BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
************** Nguyễn Văn Đức
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH HIỆN NAY Ở MỘT SỐ TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TỈNH LONG AN
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục.
Mã số: 60 14 05 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGÔ ĐÌNH QUA
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
ũ giáo viên (GV), cơ sở vật chất -
thiết bị được cải thiện [1].
Trong một số năm qua chất lượng giáo dục ở THPT đã có những tiến bộ và các điều kiện đảm
bảo chất lượng giáo dục ở THPT đã được cải thiện, tuy nhiên những tiến bộ này vẫn chưa đáp ứng
yêu cầu và đòi hỏi của thực tế giáo dục ở
cấp THPT.
Hiện nay thực trạng ở nhiều trường THPT còn một số hạn chế về tổ chức quản lý (QL) giáo
dục học sinh (HS), nhất là quản lý hoạt động học tập (QL HĐHT). Sự phân định trách nhiệm và quy
chế phối hợp giữa các bộ phận tham gia hoạt động giáo dục trong nhà trường chưa chặt chẽ. Công
tác phối hợp ba môi trường giáo dục chưa phát huy hiệu quả. Nhiều HS m
ất căn bản trầm trọng,
thiếu ý chí và hứng thú học tập, không gắn bó với thầy cô bạn bè, trường lớp, lười biếng, chán nản,
bỏ học và nhiều tiêu cực khác…gây ra hậu quả cho bản thân HS, gia đình, nhà trường, xã hội ở
hiện tại và tương lai.
Bản thân HS, nhà trường, gia đình và xã hội đều mong muốn HS được phát triển toàn diện về
nhân cách, trong đó cụ thể là chất lượng học t
ập, nhưng thực tế nhiều trường hợp những mong
muốn này không được thoả mãn. Nhà trường, nhất là giáo viên bộ môn (GVBM), giáo viên chủ
nhiệm (GVCN) bị lúng túng, gia đình lo lắng, nhà quản lý chưa tìm được được giải pháp hữu hiệu,
đôi khi sử dụng một số biện pháp gây phản tác dụng.
Trong hoạt động nhà trường công tác quản lý dạy, quản lý học, quản lý giáo dục học sinh,
quản lý nhân sự, tài chính cơ sở vậ
t chất…có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng
giáo dục. Chúng tôi thấy rằng quản lý học tập của học sinh là khâu đặc biệt, trực tiếp quyết định
chất lượng học tập của HS, nó có mối quan hệ chặt chẽ với các mặt quản lý khác trong nhà trường.
Nếu quản lý tốt thì sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động dạy và học, trong đó công tác quản lý của Hiệu
trưởng (HT) có vai trò quan tr
ọng.
Như vậy, việc nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động học tập
(QLHĐHT) của học sinh là vấn đề cấp thiết, đây là vấn đề luôn được đặt ra ở mỗi nhà trường, mỗi
đình, xã hội trong quản lý hoạt động học tập của học sinh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hoá cơ sở lý luận của đề tài.
5.2. Khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động học tập học sinh của một số trường THPT
tỉnh Long An.
5.3. Đề xuất một số giải pháp trong công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh hiện nay ở một số trường THPT tỉnh Long
An gồm các trường: THCS& THPT Mỹ Lạc, THPT Tân Trụ 2, THPT Châu Thành, THPT Thạnh
Hoá, THPT Nguyễn Hữu Thọ, THPT Tân An, THPT Thủ Thừa.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Cơ cở phương pháp luận
Một số quan điểm phương pháp luận như sau:
* Quan điểm hệ thố
ng - cấu trúc
Khách thể nghiên cứu là công tác quản lý của Hiệu trưởng trường THPT bao gồm các bộ phận
như quản lý hoạt động dạy, quản lý hoạt động học, quản lý giáo dục học sinh, quản lý nhân sự, quản
lý tài chính, quản lý cơ sở vật chất.
Các bộ phận này có mối quan hệ hữu cơ và có sự tác động tổng hợp đến chất lượng giáo dục.
