Đánh giá hệ thống cây trồng chính trên đất nương rẫy của huyện mèo vạc và đề xuất một số giải pháp cải tiến - Pdf 14

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PRA : Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia
THPT : Trung học phổ thông
THCS : Trung học cơ sở
TBKT : Tiến bộ kỹ thuật
KNCS : Khuyến nông cơ sở
KNVCS : Khuyến nông viên cơ sở
HTX : Hợp tác xã
TĂGS : Thức ăn gia súc
HTNN : Hệ thống nông nghiệp
HTCT : Hệ thống canh tác
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
ii
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Mèo Vạc là một huyện vùng cao biên giới nằm ở phía Bắc của tỉnh Hà
Giang, là huyện có điều kiện thời tiết khí hậu rất khắc nghiệt, đời sống nhân
dân còn hết sức khó khăn. Những năm qua được sự quan tâm đầu tư của Nhà
nước và sự nỗ lực cố gắng của các cấp chính quyền và nhân dân, sản xuất
nông nghiệp của huyện đã có những bước phát triển mạnh mẽ, nhất là về
trồng trọt. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản
xuất đã có những chuyển biến tích cực; diện tích, năng suất và sản lượng các
cây trồng chính ngày càng tăng mạnh, góp phần tích cực vào việc phát triển
kinh tế, xoá đói giảm nghèo của huyện.
Thực tế sản xuất nông nghiệp ở huyện Mèo Vạc cho thấy hầu hết đất
đai canh tác là đất nương rẫy. Do đó, vấn đề phát huy khai thác, sử dụng hợp
lý hệ thống cây trồng trên đất nương rẫy là một trong những yếu tố quan trọng
hàng đầu trong phát triển sản xuất ngành trồng trọt của huyện. Do vậy, việc
làm thế nào để phát triển hệ thống canh tác trên đất nương rẫy trong điều kiện

- Làm cơ sở chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng
hóa và phát triển bền vững, phù hợp với điều kiện đặc thù của huyện.
- Làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài sẽ cung cấp những thông tin và dữ liệu về hiện trạng sử dụng
đất đai và hệ thống cây trồng hiện có trên địa bàn.
- Làm cơ sở xây dựng hệ thống cây trồng mới hợp lý hơn với yêu cầu
sản xuất hàng hóa và đạt được hiệu quả kinh tế cao.
2
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học nghiên cứu hệ thống cây trồng
1.1.1. Lý thuyết hệ thống nông nghiệp
Lý thuyết hệ thống đã và đang được áp dụng ngày càng rộng rãi trong
nhiều ngành khoa học. Có thể nói các ý tưởng ứng dụng lý thuyết hệ thống đã
có từ xa xưa trong lịch sử triết học châu Âu.
Hệ thống là một tổng thể có trật tự các yếu tố khác nhau, có quan hệ và
tác động qua lại. Nói cách khác đó là một tập hợp các đối tượng hoặc các
thuộc tính được liên kết bằng nhiều mối tương tác.
Mục đích của việc nghiên cứu hệ thống là nhằm điều khiển sự hoạt
động của nó, thực chất của việc điều khiển các hệ sinh thái nông nghiệp (hay
hệ thống nông nghiệp) là các biện pháp kinh tế, kỹ thuật nhằm phát triển nông
nghiệp, nông thôn bền vững.
Ngày nay, quan điểm về hệ thống nông nghiệp được nhìn từ nhiều góc
độ khác nhau nhưng đều hướng tới khai thác có hiệu quả các điều kiện tự
nhiên, môi trường xung quanh đồng thời đảm bảo tính bền vững và lâu dài
trong việc khai thác.
Hệ thống nông nghiệp là một phương thức khai thác môi trường được
hình thành và phát triển trong lịch sử, trong một hệ thống sản xuất thích ứng
với các điều kiện sinh thái khí hậu của một không gian nhất định, đáp ứng các

