thập từ
các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo. Ngoài ra, luận văn
còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng nhƣ số liệu của các tác giả, cơ
quan tổ chức khác, và cũng đƣợc thể hiện trong phần tài liệu tham khảo. Nếu
phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trƣớc
Hội đồng, cũng nhƣ kết quả luận văn của mình.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc Huyền
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài "Bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu 3
3. Mục tiêu nghiên cứu 7
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 7
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 8
7. Đóng góp mới của luận văn 8
8. Cấu trúc của luận văn 8
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC GIAO TIẾP KHẨU
NGỮ 9
1.1. Khái quát về giao tiếp khẩu ngữ 9
1.1.1. Khái niệm khẩu ngữ 9
1.1.2. Khái niệm giao tiếp khẩu ngữ 10
1.1.3. Đặc điểm của giao tiếp khẩu ngữ 11
1.1.4. Khái niệm năng lực giao tiếp khẩu ngữ 16
1.2. Cơ sở tâm lí học và ngôn ngữ học về giao tiếp khẩu ngữ 17
1.2.1. Cơ sở ngôn ngữ học về hành vi giao tiếp khẩu ngữ 17
1.2.2. Cơ sở tâm lí học về diễn biến tâm lí giao tiếp khẩu ngữ 20
1.3. Một số nét khái quát về dạy học giao tiếp khẩu ngữ 24
1.3.1. Khái niệm về dạy học giao tiếp khẩu ngữ 24
1.3.2. Nguyên tắc dạy học giao tiếp khẩu ngữ 24
1.3.3. Phƣơng thức kiểm tra, đánh giá năng lực giao tiếp khẩu ngữ 26
v
1.4. Tầm quan trọng của dạy học giao tiếp khẩu ngữ 26
1.4.1. Tầm quan trọng của dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong môn Ngữ văn 26
1.4.2. Nguyên nhân của việc chƣa chú trọng dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong môn
Ngữ văn 27
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG DẠY HỌC GIAO TIẾP KHẨU NGỮ TRONG MÔN
NGỮ VĂN Ở MỘT SỐ TRƢỜNG THPT TỈNH THÁI NGUYÊN 31
2.1. Nội dung bồi dƣỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ trong Chƣơng trình giáo dục
trong dạy học môn Ngữ văn 44
Bảng 4.2: Khả năng giao tiếp khẩu ngữ của học sinh lớp 11 và lớp 12 ở một số trƣờng
THPT tỉnh Thái Nguyên 45
Bảng 5.2. Đánh giá của GV và HS về nguyên nhân ảnh hƣởng đến vấn đề rèn luyện
giao tiếp khẩu ngữ của học sinh một số trƣờng THPT tỉnh Thái Nguyên 47
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Sự phát triển của cách mạng khoa học - công nghệ với những bƣớc
nhảy vọt đã đƣa thế giới chuyển từ kỉ nguyên công nghệ sang kỉ nguyên thông
tin và tri thức, đồng thời tác động tới tất cả các lĩnh vực, làm biến đổi nhanh
chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội. Với sự phát triển
của các quốc gia hiện nay thì quá trình hội nhập toàn cầu đang làm cho việc rút
ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nƣớc trở nên thực tiễn và
nhanh chóng hơn. Với bối cảnh toàn cầu hóa hội nhập quốc tế đó, Việt Nam đã
từng bƣớc chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp
và kinh tế tri thức. Môi trƣờng này đòi hỏi ngƣời lao động phải có khả năng
hòa nhập, thích ứng, cạnh tranh quốc tế, đặc biệt là rèn luyện khả năng giao
tiếp để tham gia vào các mối quan hệ xã hội nhằm tồn tại và phát triển. Việc
rèn luyện kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ đƣợc đánh giá là góp phần tạo cho con
ngƣời cơ hội để biểu lộ niềm hi vọng, ƣớc mơ, những vấn đề, quan niệm, ý
kiến, cảm xúc và rèn luyện cách nói năng, mở rộng phạm vi giao tiếp trong xã
hội của mình. Vậy nên xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn trong nhà trƣờng phổ
đặc biệt là với học sinh cuối cấp THPT. Việc chƣa chú ý rèn luyện kĩ năng giao
tiếp khẩu ngữ ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả giao tiếp.