Quản lý hoạt độ
ng học thông qua quản lý hoạt động dạy; quản lý giáo dục học sinh có tác động lớn
đến quản lý học tập; quản lý nhân sự, tài chính, cơ sở vật chất là điều kiện đảm bảo cho quản lý hoạt
động học và chất lượng học tập.
Các mặt quản lý của Hiệu trưởng có mối tương tác với các điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội
[27].
* Quan điể
m thực tiễn- logic
Công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh THPT trong điều kiện thực tiễn đang thực
hiện đổi mới giáo dục THPT và giáo dục THPT hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội,
đặc biệt chất lượng học tập của học sinh còn nhiều hạn chế.
sinh.
Ở mỗi n
ội dung quản lý chúng tôi liệt kê các giải pháp quản lý cụ thể và đề nghị người được
hỏi trả lời ở 2 mục: mục thực hiện và mục kết quả thực hiện.
Mục thực hiện có 2 cột, người trả lời đánh dấu X vào ô có hoặc không
Mục kết quả thực hiện có 4 cột, người trả lời đánh dấu X vào các ô Tốt, Khá, Trung bình(TB)
và Chưa đạt(CĐ
).
Phần 2: Chúng tôi đề xuất các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động
học tập và đề nghị người trả lời đánh dấu X vào một trong hai cột đồng ý hay không đồng ý. Phần
này giành cho đối tượng quản lý và giáo viên.
Phần 3: Gồm 4 câu hỏi mở nhằm tìm kiếm thu thập các biện pháp quản lý mới.
Phiếu điều tra dành cho học sinh khác phiếu điều tra dành cho người quản lý và giáo viên ở
chổ
là chỉ có mục đánh giá kết quả thực hiện của bảy nội dung quản lý hoạt động học tập.
- Phương pháp toán thống kê:
Chúng tôi sử dụng phần mềm thống kê SPSS 11.5 để xử lý kết quả điều tra viết với các phép
toán tính tỷ lệ %, trung bình, tương quan Pearson.
Cách thức xử lý như sau:
Phần 1 của bảng hỏi ở mục thực hiện, cách tính điểm như sau
- Mức độ thực hiện: Thực hiện (TH) = 1 ; Không thực hiện (KTH) = 0.
- Kết quả thực hiện: Tốt(T) =4 ; Khá(K) = 3 ; Trung bình(TB) =2; Chư
a đạt (CĐ)=1.
Sau khi hoàn thành khai báo biến và nhập liệu chúng tôi tính phần trăm số người đánh giá có
thực hiện và không thực hiện, tính trung bình từng nội dung. Về kết quả thực hiện tính tỷ lệ phần
trăm 4 mức độ thực hiện tốt, khá, trung bình, chưa đạt và giá trị trung bình của từng nội dung quản
lý.
Phần 2 của bảng hỏi chúng tôi thống kê số lượng và tỷ lệ phần tr
ăm số người đồng ý và không
đồng ý với từng nội dung giải pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh.
động cơ, phương pháp học quyết định trực tiếp kết quả học tập của chính bản thân người học.
Có nhiều nghiên cứu về học tập, tự học, quản lý học tập; trong phạm vi hiểu biết của mình, tôi
xin đơn cử một số sau đây:
Tác giả Trà Thị Huỳnh Mai (2005), với đề tài” Thực trạng quản lý hoạt động học tập đối với
sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Vĩnh Long”. Đề tài đã khái quát các nội dung quản lý học tập,
vai trò của chủ thể và khách thể quản lý H
ĐHT, sự phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế quản lý
HĐHT.
Luận văn thạc sỹ của Trần Thị Tư (2003), đề tài “ Một số biện pháp của Hiệu trưởng nhằm
nâng cao chất lượng học tập cho học sinh Trường THPT huyện Châu Thành A, Tỉnh Cần Thơ”. Đề
tài đề cập đến vai trò của mục đích, động cơ, thái độ, phương pháp họ
c tập đến kết quả học tập. Tác
giả cũng nêu ảnh hưởng của nội dung, phương pháp giảng dạy và điều kiện, môi trường học tập đối
với kết quả học tập. Trong đề tài cũng đã nêu lên một số lý luận quản lý hoạt động học tập nhưng
chưa đi sâu vào từng giải pháp cụ thể và chưa thể hiện sự
phát huy vai trò của từng bộ phận, cá nhân
trong nhà trường và sự phối hợp sức mạnh tổng hợp các lực lượng giáo dục.
