''''''''Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng tại một số dự án trên địa bàn huyện hoành bồ tỉnh quảng ninh - Pdf 14

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Chú giải
NĐ Nghị định
CP Chính phủ
TW Trung ương
TTg Thủ tướng
HĐND Hội đồng nhân dân
UBND Uỷ ban nhân dân
QĐ-UB Quyết định – Ủy ban
QĐ-UBND Quyết định - Uỷ ban nhân dân tỉnh
GPMB Giải phóng mặt bằng
TĐC Tái định cư
CNH Công nghiệp hoá
HĐH Hiện đại hoá
ĐTH Đô thị hoá
QLĐĐ Quản lý đất đai
HTX Hợp tác xã
i
DANH MỤC BẢNG
ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
DANH MỤC ẢNH
iii
Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của lao động, là
nhân tố đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc quyết định sự tồn tại và
phát triển xã hội loài người.
Việt Nam từ một nước nông nghiệp tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ
qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, cái thiết yếu nhất là cơ sở vật chất

mục đích phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế cho Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và đô thị hóa. Vấn đề chuyển đổi quỹ đất đang sử dụng hiện nay sang đất triển
khai dự án đang diễn ra nhanh. Đặc biệt huyện Hoành Bồ là nơi đang diễn ra
quá trình phát triển mạnh về cơ sở hạ tầng, các khu công nghiệp phục vụ mục
tiêu thu hút đầu tư để phát triển kinh tế, xã hội. Từ năm 2002 đến nay Hoành
Bồ đã thực hiện bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng và di dời nhiều hộ
dân để có được quỹ đất triển khai các dự án, về cơ bản đã đáp ứng được yêu
cầu đề ra, tuy nhiên trong quá trình thực hiện còn nhiều bất cập, chính sách
thường xuyên thay đổi, giá bồi thường không sát giá thị trường dẫn đến tình
trạng nhiều hộ dân còn chưa đồng tình với một số cơ chế chính sách bồi
thường của Nhà nước, phương án bồi thường đã được phê duyệt nhiều năm
nhưng đến nay vẫn chưa nhận tiền và chưa bàn giao mặt bằng, một số trường
hợp phải cưỡng chế thu hồi đất.
Để góp phần hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất nói chung và ở huyện Hoành Bồ nói riêng nói riêng
trong quá trình triển khai thực hiện các dự án đang đặt ra nhiều vấn đề phải
nghiên cứu nghiêm túc, từ đó có thể đưa ra các giải pháp đúng và toàn diện,
đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: ''Đánh giá
công tác bồi thường giải phóng mặt bằng tại một số dự án trên địa bàn
huyện Hoành Bồ - tỉnh Quảng Ninh''.
1.2. Mục đích
- Nghiên cứu thực trạng công tác GPMB của một số dự án trên địa bàn
huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh.
2
- Đánh giá tác động kinh tế - xã hội của các hộ gia đình sau khi bị thu
hồi đất và các chính sách sinh kế cho các hộ nông dân bị mất đất nông nghiệp.
- Đánh giá những ưu điểm và vấn đề còn tồn tại trong việc thực hiện
chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng ở một số dự án trên địa bàn huyện
Hoành Bồ - tỉnh Quảng Ninh từ đó đưa ra những đề xuất, giải pháp chủ yếu