Bên cạnh đó, việc dạy học môn Ngữ văn ở bậc phổ thông phần lớn tập
trung vào các vấn đề ngữ pháp, từ pháp…dành nhiều thời gian cho kĩ năng đọc,
viết, dẫn đến việc học sinh ít đƣợc rèn luyện kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ. Hay
nói cách khác, vấn đề rèn luyện kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ của học sinh chƣa
đƣợc quan tâm một cách đúng mức.
Từ lí luận cũng nhƣ qua thực tiễn, vấn đề “bồi dƣỡng năng lực giao tiếp
khẩu ngữ cho học sinh” đƣợc các nhà lí luận, các nhà khoa học cũng nhƣ các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
nhà sƣ phạm trên thế giới đặc biệt quan tâm. Điều này khẳng định ý nghĩa, vai
trò và tầm quan trọng của vấn đề này trong nền giáo dục ngày nay. Môn Ngữ
văn cần đi theo hƣớng đổi mới: đổi mới từ nội dung chƣơng trình đến phƣơng
pháp dạy học theo hƣớng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, tăng cƣờng tƣ duy, sáng
tạo, tự tu dƣỡng, tự tạo việc làm” để đem lại hiệu quả thực sự.
Thái Nguyên là tỉnh miền núi thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc, việc
bồi dƣỡng kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh THPT là một việc tƣơng đối
khó khăn vì vốn tiếng Việt của học sinh không đồng đều.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài:
“Bồi dƣỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh trong dạy học Ngữ văn ở
trƣờng THPT tỉnh Thái Nguyên”.
2. Lịch sử nghiên cứu
Trong số tài liệu chúng tôi có đƣợc, vấn đề dạy học giao tiếp khẩu ngữ đã
đƣợc đặt ra và giải quyết ở những khía cạnh sau:
Ứng dụng của ngữ dụng học đề cao chức năng giao tiếp của ngôn ngữ hơn
là chỉ dạy cho học sinh nắm vững các cấu trúc. Ngữ dụng học chỉ ra rằng ngôn
ngữ có hai chức năng: chức năng hƣớng nội và chức năng hƣớng ngoại, trong
đó hai chức năng hƣớng ngoại cơ bản nhất của ngôn ngữ, là chức năng làm
công cụ giao tiếp và công cụ tƣ duy. Ở các nƣớc phát triển, ngƣời ta nhanh
trình hoạt động của nó, trong hành động, nghĩa là trong lời nói. Chỉ trong lời
nói, ngôn ngữ mới có ý nghĩa thực hành, chỉ trong lời nói, ngôn ngữ mới thể
hiện những khả năng tiềm tàng. Việc học ngữ pháp, ngữ âm, chính tả, cấu tạo
từ, những yếu tố tu từ trong nhà trƣờng phải đƣợc thực hiện trên cơ sở những
mẫu mực tốt nhất của lời nói sinh động, cả lời nói miệng lẫn lời viết, đƣợc hoàn
tất và đƣợc quán triệt trong lời nói của HS.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
David Nunan (1991) cho rằng dạy học ngôn ngữ theo quan điểm giao
tiếp là coi trọng việc học giao tiếp thông qua những tƣơng tác bằng ngôn ngữ
đích; đƣa ngôn ngữ đích vào tình huống học tập, tạo cơ hội cho ngƣời học
không những tập trung vào ngôn ngữ mà còn vào quá trình học tập; đề cao kinh
nghiệm bản thân của ngƣời học và coi nó là một yếu tố quan trọng trong quá
trình học tập, nỗ lực gắn việc học trên lớp với sử dụng ngôn ngữ tích cực ngoài
lớp học. Hƣớng cải tiến mới và khuynh hƣớng có ý nghĩa nhất trong những
năm gần đây và cho thế kỷ tiếp theo đƣợc các nhà ngôn ngữ học ứng dụng nhấn
mạnh ngay từ chuyên san Tạp chí số 9 của Hội Ngôn ngữ ứng dụng thế giới
(AILA): Dạy học ngôn ngữ phải gắn với giao tiếp vì giao tiếp là chức năng
trọng yếu của ngôn ngữ; vấn đề cấu trúc, cú pháp, kiến thức về từ vựng đƣợc
đƣa xuống hàng thứ hai. Họ cho rằng cần phải tập trung vào việc phát triển
năng lực giao tiếp hơn là chỉ dạy cho ngƣời học cách nắm vững các kiến thức lí
thuyết. Con ngƣời giao tiếp với nhau bằng công cụ quan trọng nhất là lời nói.
Do vậy, việc dạy học Ngữ văn trong nhà trƣờng nên đi theo hƣớng dạy học
bằng giao tiếp.