Tác giả Phạm Thị Phương Thuỷ (2004), thực hiện đề tài “Một số biện pháp quản lý của HT
nhằm nâng cao năng lực tự học cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm mẫu giáo Trung ương 3”.
Đây cũng là nội dung QL HĐHT, vì tự học của học sinh là bộ phậ
n cốt lõi của HĐHT.
Trong đề tài “ Nghiên cứu sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc QL HĐHT của
HS các trường THPT tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu”. Tác giả Nguyễn Văn Trung đã khái quát một số lý
luận, thực trạng và giải pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình nhằm nâng cao kết quả học tập
của học sinh.
Trường ĐHSP, ĐH Huế có đề tài luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thanh Ti
ệp “ Biện pháp quản
lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng trường THPT khu vực Đồng Tháp Mười, tỉnh Long An “. Đề
tài đã đi sâu nghiên cứu biện pháp QL HĐGD và QL HĐHT, qua đó nêu được các nội dung QL
HĐHT, tuy nhiên chủ yếu đề cập đến quản lý HĐGD.
khác nhằm thu được kết quả mong muốn.
Quản lý là một khoa học và là một nghệ thuật. Quản lý là một khoa học vì nó là hoạt động dựa
trên những tri thức khoa học được hệ th
ống hoá, chủ thể quản lý vận dụng các quy luật để giải quyết
những vấn đề thực tiễn [18].
Quản lý là một nghệ thuật vì đây là hoạt động đăc biệt, hoạt động này đòi hỏi phải được vận
dụng một cách khéo léo, linh hoạt vào những tình huống rất đa dạng, trong những điều kiện không
gian thời gian, hoàn cảnh, đặc điểm khác nhau [5].
T
ừ những cơ sở trên, khái niệm quản lý có thể được hiểu như sau:
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể lên khách thể bằng việc vận
dụng những tri thức, kỹ năng nhằm khai thác có hiệu quả các tiềm năng và cơ hội của hệ thống tổ
chức đạt được mục tiêu dự kiến.
1.2.2. Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý giáo dục đến
khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của tổ
chức.
Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, của chủ thể quản lý (người
quản lý hay tổ chức quản lý) lên đối t
ượng giáo dục và khách thể quản lý giáo dục về mặt chính trị
văn hoá, xã hội, kinh tế,…bằng hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương
pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.
Quản lý giáo dục là quá trình đạt đến mục tiêu giáo dục của hệ thống giáo dục bằng cách vận
dụng các hoạt động (chức n
ăng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra [22,tr.8].
Tác giả Đỗ Ngọc Đạt cho rằng:” QLGD là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể
quản lý lên đối tượng quản lý trong hệ thống GD, sử dụng tốt nhất tiềm năng và điều kiện nhằm đạt
được mục tiêu quản lý đã đề ra theo đúng luật định và thông lệ hiện” [8, tr.8].
Nh
ư vậy quản lý giáo dục là việc thực hiện một hệ thống tác động quản lý của các cấp quản lý
t lớn đến phương pháp và kết quả học tập của
HS. Hoạt động dạy giúp HS tiếp thu tri thức mới và qua học t ập hình thành ở HS phương pháp tư
duy, kỹ năng, thái độ.
1.2.4.2. Hoạt động học
Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc thì “Học là khái niệm dùng để chỉ việc học theo phương thức
thường ngày, còn hoạt động học là khái niệm dùng để chỉ việc học diễn ra theo phương thứ
c đặc thù
(phương thức nhà trường), nhằm lĩnh hội các hiểu biết mới, kỹ năng, kỹ xảo mới”[11 ,tr62].