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
Giải phóng mặt bằng là quá trình đa dạng và phức tạp, nó liên quan đến
trực tiếp lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội.
-Tính đa dạng thể hiện: mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất
khác nhau với điều kiện kinh tế, xã hội với trình độ dân trí nhất định. Đối với
khu vực nội thành, khu vực ven đô, khu vực ngoại thành…mật độ dân cư
khác nhau, ngành nghề đa dạng và đều hoạt động sản xuất theo đặc trưng
riêng của vùng đó. Do đó, GPMB cũng được tiến hành với những đặc điểm
riêng biệt.
- Tính phức tạp thể hiện: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan
trọng đối với đời sống kinh tế - xã hội của mỗi người dân. Ở những vùng
nông thôn dân cư chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà
đất đai lại là tư liệu sản xuất quan trọng nhất trong khi trình độ sản xuất của
nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn,do đó tâm lý dân
cư vùng này là giữ được đất để sản xuất, thậm chí họ cho thuê đất còn được
lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không cho thuê. Trước tình hình
đó đã dẫn đến công tác tuyên truyền, vận động dân cư tham gia di chuyển là
rất khó khăn và việc hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp là điều cần thiết để đảm
bảo đời sống dân cư sau này.
Bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất là vấn đề hết sức khó
khăn, phức tạp, trong đó có giá đất, giá bất động sản để bồi thường thiệt hại là
vấn đề thời sự nan giải, là nguyên nhân chính làm chậm tiến độ thực hiện các
dự án, gây khiếu kiện trong công tác bồi thường GPMB. Do đó, để khắc phục
cần phải có giá đền bù phù hợp, đảm bảo cho người bị thu hồi đất tái tạo, ổn
định cuộc sống.
2.2. Cơ sở thực tiễn
Tỉnh Quảng Ninh, hiện nay quá trình Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa và
đô thị hóa đang diễn ra rất mạnh, rất nhiều dự án đã và đang triển khai với
4

Điều 23 quy định: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu
5
hoá. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do an ninh, quốc phòng, lợi ích
quốc gia mà Nhà nước trưng mua hay trưng dụng, có bồi thường tài sản của
cá nhân hay tổ chức theo giá trị thị trường”.( Hiến pháp, 1992) [9]
Luật Đất đai 1993 được ban hành, thay thế cho Luật Đất đai 1988, dựa
trên tinh thần mới của bản Hiến pháp 1992 đã có những đổi mới quan trọng,
đặc biệt đối với việc thu hồi đất phục vụ cho công cộng và bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất. Tại Điều 27: “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà
nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục
đích Quốc phòng, An ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu
hồi đất được đền bù thiệt hại”. (Luật đất đai, 1993) [10]
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998 và 2001
quy định cụ thể hơn về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi
đất đang sử dụng của người sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi
ích Quốc gia, lợi ích công cộng. Việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo
quy định của Chính phủ. Nhà nước có chính sách để ổn định đời sống cho
người có đất bị thu hồi.
Luật Đất đai 2003 ra đời đã thay thế cho tất cả các Luật Đất đai và Luật
sửa đổi, bổ sung trước đó nhằm phù hợp với tình hình xã hội hiện nay, đáp
ứng tốt hơn những yêu cầu, những đòi hỏi mới trong quá trình phát triển kinh
tế, ổn định chính trị - xã hội của đất nước, hội nhập kinh tế khu vực và quốc
tế. Luật đất đai 2003 đã quy định rõ về đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà
nước đại diện chủ sở hữu. Quy định quyền lợi và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có
thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất, nhận quyền sử dụng đất của người khác…
Luật cũng quy định rõ về các trường hợp nhà nước thu hồi đất, bồi thường, tái
định cư cho người có đất bị thu hồi.Tại điều 39 quy định về thu hồi đất để sử dụng
vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng: “Nhà nước
thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng sau khi quy hoạch, kế

- Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 quy định về bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, bao gồm cả đất sử dụng cho
các dự án sản xuất kinh doanh, khu chế xuất, khu du lịch, khu đô thị mới, khu
công nghiệp, khu vui chơi giải trí, khu dân cư tập trung và các dự án đầu tư
phát triển khác đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và đất
7
sử dụng xây dựng các công trình phục vụ công ích và công cộng khác không
nhằm mục đích kinh doanh của địa phương do UBND tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương quyết định.
Đất bị thu hồi là đất do Nhà nước giao sử dụng tạm thời, đất cho thuê
đấu thầu thì người bị thu hồi đất không được bồi thường thiệt hại về đất.
Nhưng được bồi thường những chi phí đã đầu tư vào đất.
Diện tích đất ở bồi thường cho mỗi hộ gia đình theo hạn mức đất ở do
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW quy định, nhưng không vượt quá diện
tích đất bị thu hồi.
Về bồi thường tài sản, tài sản trên đất hợp pháp và có khả năng hợp
pháp hoá được bồi thường 100% giá trị tài sản, còn tài sản trên đất sử dụng
bất hợp pháp sẽ được trợ cấp 70-80% mức bồi thường hoặc không được trợ
cấp, không được bồi thường theo mức độ bất hợp pháp của quyền sử dụng đất
và tài sản. (Nghị định Chính phủ, 2004) [4].
Về chính sách hỗ trợ: gồm hỗ trợ ổn định sản xuất và đời sống xã hội
đối với những người phải di chuyển chỗ ở, hỗ trợ theo chế độ trợ cấp ngừng
việc cho cán bộ, công nhân viên của doanh nghiệp phải di chuyển địa điểm
mới trong thời gian ngừng sản xuất, phải kinh doanh; hỗ trợ chi phí đào tạo
cho những lao động nông nghiệp phải chuyển sang nghề khác và ưu tiên
tuyển dụng lao động cho các đối tượng có đất bị thu hồi, hỗ trợ đối với những
người đang hưởng trợ cấp xã hội của Nhà nước phải di chuyển chỗ ở và trợ
cấp khuyến khích di dời cho người di chuyển đúng hạn.
Về chính sách tái định cư Nghị định số 197/2004/NĐ-CP quy định về
thẩm quyền lập khu tái định cư và điều kiện bắt buộc phải có khu tái định cư,

có sử dụng đất, cho thuê đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất mà giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định
tại thời điểm giao đất, cho thuê đất, thời điểm quyết định thu hồi đất, chưa sát
với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều
kiện bình thường thì UBND cấp tỉnh căn cứ vào giá chuyển nhượng quyền sử
dụng đất thực tế trên thị trường để xác định lại giá đất cụ thể cho phù hợp”.
(Nghị định Chính phủ, 2010) [6]
9
2.3.2. Những văn bản của Tỉnh về bồi thường GPMB
2.3.2.1. Quy định chung áp dụng trong toàn Tỉnh
+ Giai đoạn thực hiện Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của
Chính phủ. UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1681/QĐ-UB ngày
24/7/1999 về việc ban hành quy định đền bù và đơn giá đền bù thiệt hại
GPMB QL 18A. Các Quyết định số 2227/QĐ-UBND ngày 21/9/1999, Quyết
định số 2305/QĐ-UBND ngày 28/9/1999, Quyết định số 3587/QĐ-UBND
ngày 29/12/1999 về sửa đổi bổ sung Quyết định số 1681/QĐ-UB ngày
24/7/1999 của UBND tỉnh Quảng. Quyết định số 1681 ngoài việc áp dụng bồi
thường cho dự án Quốc lộ 18A còn thực hiện áp dụng cho nhiều dự án khác.
+ Sau khi Chính Phủ ban hành Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày
3/12/2004, thì UBND tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Quyết định số
1122/2005/QĐ-UB ngày 20/4/2005 “ Về việc quy định chính sách bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng
Ninh”; Quyết định số 4466/2005/QĐ-UBND ngày 01/12/2005 về việc sửa
đổi bổ sung một số điều của quy định ban hành kèm theo Quyết định
số1122/2005/QĐ-UB ngày 20/4/2005 của UBND tỉnh Quảng.
+ Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 ra đời, UBND tỉnh đã
ban hành Văn bản số 08/UBND-QLĐĐ ngày 02/01/2008 về việc quy định
chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp để GPMB thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
+ Nghị định 69/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010 của Chính phủ được ban