Ứng dụng của tâm lí - ngôn ngữ học chỉ ra rằng trong lời nói có yếu tố xã
hội và yếu tố cá nhân, chỉ trong lời nói, hệ thống ngôn ngữ mới bộc lộ hết đặc
điểm của nó. Nghiên cứu lời nói tức là nghiên cứu quá trình tiếp nhận lời nói,
sản sinh lời nói, là tìm hiểu diễn biến tâm lí của sự tiếp nhận và sản sinh ngôn
bản, nghiên cứu các dạng lời nói, các tình huống nói năng, các giai đoạn sản sinh
lời nói, tính hiệu quả của lời nói trong giao tiếp cá thể và trong giao tiếp với
các nhà nghiên cứu còn đề cập đến quan điểm phát triển kĩ năng giao tiếp theo
hai hƣớng: xu hƣớng tiếp cận theo tâm lý học giao tiếp và xu hƣớng tâm lý học
ứng dụng nhƣ: “Vấn đề giao tiếp” (Nguyễn Văn Lê), “Tâm lí học giao tiếp”
(Hoàng Anh) , Platon đã đề cập đến giao tiếp và cho rằng: “Đối thoại nhƣ là giao
tiếp trí tuệ nhƣ là sự phản ánh trí tuệ, phản ánh mối quan hệ giữa con ngƣời với
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
con ngƣời”. Rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh còn đƣợc thể hiện trong
chƣơng trình và sách giáo khoa Ngữ văn trong nhà trƣờng ở các cấp học. Nhìn
chung những công trình nghiên cứu này đã đi sâu vào phân tích đặc điểm về khả
năng giao tiếp, phản ánh thực tế giao tiếp của học sinh Việt Nam còn yếu về kĩ
năng giao tiếp thể hiện ở ba mặt sau: kĩ năng thuyết trình trƣớc đám đông, kĩ
năng truyền tin, kĩ năng lắng nghe và thu thập thông tin. Bên cạnh đó các công
trình nghiên cứu còn chỉ ra nhiều giáo viên chƣa thật quan tâm đến việc hƣớng
học sinh học môn Ngữ văn theo quan điểm giao tiếp và giao tiếp có hiệu quả,
cũng nhƣ có những giáo viên quan tâm đến việc bồi dƣỡng năng lực giao tiếp
khẩu ngữ cho học sinh nhƣng gặp khó khăn trong quá trình giảng dạy. Học sinh
không đƣợc trang bị những tri thức cơ bản nhất về kĩ năng nghe - nói hay thực
hành một cách bài bản. Cả giáo viên và học sinh vẫn thực hiện kĩ năng nghe - nói
mang tính tự phát, dựa trên những kinh nghiệm của bản thân trong suốt các giờ
dạy học.
Vì vậy, để đem lại một cái nhìn hệ thống về kĩ năng giao tiếp và đƣa ra
những giải pháp cho việc bồi dƣỡng kĩ năng giao tiếp cho học sinh THPT, việc
triển khai nghiên cứu đề tài “Bồi dƣỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học
sinh trong dạy học Ngữ văn ở trƣờng THPT tỉnh Thái Nguyên” là cần thiết.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở những nghiên cứu về lí luận và thực tiễn dạy học giao tiếp
khẩu ngữ, luận văn đề xuất một số giải pháp bồi dƣỡng kĩ năng giao tiếp khẩu
ngữ cho học sinh trong dạy học Ngữ văn ở trƣờng THPT tỉnh Thái Nguyên.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Chƣơng 2: Thực trạng dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong môn Ngữ văn ở
một số trƣờng THPT tỉnh Thái Nguyên
Chƣơng 3: Một số giải pháp bồi dƣỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ trong
dạy học Ngữ văn ở trƣờng THPT tỉnh Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC GIAO TIẾP KHẨU NGỮ
1.1. Khái quát về giao tiếp khẩu ngữ
1.1.1. Khái niệm khẩu ngữ
Hiện nay, các nhà khoa học đƣa ra nhiều định nghĩa khác nhau về khẩu ngữ.
Tác giả Hồ Ngọc Đức cho rằng khẩu ngữ là “Khả năng biểu đạt bằng lời
nói”, là ngôn ngữ nói thông thƣờng, dùng trong cuộc sống hằng ngày, có đặc
điểm phong cách đối lập với phong cách viết [22.tr146].