Theo Lê Văn Hồng “ Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục
đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng
hoạt động nhất định, những giá trị”[12, tr.82]
Như vậy có thể nói hoạt động học là hoạt động bằng chính khối óc và cơ bắ
p, nhằm chiếm
lĩnh tri thức, hình thành nên những giá trị, những kinh nghiệm và phương thức hoạt động tạo nên sự
phát triển cho bản thân người học bằng một phương thức nhất định.
1.3. Một số vấn đề lý luận về hoạt động học ở trường THPT
1.3.1. Bản chất của hoạt động học
- Đối tượng của hoạt động học (HĐ
H) là những tri thức và kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với nó.
Có thể nói, cái đích mà HĐH hướng tới là chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của xã hội thông qua
sự tái tạo của cá nhân. Muốn học có kết quả, người học phải tiến hành các hoạt động học tập bằng
chính ý thức tự giác và năng lực trí tuệ của bản thân mình.
- HĐH là hoạt
động hướng vào làm thay đổi chính bản thân mình.
- HĐH là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức nhằm tiếp thu kỹ năng, kỹ xảo.
- HĐH không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới mà còn hướng
vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động, nói cách khác là tiếp thu cả
phương pháp giành tri thức đó (cách học) [12,tr.83], [24].
1.3.1.1.Đối t
ượng của hoạt động học
Phương tiện chủ yếu củ
a hoạt động học trước hết là các hành động học tập. Phương tiện này
được HS tự hình thành trong quá trình diễn ra hoạt động học tập[11, tr.74].
Theo chúng tôi nhận thấy hiện nay không ít người chưa nhận thức sâu sắc vấn đề này, quá đề
cao các phương tiện cơ sở vật chất, tập trung đầu tư xây dựng, mua sắm trang thiết bị mà ít quan
tâm phương tiện quan trọng nhất đó là chính các hành động học tậ
p của HS. Chính phương pháp và
hình thức tổ chức dạy và học sẽ quyết định chất lượng cho các hành động học. Điều này khẳng định
và minh chứng cho chúng ta thấy rằng yếu tố con người có vai trò quyết định và cũng từ cơ sở này,
chúng ta tin rằng có thể nâng cao chất lượng giáo dục của Việt Nam trong điều kiện đất nước ta hiện
nay còn khó khăn về kinh tế.
1.3.1.4. Những đ
iều kiện của hoạt động học
Hoạt động học bao giờ cũng diễn ra trong những điều kiện chỉ đạo về mặt sư phạm của hoạt
động dạy. Chất lượng và hiệu quả của hoạt động học chủ yếu phụ thuộc vào nội dung và tính chất
hoạt động dạy.
Nhà trường phải đổi mới nội dung lẫ
n phương pháp, đổi mới mối quan hệ thầy-trò trong quá
trình dạy học. Hoạt động học không thể diễn ra cô lập với thầy và các bạn cùng lớp, vì vậy để đảm
bảo cho hoạt động học đạt được kết quả cao thì phải có mối liên hệ hợp tác và trao đổi giữa những
người cùng học dưới sự chỉ đạo và tổ chức của thầy, trong giao lưu, trong tập thể
[11, tr.76].
Chúng tôi thấy rằng nội dung bài học và hình thức trình bày cùng với phương pháp dạy học
tích cực, hợp tác, giao lưu có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động học; điều này giúp HS có động lực
học, nắm vững kiến thức và rèn luyện nhiều kỹ năng.
1.3.2. Hình thành hành động học
1.3.2.1. Hình thành động cơ học tập cho HS
Khi nói đến hoạt động thì phải có động cơ của nó, động c
ơ tâm lý không phải đơn thuần ở bên
trong cá thể. Nó phải được vật thể hoá ở đối tượng của hoạt động. Nghĩa là động cơ phải mang một
Đối với HS chưa có động cơ học tập tốt chúng ta không chỉ kêu gọi, răn đe, nhắc nhỡ, thuyết
phục mà còn tổ chức quá trình dạy học sao cho HS yếu củng cố kiến thức cơ bản để các em có thể
học nội dung bài mới, yêu thích học tập.
Vậy để tạo động cơ học tập cần phối hợp giáo dục động cơ học tập và t
ổ chức dạy học cho HS
dựa trên cơ sở tâm lý về động cơ, lý luận giáo dục và dạy học.