+ Quyết định số 2874/QĐ-UB ngày 28/8/2002 “Về việc quy định chính
sách và đơn giá đền bù GPMB hai dự án xây dựng Nhà máy xi măng Thăng
Long và Nhà máy xi Măng Hạ Long khu vực huyện Hoành Bồ“.
+ Quyết định số 1398/QĐ-UB ngày 09/5/2003 Về việc bổ sung chính
sách đơn giá đền bù để GPMB 2 dự án xây dựng Nhà máy xi măng Thăng
Long và Nhà máy xi Măng Hạ Long – huyện Hoành Bồ“.
+ Quyết định số 2390/2003/QĐ-UB ngày 24/7/2003 “Về việc sửa đổi, bổ
sung chính sách và đơn giá đền bù GPMB các dự án trên địa bàn huyện
Hoành Bồ”.
+ Quyết định số 1432/2007/QĐ-UBND ngày 18/12/2007 “Về việc phê
duyệt chính sách hỗ trợ giá nộp tiền sử dụng đất tái định dự án Nhà máy xi
măng Hạ Long.
11
+ Quyết định số 3798/2004/QĐ-UB ngày 26/10/2004 “Về việc phê duyệt
chính sách hỗ trợ giá nộp tiền sử dụng đất tái định dự án khu dân cư bờ tây
cầu Trới.
+ Quyết định số 3492/2004/QĐ-UB ngày 05/10/2004 “Về việc phê duyệt
chính sách đơn giá đền bù GPMB dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ
tầng khu dân cư thị Bờ tây cầu Trới và dự án khai thác đất để san lấp mặt
bằng khu dân cư tây cầu Trới, huyện Hoành Bồ”.
+ Quyết định số 766/QĐ-UB ngày 18/3/2008 “Về việc phê duyệt chính
sách bồi thường GPMB dự án xây dựng Nhà máy xi măng Thăng Long và
Nhà máy xi Măng Hạ Long”.
+ Quyết định số 2620/QĐ-UBND ngày 19/8/2008 “ Về viêc phê duyệt bổ
sung chính sách, hỗ trợ và TĐC một số dự án trên địa bàn huyện Hoành Bồ”.
2.4. Những nghiên cứu về Chính sách bồi thường thiệt hại ở thế giới
2.4.1. Tại Trung Quốc
Pháp luật đất đai của Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với pháp luật
đất đai của Việt Nam. Tuy nhiên nhìn về tổng thể việc chấp hành pháp luật của
người Trung Quốc rất cao. Việc sử dụng đất đai tại Trung Quốc thực sự tiết kiệm,

- Hỗ trợ di chuyển trong đó có trợ cấp, bố trí nơi ở mới với các dịch vụ
và phương tiện phù hợp.
- Trợ cấp khôi phục để ít người bị ảnh hưởng có được mức sống đạt
hoặc gần đạt so với mức sống trước khi có dự án. Đối với các dự án có di dân
TĐC, việc lập kế hoạch, thiết kế nội dung di dân là yếu tố không thể thiếu
ngay từ khi chu kỳ đầu tiên của việc lập dự án đầu tư và những nguyên tắc
chính phải đề cập đến gồm:
+ Nghiên cứu kỹ phương án khả thi của các dự án để giảm thiểu việc di
dân bắt buộc, vấn đề khó tránh được khi triển khai thực hiện các dự án.
+ Người bị ảnh hưởng phải được bồi thường và hỗ trợ để triển vọng
kinh tế, xã hôi của họ nói chung ít nhất cũng thuận lợi như trong trường hợp
không có dự án.
+ Các dự án về TĐC phải đạt hiệu quả ở mức càng cao càng tốt.
+ Người bị ảnh hưởng được thông báo đầy đủ, được tham khảo ý kiến
chi tiết về các phương án bồi thường TĐC.
13
+ Các chủ đầu tư đặc biệt chú ý đến tầng lớp những người nghèo nhất,
trong đó có những người không hoặc chưa có quyền lợi hợp pháp về đất đai,
tài sản, những hộ gia đình do phụ nữ làm chủ. (Phan Văn Hoàng, 2006) [17].
2.4.3. Tại Hàn Quốc
- Luật bồi thường thiệt hại của Hàn Quốc được chia làm hai thể chế:
+ Một là: Luật “Đặc lệ” liên quan đến bồi thường thiệt hại cho đất công
cộng đã được quy định theo thủ tục thương lượng của pháp luật.
+ Hai là: Luật “Sung công đất” theo thủ tục quy định cưỡng chế của
công pháp.
Với hai thể chế luật trên và trong quá trình thực hiện luật “Đặc lệ”
thương lượng không đạt được thoả thuận thì luật “Sung công đất” được thực
hiện bằng cách cưỡng chế nhưng nếu như thế thì phải lặp đi lặp lại quá trình
này và đôi khi bị trùng hợp cho nên thời gian có thể bị kéo dài hoặc chi phí
bồi thường sẽ tăng lên. Do đó luật bồi thường thiệt hại của Hàn Quốc mới ra