Theo Từ điển bách khoa toàn thƣ Việt Nam, khẩu ngữ là: “Ngôn ngữ tồn
tại chủ yếu ở dạng nói, đƣợc sử dụng để trao dổi tƣ tƣởng, tình cảm trong sinh
hoạt hàng ngày. Hình thức thông thƣờng là đối thoại. Có đặc điểm cơ bản là
phát ngôn ngắn, đơn giản về cấu trúc, thiên về sắc thái cảm xúc, nhiều biến thể
phát âm” [45.tr243]
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Khẩu ngữ là ngôn ngữ nói thông thƣờng, dùng
trong cuộc sống hàng ngày, có đặc điểm đối lập với phong cách viết”
[44.tr151].
Phong cách ngôn ngữ Tiếng Việt có thể chia làm hai loại hình: Phong
cách ngôn ngữ khẩu ngữ và Phong cách ngôn ngữ gọt giũa. Khẩu ngữ là ngôn
ngữ mà con ngƣời sử dụng trong giao tiếp bằng lời nói. Khẩu ngữ đƣợc hiểu là
cách sử dụng ngôn ngữ, là công cụ giao tiếp chủ yếu của nhân loại trong các
mối quan hệ tự nhiên và xã hội. Trƣớc khi chữ viết ra đời, loài ngƣời giao tiếp
với nhau bằng lời nói, sau khi chữ viết ra đời, loài ngƣời sáng tạo ra ngôn ngữ
viết cũng dựa trên cơ sở của lời nói.
những phƣơng tiện khác nhau, nhƣ hội họa, âm nhạc, điêu khắc… Nhƣng ngôn
ngữ là phƣơng tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của xã hội loài ngƣời.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Nhƣ vậy giao tiếp khẩu ngữ đƣợc hiểu ngắn gọn là giao tiếp bằng lời nói để
truyền đạt thông tin, trao đổi tƣ tƣởng tình cảm.
1.1.3. Đặc điểm của giao tiếp khẩu ngữ
1.1.3.1. Sự khác nhau của năng lực nghe nói và năng lực giao tiếp
khẩu ngữ
Sự khác nhau của năng lực nghe nói và năng lực giao tiếp khẩu ngữ ở chỗ:
năng lực nghe nói nhờ vào năng lực tiếp nhận và biểu đạt thông tin lời nói khẩu
ngữ. Giao tiếp khẩu ngữ là sự kết hợp giữa tri thức lời nói và kĩ năng giao tiếp,
không những cần phải chú ý đến chất lƣợng của nghe nói mà còn chú ý đến sự
chính xác, phù hợp, khéo léo và nhạy bén trong quá trình giao tiếp. Năng lực giao
tiếp khẩu ngữ còn có tính chiều hƣớng, tính động thái, tính phức hợp, tính tại chỗ
và ngắn gọn.
Tính chiều hƣớng là chỉ giao tiếp khẩu ngữ không chỉ bao gồm tính biểu
thuật một chiều, nó cũng bao gồm tính trao đổi hai chiều. Khi nói chuyện một
chiều, học sinh phải suy nghĩ tổ hợp từ nhƣ thế nào nói cho có lý, đồng thời
cũng phải chú ý đến phản ứng của ngƣời nghe để điều chỉnh giao tiếp cho phù
hợp, giao tiếp đƣợc tiến hành theo hai chiều, đƣợc thúc đẩy bởi sự phối hợp của
hai bên.
Tính phức hợp đƣợc thể hiện ở hai mặt, đầu tiên đối với cá thể HS, trong
quá trình giao tiếp HS là ngƣời phát ra câu chuyện, đồng thời cũng có thể là
ngƣời tiếp nhận câu chuyện, sau đó đối với hành vi lời nói hoàn thành giao tiếp
khẩu ngữ cần phải có nhiều hệ thống tham dự nhƣ: tƣ duy, ngôn ngữ, tình cảm,
ánh mắt, động tác của tay, biểu cảm khuôn mặt Các hệ thống này hỗ trợ phối
hợp, điều hòa nhất quán với nhau mới hoàn thành nhiệm vụ giao tiếp.