1.3.2.2. Hình thành mục đích học tập
Giáo sư Phạm Minh Hạc đề cập đến mục đích học tập như sau:
Muốn cho HĐHT thực hiện được động cơ của nó, trước hết động cơ của hoạt động này phải
được cụ thể hoá thành h
ệ thống các khái niệm của môn học ấy. Thông qua hành động học tập, HS
chiếm lĩnh từng mục đích bộ phận riêng lẻ, dần dần chiếm lĩnh toàn bộ đối tượng.
Bản chất của HĐHT là hoạt động chuyển hướng vào làm thay đổi chính chủ thể của nó. Sự
thay đổi này biểu hiện ở sự thay đổi mức độ làm chủ những khái niệm, những giá tr
ị, những chuẩn
mực, những quy luật và những phương thức hành vi phù hợp với chúng. Chính những cái đó làm
thành nội dung của mục đích học tập[11,tr.82,83,84].
Chúng tôi thấy rằng trong quá trình học tập của HS thì từng bước các em làm chủ những khái
niệm và từ đó làm cơ sở để tiếp thu những khái niệm mới, có phương pháp nhận thức và phát triển
tư duy. Qua học tập từng đơn vị ki
ến thức ở các bộ môn dưới sự ảnh hưởng của người thầy, HS
được hình thành những giá trị, chuẩn mực và hành vi. Như vậy thông qua dạy chữ để dạy người và
thông qua hoạt động học các em được phát triển nhân cách.
1.3.2.3. Hình thành các hành động học tập
Đối tượng của HĐHT cần phải được cụ thể hoá thành hệ thống nhiệm vụ mà học sinh sẽ thực
hiện thông qua những hành
động học tập. Người giáo viên trong quá trình giảng dạy cần đề ra hệ
thống nhiệm vụ học tập theo một trình tự logic, HS hoàn thành nhiệm vụ học tập này làm cơ sở để
giải quyết nhiệm vụ tiếp theo. Do đó học sinh phải cố gắng nắm vững kiến thức những nội dung đã
học mới tiếp thu và giải quyết nhiệm vụ học tậ
đổi mới cách dạy của GV và cách học của HS, làm cho HS được suy nghĩ nhiều hơn, hành động
nhiều hơn, hợp tác học tập với nhau nhiều hơn, bày tỏ ý kiến của mình nhiều hơn”.
- Trong lãnh đạo và quản lý hoạt động dạy học là lãnh đạo và quản lý hoạt độ
ng dạy của GV
và lãnh đạo và quản lý HĐHT của HS. Tuy nhiên, việc lãnh đạo và quản lý HĐHT của HS là quản
lý gián tiếp thông qua GV. Chính người GV mới là người trực tiếp quản lý việc học của HS [3],
[20].
Chúng tôi thấy rằng dạy học thực chất là tổ chức hoạt động học cho HS. Việc học tập của HS
là trung tâm của sự nghiệp giáo dục; tất cả hoạt động của nhà trường đề
u hướng đến tạo điều kiện
tối ưu cho học tập. Người học tự nổ lực, chủ động, tích cực tìm kiếm tri thức trong sự tương tác với
môi trường học tập. Như vậy đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề quan trọng nhất để phát huy
tối đa hiệu quả hoạt động học tập và nâng cao chất lượng giáo dụ
c.
1.3.4. Những hình thức hoạt động học tập của HS
Giáo trình giáo dục học đại cương, của Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh khái
quát các hình thức học tập của HS ở trường trung học như sau:
HĐ HT có các hình thức như học tập chính khoá ở trường, tự học ở nhà, học nhóm, hoạt
động ngoại khoá, tham quan, phụ đạo.
+ Hình thức học tập chính khoá ở trường
Hình thức này gồm học bài mới, củng cố tri thứ
c và rèn luyện kỹ năng, ôn tập, tiết bài tập, tiết
kiểm tra.