Bắc bộ là tứ giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh – Lạng Sơn; ở
Trung bộ và Nam bộ có các tỉnh như: Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng
Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai,
Vũng Tàu, Bình Dương, Long An, Tiền Giang.
Tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kết hợp với Bộ Tài
nguyên và Môi trường đã tổ chức hội thảo đánh giá tình hình thu hồi đất của
nông dân để thực hiện CNH – HĐH.
Về diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi để phát triển các khu công
nghiệp, đô thị và các công trình công cộng.
Trong 5 năm, từ năm 2001 – 2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu
hồi là 366,44 nghìn ha (chiếm gần 4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả
nước). Trong đó diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi để xây dựng các khu
công nghiệp và cụm công nghiệp là 39,56 nghìn ha, xây dựng đô thị là 70,32
nghìn ha và xây dựng kết cấu hạ tầng là 136,17 nghìn ha.
Các vùng kinh tế trọng điểm và khu vực có diện tích đất nông nghiệp thu
hồi lớn nhất, chiếm khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên toàn quốc. Những
địa phương có diện tích đất thu hồi lớn là Tiền Giang (20.308 ha), Đồng Nai
(19.752 ha), Bình Dương (16.627 ha), Quảng Nam (11.812 ha) Cà Mau
(13.242 ha), Hà Nội (7.776 ha), Hà Tĩnh (6.391 ha), Vĩnh Phúc (5.573ha).
Theo số liệu điều tra của BNNPTNT tại 16 tỉnh trọng điểm về thu hồi đất,
diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89% và diện tích đất thổ cư
chiếm 11%. Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích đất bị thu hồi lớn
15
nhất, chiếm 4,4% diện tích đất nông nghiệp của cả nước, tỷ lệ này ở Đông
Nam Bộ là 2,1%, ở nhiều vùng khác là dưới 0.5%.
Mặc dù diện tích đất nông nghiệp, đất bị thu hồi tại mỗi tỉnh chiếm tỷ lệ
nhỏ trong tổng số đất tự nhiên của địa phương nhưng lại tập trung vào một số
huyện, xã có mật độ dân số cao. Diện tích bình quân đầu người thấp, có xã
diện tích đất thu hồi chiếm tới 70% - 80% diện tích đất canh tác. (Đồng Thị
Thúy, 2011; Website) [8, 39].

dụng, triển khai theo các Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004,
Nghị định số 84/2007/NĐ-CP, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP về bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
+ Thực trạng công tác bồi thường GPMB tại 03 dự án; những người
dân bị mất đất và những thiệt hại của họ sau khi bị thu hồi đất tại 03 dự án
trên địa bàn huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh.
3.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Công tác bồi thường GPMB tại 03 dự án trên địa bàn huyện Hoành Bồ,
tỉnh Quảng Ninh.
- Dự án xây dựng Nhà máy xi măng Thăng Long.
- Dự án xây dựng Nhà máy xi măng Hạ Long.
- Dự án xây dựng khu dân cư bờ Tây Cầu Trới
3.2. Nội dung nghiên cứu
3.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của huyện Hoành Bồ
Điều tra, thu thập về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của huyện
- Điều kiện tự nhiên:
+ Vị trí địa lý.
+ Địa hình, địa hình địa mạo.
+ Đặc điểm khí hậu.
+ Điều kiện thuỷ văn.
+ Điều kiện địa chất.
- Điều kiện kinh tế - xã hội
+ Dân số và lao động.
+ Tình hình quản lý sử dụng đất.
+ Tình hình phát triển các ngành sản xuất và cơ sở hạ tầng
17
3.2.2. Đánh giá việc thực hiện các chính sách bồi thường giải phóng mặt
bằng ở huyện Hoành Bồ – tỉnh Quảng Ninh
3.2.2.1. Giới thiệu khái quát việc thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng
khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Hoành Bồ – tỉnh Quảng Ninh.