Tính hoàn cảnh là chỉ tất cả các hoạt động giao tiếp khẩu ngữ, đều là đối
tƣợng đối diện mặc định, đƣợc đặt trong hoàn cảnh ngôn ngữ mặc định, vì thế
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
ý đồ lời nói làm mục đích. Tuy nhiên khi đi dạy học, nhiệm vụ của việc rèn
luyện giao tiếp khẩu ngữ đảm nhiệm phức tạp hơn nhằm giúp HS nắm vững và
hiểu hiểu quá trình hình thành năng lực giao tiếp khẩu ngữ. Bồi dƣỡng cho HS
năng lực tri giác đảm bảo tính sắc bén trong lời nói là nói nhƣ thế nào, làm cho
tất cả HS đều có đƣợc cơ hội và năng lực phát triển tài nguyên ngôn ngữ. Giúp
cho HS điều chỉnh đƣợc khẩu ngữ, bút ngữ và thói quen cảm giác ngôn ngữ để
tiến hành giao tiếp có hiệu quả, đạt đƣợc mục đích học tập, giao lƣu, vui chơi…
của cá nhân mình. Từ đó giúp cho HS hiểu đƣợc sự khác biệt về mô thức ngôn
ngữ giữa các nền văn hóa, các dân tộc, các khu vực khác nhau, các tầng lớp xã
hội khác nhau, bồi dƣỡng cho HS có khả năng sử dụng thành thạo và có tính
lựa chọn hợp lí khi sử dụng các phƣơng tiện thông tin đại chúng.
So với khẩu ngữ hàng ngày, dạy học giao tiếp khẩu ngữ có ba đặc trƣng
lớn sau: Thứ nhất là tính toàn diện thể hiện ở hai mặt sau: với cá thể học sinh
cần phải rèn luyện khả năng sử dụng, vận dụng nhiều hình thức giao tiếp khẩu
ngữ. Với các nhân HS, loại năng lực này là bộ phận quan trọng cấu thành năng
lực tiếng mẹ đẻ, giúp HS đạt đƣợc, củng cố và phát triển ý nghĩa cụm từ ở tiếng
mẹ đẻ, trở thành năng lực đầu tiên sau khi rời nhà trƣờng đủ để phản ứng đối
với vấn đề ngôn ngữ và hoàn cảnh. Thứ hai là tính phản ánh giúp HS từng bƣớc
hình thành kĩ năng ngôn ngữ về mặt ý nghĩa phổ biến, chỉ có sự hiểu biết tốt về
ý nghĩa cụm từ của tiếng mẹ đẻ mới có thể nhanh chóng học tập và hiểu các
ngôn ngữ khác.Thứ ba là tính cơ hội, dạy học giao tiếp khẩu ngữ đảm nhiệm
một nhiệm vụ mà giao tiếp hàng ngày không thể làm đƣợc, đó là bồi dƣỡng
năng lực tƣ duy cho HS, điều này do tính chất của ngôn ngữ biết chữ quy định.
Ngôn ngữ biết chữ của mỗi ngƣời, không chỉ bao gồm năng lực tổng hợp của
nghe, nói, đọc, viết mà còn là năng lực giải quyết các loại vấn đề trong cuộc
sống cụ thể hàng ngày. Điều đó chính là yêu cầu trong các điều kiện khác nhau,
thông qua nghe, nói sắp xếp thông tin, phát hiện phƣơng án giải quyết. Trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
của lƣỡi, môi, hàm dƣới… Sự chuyển động nhịp nhàng, linh hoạt của bộ máy
phát âm sẽ giúp cho âm thanh ngôn ngữ chuẩn hơn. Luyện luồng hơi từ phổi ra
giúp cho sự cấu âm gọi là thở ngôn ngữ. Thở ngôn ngữ khác thở bình thƣờng ở
chỗ nó là thở có lí trí, thở bình thƣờng là thở sinh lý. Thở lí trí giúp chúng ta điều
khiển sự thở để ngừng nghỉ khi nói, khi phát âm… Luyện thở ngôn ngữ cho
ngƣời học là luyện kĩ năng hít vào nhanh, ngắn và thở ra nhịp nhàng, tạo điều
kiện cho khả năng nói các câu một cách thoải mái trong quá trình diễn đạt. Thở
ngôn ngữ đúng tạo điều kiện phát âm rõ nét, giữ đƣợc cƣờng độ nói phù hợp, lời
nói khúc triết, nhịp nhàng, ngữ điệu biểu cảm… Luyện giọng nói thể hiện đầy đủ
tất cả các mặt âm thanh ngôn ngữ của ngƣời học. Luyện giọng cho ngƣời học là
giúp biểu hiện thái độ, tình cảm của mình bằng lời nói, trong lời nói. Luyện
giọng cho ngƣời học là rèn luyện đặc tính của giọng nói nhƣ cao độ, cƣờng độ,
âm sắc… Phƣơng pháp cơ bản để luyện giọng là đọc và kể diễn cảm dƣới nhiều
cách bằng lời nói, bằng trò chơi đóng kịch…
Rèn luyện ngữ điệu của lời nói: Ngữ điệu là tổng hợp các phƣơng tiện
biểu cảm ngữ âm của lời nói, bao gồm giai điệu, tốc độ, nhịp điệu, trọng âm,
âm sắc… Rèn luyện ngữ điệu của lời nói giúp ngƣời học biết cách điều chỉnh
hơi thở ngôn ngữ để tạo nên sự hợp lý của âm thanh ngôn ngữ về cƣờng độ,
nhịp điệu, tốc độ của lời nói. Rèn luyện cho ngƣời học sử dụng ngữ điệu để tạo
nên sự biểu cảm về phƣơng diện âm thanh lời nói.