+ Tự học ở nhà
Tự học là hoạt động tự giác, có mục đích của cá nhân, là tự mình động não suy nghĩ , sử dụng
các năng lực trí trệ và có khi cả cơ bắp cùng các phẩm chất, động cơ, tình cảm… để chiếm lĩnh một
lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩ
nh vực đó thành sở hữu của mình. Cốt lõi của học là
tự học. Tự học là nói đến nội lực của người học, chất lượng của học tuỳ thuộc vào nội lực. Dù điều
thường được tiến hành với hai loại đối tượng: HS yếu kém và HS giỏi, như vậy phụ đạo đồng nghĩa
với dạy học cá biệt[14,tr.227].
Theo chúng tôi học chính khoá là hoạt động học của HS theo chương trình do Bộ Giáo dục
quy định, do nhà nước thống nhất quản lý, được các cấp quản lý và cơ sở giáo dục linh động triển
khai tổ chức thực hiệ
n. Trong học chính khoá GV trực tiếp tổ chức hoạt động học và nó có ảnh
hưởng lớn đến các hình thức học tập khác. Các hình thức học tập tác động qua lại và hỗ trợ nhau
cùng quy định chất lượng học tập và trong học chính khoá có hình thức học nhóm, tự học và phụ
đạo.
1.4. Một số vấn đề lý luận về quản lý giáo dục và quản lý hoạt động học ở trường THPT
1.4.1. Lý lu
ận về quản lý giáo dục
1.4.1.1. Chủ thể & khách thể quản lý
Theo tác giả Hồ Văn Liên thì chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và đối tượng bị
quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý và các khách thể khác chịu tác động
gián tiếp từ chủ thể quản lý. Tác động có thể liên tục nhiều lần.
Chủ thể quản lý phải thực hành việ
c tác động và phải biết tác động. Vì thế chủ thể phải hiểu
đối tượng và điều khiển đối tượng một cách có hiệu quả.
Chủ thể quản lý có thể là một người, một nhóm người, một thiết bị; còn đối tượng có thể là
con người (một hoặc nhiều người), giới vô sinh hoặc giới sinh vật[22].
Như vậy có thể hiểu chủ thể quả
n lý là những người sử dụng nguyên tắc, phương pháp, những
cách thức thực hiện chức năng, vai trò trong phạm vi trách nhiệm để sử dụng và phát huy nguồn lực
phục vụ mục tiêu của tổ chức.
1.4.1.2. Các chức năng quản lý
Đề cập đến các chức năng quản lý, tác giả Hồ Văn Liên cho rằng: Khi nhiều người kết hợp với
nhau trong một tổ chức để cùng thự
c hiện một mục tiêu chung thì tất yếu nảy sinh nhu cầu về những
hoạt động cần thiết như tổ chức, phân công, phối hợp điều hoà, hướng dẫn, động viên kiểm
có, thiết lập mối quan hệ ngang dọc của các bộ phận, xác định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của
từng bộ phận, xây dựng quy chế hoạt động.[22]
Theo chúng tôi cần thiết lập các bộ
phận cần có, quy định rõ về chức năng nhiệm vụ quyền
hạn và xây dựng mối quan hệ đồng thời có quy chế phối hợp giữa các bộ phận nhằm tổ chức thực
hiện tốt nhất mục tiêu. Căn cứ các quy định trong điều lệ nhà trường chúng ta cần cụ thể hoá nhiệm
vụ của các lực lượng trong nhà trường bằng bản mô tả chi tiế
t nội dung công việc.
* Chỉ đạo thực hiện kế hoạch
Chỉ đạo là thể hiện tính tích cực của người chỉ huy trong hoạt động của mình. Chỉ đạo thực
hiện kế hoạch là có sự theo dõi và giám sát công việc để chỉ huy, ra lệnh cho các bộ phận và các
hoạt động đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp các lực lượng trong một tổ chức và phối hợp tối ưu
với nhau.[22]
Theo chúng tôi người quản lý phải nắm vững tình hình th
ực hiện kế hoạch và mức độ hoàn
thành nhiệm vụ cũng như công tác phối hợp của các bộ phận để có chỉ đạo kịp thời.