hình kinh tế…) đo được bằng hệ số của biến thiên năng suất. Nếu mức độ
biến thiên nhỏ tức là tính ổn định cao và ngược lại mức độ biến thiên cao
thì tính ổn định nhỏ.
4
- Tính bền vững (Sustainability): Là khả năng duy trì năng suất của hệ
thống khi chịu ảnh hưởng hay những đảo lộn như thiên tai, bệnh dịch… Tính
chống chịu được xem xét như khả năng duy trì năng suất, tính chống chịu
kém thường dẫn tới sự bất ổn định về năng suất.
- Tính công bằng (Equitability): Dùng để đánh giá sự phân phối sản
phẩm của hệ thống càng công bằng thì sản phẩm của nó được phân phối càng
công bằng.
Người ta thường sử dụng các phương pháp kinh tế để đánh giá như
phương pháp phân phối thống kê hay phương pháp hệ số Gini.
Muốn phân tích hệ thống sinh thái nông nghiệp phải dựa trên cơ sở
các nguyên tắc của hệ sinh thái nông nghiệp và hệ sinh thái nhân văn, phân
tích tài nguyên.
Thời gian qua nước ta cũng như nhiều nước đang phát triển khác,
ngành trồng trọt mới chỉ phát triển nhanh ở các vùng thuận lợi nhờ tập trung
vào việc cải tiến giống cho năng suất cao, thủy lợi, phân bón hóa học, thuốc
bảo vệ thực vật… còn những vùng có điều kiện sinh thái khó khăn và các
vùng đất hạn, úng, đất chặt… các tiến bộ kỹ thuật chưa tỏ ra thích ứng. Vì vậy
muốn đẩy nhanh phát triển nông nghiệp thì cần phải phát triển và huy động
chủ yếu các nguồn lực bên trong hệ thống đó là: Phát triển đất đai theo chiều
sâu (Thâm canh tăng vụ) sử dụng nguồn lợi lao động, vốn của dân và những
tiến bộ thích ứng với các điều kiện sinh thái khó khăn, tốn ít vốn, sử dụng
nhiều lao động, tiết kiệm năng lượng và sử dụng “Hiệu ứng hệ thống”, và
“Tính trồng” của hệ thống. Đó là cơ sở của chiến lược phát triển nông nghiệp.
Việc phát triển trồng trọt chủ yếu dựa vào “Hiệu ứng hệ thống” bằng
cách bố trí hệ thống cây trồng thích ứng với các điều kiện đất đai, chế độ, khí
hậu, chế độ nước đồng thời đa dạng hóa sản xuất trồng trọt, áp dụng hệ thống

Cơ cấu cây trồng mang tính lịch sử xã hội nhất định, trong hoàn cảnh
xã hội cụ thể sẽ có cơ cấu cây trồng tối ưu cụ thể tại thời điểm đó. Không có
một cơ cấu cây trồng tối ưu cho mọi thời gian, mọi không gian và thời kỳ phát
triển của lịch sử loài người. Cơ cấu cây trồng luôn luôn biến đổi theo hướng
ngày càng hoàn thiện và phát triển thông qua sự chuyển hóa lẫn nhau, từ cũ
chuyển sang mới nhờ được thay thế bằng các giống mới, cơ cấu mới, từ đơn
điệu đến đa dạng, từ hiệu quả thấp đến hiệu quả cao, do yêu cầu tăng trưởng
và phát triển của nhân loại cùng với sự phát triển của nền văn minh nhân loại.
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng là cả một quá trình lâu dài gắn liền với
những tiến bộ về khoa học công nghệ. Không thể có một cơ cấu cây trồng sẵn
có hoặc xuất hiện ngay lập tức đổi chỗ cho cơ cấu cây trồng cũ mà cần phải
có quá trình thay đổi dần dần về lượng sau đó về chất nhanh hay chậm còn
tùy thuộc vào trình độ hiểu biết của các chủ thể quản lý, các điều kiện kinh tế
- xã hội. Đối tượng cây trồng là sinh vật sống, chúng chịu sự tác động rất lớn
của điều kiện sống như: đất đai, khí hậu…trình độ hiểu biết của người quản
lý, điều kiện kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ… Chính vì vây chuyển dịch
cơ cấu cây trồng phải tiến hành từng bước và hoàn thiện dần cho phù hợp với
sự phát triển của nhân loại.
Cơ cấu cây trồng phù hợp phải khắc phục được các yếu tố hạn chế, đảm
bảo khả năng sản xuất của đất đai, có độ an toàn cao nhất, xác xuất gặp rủi ro
thấp nhất, phù hợp với tập quán của địa phương, đảm bảo an toàn cho hệ sinh
thái, được nhân dân lựa chọn và phát triển rộng rãi, đem lại lợi ích cao nhất
cho người sản xuất.
1.1.3.2. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Điều cần thiết là phải xác định được đối tượng sản xuất, phản ánh sự
phân công lao động trong ngành nông nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên,
7
kinh tế xã hội của mỗi nước, mỗi vùng nhằm cung cấp được nhiều nhất những
sản phẩm nông nghiệp cần thiết cho con người. Nông nghiệp đem lại cho con
người những sản phẩm thiết yếu mà trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật

hầu hết các hệ phụ của hệ thống nông nghiệp. Sự đa dạng hóa cây trồng và
tăng trưởng theo mục tiêu cụ thể sẽ tạo nền tảng cho sự công nghiệp hóa và
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và phát triển kinh tế trong tương lai.
Nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây
trồng nhằm tìm ra các biện pháp kỹ thuật giúp nâng cao năng suất, chất lượng
nông sản bằng cách áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào hệ thống cây trồng hiện
có, hoặc đưa ra hệ thống cây trồng mới hướng vào các hợp phần tự nhiên,
sinh học kỹ thuật, lao động, quản lý thị trường để phát triển cơ cấu cây trồng
trong những điều kiện mới nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
1.1.4. Khái niệm về hệ thống cây trồng
Hệ thống cây trồng (Cropping systems): là thành phần các giống và các
loại cây trồng được bố trí trong không gian và thời gian của các loại cây trồng
trong mọi hệ sinh thái nông nghiệp, nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi
tự nhiên, kinh tế - xã hội.
1.1.5. Khái niệm phát triển bền vững
Xét một cách tổng thể, quá trình phát triển của xã hội loài người chưa
bao giờ ngừng lại, nhưng trong quá trình lịch sử cá biệt đã có những xã hội,
những nền văn minh bị suy tàn, thậm chí diệt vong do hoạt động phát triển đã
triển khai quá sức chịu tải của môi trường khiến cho tài nguyên thiên nhiên cạn
kiệt, chất lượng môi trường bị hủy hoại, không còn đáp ứng được yêu cầu.
9
Phát triển bền vững được xem là phương thức tổng hợp để phòng
chống các nguy cơ suy thoái môi trường và là niềm hi vọng của nhân loại trên
toàn thế giới. Ở nước ta Quyết định số 187/QĐ-CT, ngày 21/6/1991 về “ Kế
hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững” đã được Chủ tịch Hội
Đồng Bộ Trưởng ban hành. Gần đây Chỉ thị 36-CT/TW, ngày 25/6/1998 của
Bộ Chính Trị Ban chấp hành Trung Ương Đảng về công tác bảo vệ môi
trường trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đã nêu quan
điểm: “Bảo vệ môi trường là nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường
lối chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các

bồi dưỡng đất, xem đó là một bộ phận quan trọng trong chiến lược sử dụng
đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững.
1.2. Các yếu tố cơ bản tác động lên hệ thống cây trồng
Cây trồng là sinh vật sống, vì vậy chúng chịu tác động rất lớn vào điều
kiện: đất đai, khí hậu, nước, sâu bệnh, trình độ hiểu biết của con người quản
lý nó, điều kiện kinh tế - xã hội, khoa học kỹ thuật…Vì vậy, chuyển dịch cơ
cấu cây trồng là phải tiến hành từng bước một, từ làm thử rồi mới đến diện
rộng và phổ biến đại trà.
Để xác định được cơ cấu cây trồng hợp lý, đạt hiệu qủa tối ưu thì ta
phải căn cứ vào một số điều kiện cụ thể trong không gian nhất định và thời
gian nhất định.
1.2.1. Khí hậu
Khí hậu là thành phần quan trọng của hệ sinh thái, là yếu tố quan trọng
hàng đầu trong việc xác định cơ cấu cây trồng. Khí hậu cung cấp nguồn lợi tự
nhiên là năng lượng bức xạ và nước từ khí quyển, đó là hai nguồn không thể
thiếu được trong việc tạo thành năng suất cây trồng. Cơ cấu cây trồng trước
11
hết phải lợi dụng được tất cả các thuận lợi của khí hậu, như: nhiệt độ, ẩm độ,
ánh sáng… để bố trí như thế nào cho cây trồng phát triển tốt nhất, năng suất
sản lượng cao nhất. Tuy nhiên các yếu tố khí hậu cũng có lúc thuận lợi, có lúc
khó khăn cho sự phát triển của cây trồng như: nhiệt độ quá cao hay qúa thấp,
lượng mưa thay đổi gây ra úng hạn… vì vậy, khi xây dựng cơ cấu cây trồng
thì phải dựa vào các điều kiện thời tiết khí hậu để bố trí cây trồng cho hợp lý,
tránh được tất cả các mặt tiêu cực, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do điều
kiện khí hậu gây ra.
Các nhà nông học cho rằng: đối với cây hàng năm, điều quan trọng là
mỗi vùng, mỗi năm có thể làm được mấy vụ cây trồng, điều đó phụ thuộc vào
tổng số nhiệt lượng mỗi năm của vùng đó là bao nhiêu, mỗi vụ cây trồng cần
bao nhiêu nhiệt lượng, vì vậy, sẽ phân biệt được cây ưa nóng, cây ưa lạnh
cùng với việc nắm được tình hình nhiệt độ các tháng trong năm để phân biệt