Dạy học giao tiếp khẩu ngữ và luyện tập khẩu ngữ có sự khác biệt rõ ràng
về thiết kế và thực thi dạy học:
Thứ nhất là trọng điểm dạy học không giống nhau: luyện tập khẩu ngữ quan
tâm bồi dƣỡng nghe nói cho HS, bao gồm rèn luyện cho HS có thể phát âm
chính xác, lựa chọn từ ngữ, lời nói phù hợp với quy tắc ngữ pháp, còn dạy học
giao tiếp khẩu ngữ rất quan tâm đến năng lực thích ứng ngữ cảnh của HS, bao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
gồm việc rèn luyện cho HS căn cứ vào đối tƣợng, trƣờng hợp và hoàn cảnh giao
tiếp, nắm vững chủ đề câu chuyện, dự đoán lập trƣờng quan điểm và ý đồ của
để thuyết phục, lôi cuốn ngƣời khác. Năng lực giao tiếp khẩu ngữ bao gồm
hai thành tố chính: Năng lực tổ chức bao gồm năng lực ngữ pháp, năng lực
diễn ngôn và năng lực ngữ dụng bao gồm năng lực ngôn ngữ xã hội và năng
lực tạo lời.
1.2. Cơ sở tâm lí học và ngôn ngữ học về giao tiếp khẩu ngữ
1.2.1. Cơ sở ngôn ngữ học về hành vi giao tiếp khẩu ngữ
Khái niệm năng lực giao tiếp khẩu ngữ đƣợc hiểu thông qua sự đối lập với
khái niệm năng lực ngôn ngữ. Hai khái niệm này xuất hiện đó là nhờ việc thực
hiện công trình nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học nổi tiếng ngƣời Pháp
Ferdinand De Saussure về sự phân biệt giữa “ngôn ngữ” và “lời nói”. Còn khái
niệm “năng lực” ở nghĩa ban đầu chỉ là khả năng đối với một việc gì đó, sau đó
đƣợc N.Chomxki đƣa vào dùng một cách chính thức trong lĩnh vực ngôn ngữ
học. Năng lực ngôn ngữ là khả năng của con ngƣời tạo ra đƣợc những câu đúng
trên cơ sở nắm vững những kiến thức ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm, tu từ của
ngôn ngữ đó. Còn năng lực giao tiếp khẩu ngữ, theo quan điểm của chúng tôi,
đó là việc lựa chọn và hiện thực hóa những chƣơng trình của hành vi lời nói tùy
thuộc vào khả năng định hƣớng trong hoàn cảnh này hoặc khác, khả năng phân
loại các tình huống sao cho phù hợp với chủ đề, nhiệm vụ và mục đích giao tiếp
ở ngƣời học trƣớc khi giao tiếp, trong khi giao tiếp và trong quá trình mô phỏng
các tình huống giống và gần giống nhƣ giao tiếp thực. Nói cách khác, năng lực
giao tiếp khẩu ngữ chính là khả năng tham gia vào giao tiếp, điều hƣớng trong
giao tiếp.
Giữa năng lực giao tiếp khẩu ngữ và năng lực ngôn ngữ có mối quan hệ và
tác động qua lại với nhau một cách biện chứng. Phát triển ngôn ngữ cho học sinh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
thực chất là phát triển hoạt động lời nói. Quá trình phát triển lời nói của học sinh
(HS) gắn bó rất chặt chẽ với 2 cơ chế của hoạt động lời nói là sản sinh ngôn ngữ
và tiếp nhận ngôn ngữ. Quá trình hình thành lời nói ở HS gắn bó rất chặt chẽ với
hoạt động của tƣ duy. Sự mạch lạc trong lời nói của HS thực chất là sự mạch lạc