* Kiểm tra đanh giá thực hiện kế hoạch
Kiểm tra là một chức năng quan trọng của quản lý. Lãnh đạo mà không kiểm tra coi như
không lãnh đạo. Theo thuyết hệ thống kiểm tra chính là thiết lập mối quan hệ ngược trong quản lý.
Kiểm tra trong qu
ản lý là một nổ lực có hệ thống nhằm thực hiện ba chức năng: phát hiện, điều
chỉnh và khuyến khích. Nhờ có kiểm tra mà người cán bộ quản lý có được thông tin để được đánh
giá được thành tựu của công việc và uốn nắn, điều chỉnh hoạt động một cách đúng hướng nhằm đạt
được mục tiêu.[22]
Theo chúng tôi kiểm tra có vai trò quan trọng, qua kiểm tra người quản lý có đầy
đủ thông tin
về tiến độ, chất lượng thực hiện kế hoạch đồng thời nắm được các điều kiện về nguồn lực trong tổ
chức, từ đó có những động viên khuyến khích cũng như có quyết định điều chỉnh cho phù hợp.
1.4.1.3 Nhiệm vụ quyền hạn của Hiệu trưởng
Theo Điều lệ trường trung học Hiệu tr
- Thực hiện Điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của Hiệu trưởng, chịu sự kiểm tra của
Hiệu trưởng và các cấp qu
ản lý giáo dục;
- Giữ vững phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh, thương yêu
tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của học sinh,
đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp;
- Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học sinh, Đoàn thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ
Chí Minh trong dạy học và giáo dục học
sinh;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định pháp luật.
Giáo viên chủ nhiệm lớp, ngoài nhiệm vụ trên còn có những nhiệm vụ sau đây:
- Tìm hiểu và nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để có biện pháp tổ chức giáo dục sát
đối tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp;
- Cộng tác chặt chẽ
với gia đình học sinh, chủ dộng phối hợp với các giáo viên bộ môn, Đoàn
thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội có
liên quan trong hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh của lớp mình chủ nhiệm;
- Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kỳ và cuối năm, đề nghị khen thưởng và kỷ luật
học sinh được lên lớp thẳng, phải kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè,
phải ở lại lớp, hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ của học sinh;
- Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về
tình hình lớp với hiệu trưởng;[2]
1.4.2. Lý luận về quản lý hoạt động học
1.4.2.1 Chủ thể & khách thể quản lý hoạt động học
Chủ thể quản lý HĐHT là hiệu trưởng, khách thể quản lý là PHT, GVCN, GVBM, GT, BV,
HS.
Xét trong mối quan hệ khác thì chủ thể quản lý là PHT, GVCN, GVBM, GT, BV; khách thể
quản lý là HS.
HS cũng là chủ thể quan trọng nhất và là người quyết định chất lượng học tập.
Trong tiết học, HS tiến hành HĐHT, từng bước thực hiện nhiệm vụ học tập theo một trình tự
mà giáo viên đề ra. Để việc học tập trên lớp có kết quả cao đòi hỏi GVBM thực hiện tốt nhiệm vụ tổ
chức quá trình l
ĩnh hội tri thức của HS, bản thân HS phải có tinh thần, thái độ, động cơ, mục đích và
phương pháp học đúng đắn. HĐ GD& HĐHT song song tồn tại, tác động hỗ trợ và gắn bó hữu cơ
với nhau, cả hai hoạt động này đều có vai trò trực tiếp và quan trọng, quyết định chất lượng học tập.
Trong học bài mới HS cần phải đạt được mục tiêu về kiến th
ức, kỹ năng, thái độ và có khả
năng vận dụng. Các tiết ôn tập nhằm hệ thống hoá kiến thức, tìm hiểu mối liên hệ giữa các kiến
thức, đây là cơ hội cho học sinh nắm vững những nội dung kiến thức đã học, giúp rèn luyện tư duy
và kỹ năng. Tiết bài tập giúp HS rèn luyện khả năng vận dụng, rèn luyện kỹ năng, phát huy tích tích
cực, độ
c lập suy nghĩ, phát triển óc sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề.