có thể thay đổi hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất bằng việc bón thêm
phân và canh tác hợp lý. Phần lớn các loại đất tốt được trồng các loại cây có
phản ứng mạnh với độ màu mỡ của đất và có giá trị kinh tế cao. Nói cách
khác sử dụng hợp lý đất và nước chính là cơ sở để hình thành khái niệm
“nông sinh thái” trong mối quan hệ giữa hệ thống nhỏ với hệ thống lớn này
“vừa là mục tiêu vừa là phương tiện” để phục vụ cho nền nông nghiệp theo
quan niệm sinh thái và phát triển bền vững không thể tách rời chiến lược sử
dụng hợp lý đất và nước.
1.2.3. Đặc tính sinh vật học của cây trồng
Là thành phần chủ yếu của hệ sinh thái nông nghiệp, là nguồn lợi tự
nhiến sống. Sản xuất nông nghiệp là sử dụng nguồn lợi tự nhiên ấy một cách
tốt nhất trong điều kiện khí hậu và đất đai thích hợp với chúng. Muốn vậy cần
13
phải nắm vững yêu cầu của các loại và các giống cây trồng phù hợp với tiểu
vùng khí hậu, đấtt đai và khả năng sử dụng các điều kiện đó của cây trồng.
Khác với các yếu tố khí hậu và đất đai, con người ít có khả năng thay
đổi, còn đối với cây trồng con người có thể lựa chọn, di thực đến nơi cần
thiết. Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và những hiểu biết của sinh học
hiện đại con người có khả năng thay đổi bản chất của chúng theo hướng mà
mình mong muốn.
Theo Đào Thế Tuấn (1977), một trong những nguyên nhân làm cho cây
trồng chưa đạt hiệu quả năng suất sử dụng ánh sáng cao là do bố trí thời vụ,
chọn giống có thời gian sinh trưởng chưa hợp lý, chưa bố trí nhiều vụ trên
năm nên cường độ ánh sáng chiếu xuống mặt ruộng còn lãng phí, cần khắc
phục bằng việc bố trí cơ cấu cây trồng theo nguyên tắc sau:
- Cố gắng bố trí cây trồng quanh năm trong điều kiện cây có thể sinh
trưởng được để trên mặt ruộng rút ngắn được thời gian ánh sáng chiếu xuống
mặt đất không có lá xanh quang hợp.
- Chọn cây trồng thích hợp với chế độ nhiệt của từng vụ, lợi dụng triệt
để chế độ nhiệt.