án đã được triển khai thực hiện công tác bồi thường GPMB từ năm 2002
nhưng đến nay vẫn còn nhiều vướng mắc, một số hộ dân chưa nhận tiền bồi
thường và chưa bàn giao mặt bằng.
3.3.2. Phương pháp điều tra khảo sát
- Điều tra nội nghiệp: Thu thập các tài liệu, số liệu thứ cấp đã có tại
các cơ quan chức năng trong tỉnh, huyện và địa phương.
- Điều tra thu thập số liệu, tài liệu trong và ngoài nước có liên quan đến
công tác bồi thường giải phóng mặtt bằng khi nhà nước thu hồi đất.
- Điều tra, thu thập tài liệu, số liệu về tình hình kinh tế, xã hội, kinh tế
của các ngành sản xuất, đời sống của các hộ nông nghiệp nằm trong khu vực
dự án… các số liệu này thu thập từ UBND huyện, Chi cục Thống kê huyện,
Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, phòng Nông nghiệp và phát triển
nông thôn, Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện, Trung tâm phát
triển quỹ đất huyện và Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Quảng Ninh.
- Điều tra ngoại nghiệp:
- Thu thập các số liệu sơ cấp bằng phương pháp:
+ Điều tra các hộ gia đình, cá nhân bị giải toả để thực hiện dự án thông
qua phiếu điều tra (ở phụ lục đính kèm), phóng vấn trực tiếp các tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân trong diện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Lựa chọn các các
hộ điển hình bị thu hồi theo các loại đất bị thu hồi như: đất ở, đất nông
nghiệp. Số lượng Mỗi dự án từ 20 -30 phiếu để điều tra về các nội dung như:
xác định đối tượng và điều kiện bồi thường; giá bồi thường về đất, tài sản,
chính sách hỗ trợ; thu nhập trước và sau thu hồi đất; tình hình an ninh trật tự,
môi trường, quan hệ gia đình sau thu hồi đất
+ Điều tra quá trình thực hiện và kết quả dự án nghiên cứu.
+ Phỏng vấn trực tiếp Trung tâm phát triển quỹ đất huyện, phòng Tài
nguyên và Môi trường, Hội đồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư huyện
Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh.
19
3.3.3. Phương pháp xử lý số liệu điều tra

Xã Hòa Bình
Xã Vũ Oai
Xã Thống Nhất
Xã Lê Lợi

Đồ
ng
Lâm
Thị x cẩm phảã
Xã Bằng Cả
T.T.Trới
Xã Đồng Sơn
Xã Sơn Dơng
Xã Dân Chủ
Xã Quảng La
t.p. hạ long
t.x.uông bí
huyện yên hng
x tân dânã
sơ đồ vị trí huyện hoành bồ
Phớa ụng Bc giỏp huyn Ba Ch (tnh Qung Ninh) v huyn Sn ng
(tnh Bc Giang), phớa Nam l vnh Ca Lc thuc thnh ph H Long, phớa ụng
giỏp th xó Cm Ph, phớa Tõy giỏp th xó Uụng Bớ v huyn Yờn Hng.
Din tớch t nhiờn l 84.463,22 ha, chim 13,8% din tớch t nhiờn ca
tnh. n v hnh chớnh ca huyn gm 12 xó, 01 th trn trong ú cú 05 xó
thuc vựng cao (cú 02 xó c bit khú khn) vi tng din tớch t nhiờn
48.672,0 ha chim 59,1% din tớch t nhiờn ca Huyn.
21
Hoành Bồ có quốc lộ 279 đã được nâng cấp chạy qua, đường dẫn Cầu
Bang nối liền với thành phố Hạ Long, các trung tâm công nghiệp lớn của tỉnh

o
15
'
vĩ độ bắc và từ
106
o
58
'
đến 107
o
22
'
kinh độ đông. Khí hậu mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa,
lượng mưa trung bình hàng năm là 1500 – 2000 mm, nhiệt độ trung bình 21 -
24
o
C, độ ẩm không khí bình quân hàng năm từ 84 – 87%. Lượng bốc hơi
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status