Trong học tập có tiết kiểm tra, nhằm giúp GV đánh giá quá trình và kết quả học tập của HS
qua đó GV tự đánh giá HĐGD của mình để điều chỉnh HĐGD. Qua kiểm tra giúp HS tự đánh giá,
tự điều chỉnh từ đó tác động trở lại HĐHT [9].
Quản lý học phụ đạo
Trong thực tiễn hiện nay, các trường THPT nhất là vùng sâu, nông thôn, chất lượng HS đầu
vào rất thấp, nhiều HS bị mất căn bản trầm trọng ở nhiều bộ môn. Thực hiện dạy học cá biệt ngay
trong các tiết lên lớp chính khóa, cũng cần quan tâm giảng dạy phù hợp với nhiều đối tượng HS, đặc
biệt phải giúp các em yếu kém có điều kiện củng c
ố lại kiến thức.
Trong quá trình giảng dạy, GV phải luôn thực hiện bám sát đối tượng HS, thực hiện nội dung,
phương pháp giảng dạy tập trung vào đối tượng HS yếu kém. Chúng ta kiểm tra, đánh giá và phân
loại đối tượng để tổ chức dạy phụ đạo ngay từ đầu năm học; điều này phù hợp với lý luận và thực
tiễn dạy học.
Quản lý hoạt động tự học ở nhà
Tự học, điều quan trọng là việc rèn luyện tư duy, tự học là cốt lõi của HĐ HT, nó là một bộ
hiện nội quy, kỷ cương nề nếp. GVCN cơ cấu tổ chức bộ máy, phân công trách nhiệm cho từng
thành viên trong lớp, thiết lập quy định cho lớp học phù hợp với nội quy nhà trường và các văn bản
hiện hành.
Sự quản lý kỷ cương nề nếp có sự tham gia phối hợp của PHT, GVCN, GVBM, GT, BV.
HS khi vào tr
ường thông qua hệ thống bảo vệ, học sinh trực, giám thị, Đoàn thanh niên, cán bộ
lớp giám sát tình hình thực hiện nội quy. Trong mười lăm phút đầu giờ có tự quản HĐHT của lớp,
GT đi quan sát tình hình nhắc nhở việc học tập.
Trong tiết học, GVBM quản lý kỷ cương nề nếp, trật tự trong lớp học, đảm bảo điều kiện tốt
nhất cho HĐHT, ghi nhậ
n tình hình thực hiện nội quy, tinh thần thái độ học tập của HS, khi cần
thiết có thể phối hợp với các bộ phận khác trong nhà trường để quản lý giáo dục HS.
GVCN, PHT, ĐTN tiếp nhận thông tin HS để giáo dục kịp thời.
Quản lý sự phối hợp với nhau giữa phó hiệu trưởng, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ
môn, giám thị, bảo vệ, Đoàn thanh niên, gia đình, xã hội trong quản lý hoạt động học tập của học
sinh
Để quản lý HĐHT của HS đạt hiệu quả cần có sự phối hợp trong quản lý HĐHT, sự phối hợp
giữa PHT, GVBM, GVCN, GT, BV, ĐTN. Điều lệ trường trung học có quy định rõ ch
ức năng,
nhiệm vụ, quyền và nghĩa vụ của các bộ phận nói trên trong quản lý giáo dục HS. Tuy nhiên hiệu
trưởng cần cụ thể hoá nội dung trách nhiệm, phân công cụ thể cho từng bộ phận, cá nhân trong quản
lý HĐHT; quản lý sự phối hợp giữa các bộ phận trên theo một quy trình chặt chẽ. Nhà trường phối
hợp với gia đình và các tổ chức xã hội trong quản lý giáo dục HS. Sức mạnh củ
a người hiệu trưởng
là kết quả của sự huy động, kết hợp, điều chỉnh trí tuệ và tình cảm, sức mạnh vật chất và tinh thần
của các lực lượng trong và ngoài nhà trường vào việc giáo dục và dạy học.
Mỗi bộ phận tham gia giáo dục trong nhà trường, gia đình, xã hội và học sinh cũng như các
thành tố cơ bản có vai trò khác nhau, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau ảnh hưởng
đến chất