Cơ cấu cây trồng bị chi phối bởi những điều kiện kinh tế - xã hội như:
+ Trình độ dân trí: Trong điều kiện dân trí còn hạn chế, những hiểu biết
về khoa học kỹ thuật còn hạn chế thì việc áp dụng các cơ cấu cây trồng đa dạng
với những giống mới đòi hỏi thâm canh cao, kỹ thuật nghiêm ngặt thì chắc
chắn sẽ kém hiệu quả và không đạt năng suất. Vì thế tùy theo mỗi vùng mà
người ta bố trí cơ cấu cây trồng, đưa các giống mới vào sản xuất cho hợp lý.
+ Cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng: Liên quan rất nhiều đến việc bố trí cơ
cấu cây trồng, giao thông phải thuận lợi cho việc vận chuyển, hệ thống thủy
lợi phải đảm bảo và phụ vụ tốt cho sản xuất.
15
+ Tập quán tiêu dùng của xã hội cũng chi phối việc lựa chọn cơ cấu
cây trồng.
- Các vấn đề kinh tế, thị trường và cơ cấu cây trồng:
Cơ cấu cây trồng mới phải đạt giá trị kinh tế cao hơn cơ cấu cây trồng
cũ. Để phát triển bền vững giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích có thể
tăng vụ, thay đổi giống cây trồng hoặc tăng đầu tư thâm canh… Vấn đề tăng
vụ chỉ có thể giải quyết một phần phạm vi nhất định và chịu sự chi phối lớn
của điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai… Tóm lại, về mặt kinh tế cơ cấu cây
trồng cần phải thỏa mãn điều kiện sau:
- Đảm bảo yêu cầu chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao
- Đảm bảo việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn
nuôi, tận dụng các nguồi lợi tự nhiên.
- Đảm bảo thu hút lao động và vật tư kỹ thuật có hiệu quả kinh tế.
- Đảm bảo chất lượng và giá trị hàng hóa cao hơn cây trồng cũ.
- Khi đánh giá hiệu quả kinh tế cơ cấu cây trồng có thể dựa vào một số
chỉ tiêu như: năng suất tổng sản lượng, giá thành, thu nhập và mức lãi của sản
phẩm hàng hóa. Việc đánh giá này phức tạp do giá cả sản phẩm tùy thuộc vào
cung cầu của thị trường, có thể khái quát thị trường là tổng hợp những ngươi
mua và bán tác động qua lại lẫn nhau dẫn đến sự trao đổi (Kinh tế học vĩ mô,
NXB thống kê, Hà nội, 1999).

điều kiện tự nhiên và mức độ đầu tư kỹ thuật. Vì vạy, cần chú ý khi bố trí
cơ cấu cây trồng.
Việc vận dụng các nguồn lợi đất đai, thâm canh và tăng vụ đòi hỏi phải
có lao động. Có hai hướng giải quyết lao động để tăng vụ, như sau:
- Bố trí cây trồng hợp lý, rải vụ, dùng giống cây trồng có thời gian sinh
trưởng phù hợp, bố trí thời gian gieo cấy, thu hoạch hợp lý.
17
- Cải tiến công cụ lao động và cơ giới hóa trong các khâu sản xuất, như:
thu hoạch, làm đất, vận chuyển…
1.2.7. Các phương pháp nghiên cứu về hệ thống cây trồng
Hệ thống canh tác đã được các nhà khoa học trên thế giới và trong nước
rất quan tâm, được đề cập sớm ở nhiều nước như các phương pháp mô phỏng,
phương pháp phân tích kinh tế…
- Theo tài liệu của FAO, năm 1992 về phương pháp đánh giá đất và sau
đó được xem xét lý lẽ mà người nông dân sử dụng với quyết định của mình.
- Các nhà khoa học của IRRI (The International Rice Research
Institute), trong nghiên cứu hệ thống canh tác đã đưa ra các phương pháp
nghiên cứu tiếp cận nông dân.
- Ở Việt Nam, Võ Minh Kha (1990) [15] đã đưa ra phương pháp tổ
chức và xây dựng hệ thống canh tác tiến bộ. Khi nghiên cứu hệ thống nông
nghiệp đã đề cập các phương pháp cụ thể để điều tra mô tả hệ thống cây trồng
thông qua phương pháp của FAO.
- Theo tác giả Trần Ngọc Ngoạn, Nguyễn Hữu Hồng, Đặng Văn Minh
(1999) thì đánh giá nhanh nông thôn RRA và đánh giá có sự tham gia của
nông dân PRA được các nhà nghiên cứu ứng dụng trong các lĩnh vực về phát
triển nông nghiệp, sinh thái môi trường, khuyến nông và phát triển cộng đồng.
Phương pháp RRA/PRA được coi là công cụ hữu hiệu của những người làm
công tác kế hoạch, những người trực tiếp chỉ đạo sản xuất kịp thời nắm bắt
tình hình cơ sở. Sử dụng công cụ này ngày càng được áp dụng rộng rãi trong
hoạch định chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn và cộng đồng.

nghiên cứu hệ thống cây trồng mới rất đa dạng và phong phú để giải quyết
những vấn đề sau:
19
- Tăng vụ, trồng cây ngắn ngày để thu hoạch trước mùa mưa lũ.
- Thử nghiệm tăng vụ màu cây trồng mới, luân canh, xen canh.
- Xác định hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh và khắc phục
các yếu tố hạn chế để phát triển các công thức đạt hiệu quả cao.
Ở Đài Loan tổng số tích ôn trong năm là: 8.000-9.000
0
C có 2-4 tháng
nhiệt độ dưới 20
0
C, đã có tập quán trồng 3 vụ/năm từ lâu, đó là: lúa Xuân –
lúa Mùa – cây vụ Đông.
Các cây vụ Đông như khoai lang, lúa mì, rau, hoặc ngô, đậu tương,
thuốc lá…Để đảm bảo thời vụ, người ta trồng gối ngô, đậu tương, khoai lang
giữa 2 hàng lúa chưa chín.
- Ở Châu Âu chế độ luân canh 3 mảnh đã tồn tại hàng chục thế kỷ, từ
thế kỷ 17, cuộc cách mạng thức ăn gia súc đã chuyển sang chế độ luân canh 4
mảnh, với các biện pháp kỹ thuật bón phân chuồng đã đưa năng suất lúa từ 6-
8 tạ/ha lên 14-18 tạ/ha. Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, biên pháp hóa
học, sử dụng thuốc trừ sâu, chọn giống… trong nông nghiệp đã từng bước
phát triển.
- Tại Inđônêxia người ta đã dùng biện pháp kỹ thuật kết hợp trồng trọt
với chăn nuôi gia súc và có dùng các giống cây trồng cho năng suất cao, đa
dạng hóa cây trồng thích hợp trên các loại đất. Từ những năm 1975 – 1984 đã
có thay đổi cơ bản về mặt cơ cấu cây trồng. Trước khi nghiên cứu (trước năm
1975) có 64% diện tích bỏ hóa sau 1 vụ lúa, chỉ 32% diện tích là 2 vụ, đến
năm 1984 chỉ còn 27% diện tích là 1 vụ lúa, 69% diện tích làm 2 vụ, 3 vụ.
Từ những mối liên hệ giữa cây trồng với môi trường quản lý nông

- Nghiên cứu đánh giá một số hệ thống cây trồng chính, nhằm chuyển
dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa.
2.2. Địa điểm và thời gian thực hiện
- Địa điểm: Tại huyện Mèo Vạc - tỉnh Hà Giang.
- Thời gian thực hiện: Từ tháng 4 năm 2012 đến tháng 9 năm 2013.
2.3. Nội dung
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Mèo Vạc.
- Tìm hiểu cơ cấu cây trồng trên đất nương rẫy của huyện.
- Đánh giá hệ thống canh tác cây trồng chính trên đất nương rẫy.
- Hạch toán kinh tế một số mô hình canh tác trên đất nương rẫy điển
hình tại huyện Mèo Vạc.
- Đề xuất hệ thống cây trồng phù hợp trên đất nương rẫy của huyện.
2.4. Phương pháp
2.4.1. Chọn địa điểm nghiên cứu
Đất nương rẫy trồng 2 vụ (gồm 1 vụ ngô và 1 vụ đậu tương) là đất phổ
biến trên địa bàn huyện Mèo Vạc chiếm 90% đất nông nghiệp. Chính vì lý do
đó chúng tôi tiến hành điều tra nghiên cứu tìm hiểu đất đai và hiện trạng hệ
thống cây trồng trên đất rẫy 2 vụ của huyện.
2.4.2. Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp
* Phương pháp kế thừa: ứng dụng phương pháp kế thừa vào thu thập
thông tin thứ cấp ở các cấp, các ngành khác nhau (Chi cục thống kê, Phòng
NN&PTNT, Phòng Địa chính, Đài khí tượng thủy văn,… huyện Mèo Vạc).
22
Các thông tin thứ cấp được sử dụng để xác định các địa điểm chính về
điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và sản xuất nông nghiệp của huyện Mèo Vạc.
* Phương pháp RRA và PRA để:
+ Điều tra phỏng vấn nông dân thu thập thông tin sơ cấp. Đây là các
thông tin cần thiết cho việc đánh giá một số chỉ tiêu cơ bản của hệ thống
cây trồng.
+ Dùng bộ câu hỏi để điều tra nông dân, bộ câu hỏi được xây dựng dựa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status