Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––
PHÀN QUẨY VẢNG
ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG CÂY TRỒNG CHÍNH
TRÊN ĐẤT NƢƠNG RẪY CỦA HUYỆN MÈO VẠC VÀ
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI TIẾN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, năm 2013
Thái Nguyên, năm 2013Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu nào khác từ trước đến nay.
Các thông tin, tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn này đều đã
được chỉ rõ nguồn gốc.
TÁC GIẢ
Phàn Quẩy Vảng
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu và các chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu của đề tài 1
3. Yêu cầu 2
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Cơ sở khoa học nghiên cứu hệ thống cây trồng 3
1.1.1. Lý thuyết hệ thống nông nghiệp 3
1.1.2. Ứng dụng phân tích hệ thống trong nghiên cứu hệ thống nông nghiệp 4
1.1.3. Khái niệm về cơ cấu sản xuất, cơ cấu cây trồng 6
1.1.3.1. Một số lý luận về cơ cấu cây trồng 6
1.1.3.2. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp 7
1.1.3.3. Cơ cấu cây trồng 8
1.1.4. Khái niệm về hệ thống cây trồng 9
1.1.5. Khái niệm phát triển bền vững 9
1.2. Các yếu tố cơ bản tác động lên hệ thống cây trồng 11
1.2.1. Khí hậu 11
1.2.2. Đất đai và thủy lợi 12
1.2.3. Đặc tính sinh vật học của cây trồng 13
1.2.4. Sâu bệnh 14
1.2.5. Điều kiện kinh tế - xã hội 15
1.2.6. Các vấn đề kinh tế của cơ cấu cây trồng 17
3.3.3.1. Cơ cấu giống ngô trồng trên đất nương rẫy tại huyện Mèo Vạc 53
3.3.3.2. Cơ cấu giống đậu tương trồng trên đất nương rẫy tại huyện Mèo Vạc 55
3.3.3.3. Cơ cấu giống cỏ trồng trên đất nương rẫy tại huyện Mèo Vạc 57 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ v
3.3.3.4. Cơ cấu giống rau vụ đông trồng trên đất nương rẫy tại huyện
Mèo Vạc 58
3.3.3.5. Biện pháp kỹ thuật chính đang áp dụng trong canh tác một số cây
trồng chính trên đất nương rẫy tại huyện Mèo Vạc 60
3.5. Một số hệ thống canh tác điển hình tại mèo vạc 64
3.5.1. Một số mô hình cây trồng chính trên đất nương rẫy tại huyện Mèo Vạc 64
3.5.1.1. Ngô Xuân Hè 64
3.5.1.2. Mô hình chuyển đổi đất nương rẫy trồng cây kém hiệu quả sang
trồng cỏ phát triển chăn nuôi gia súc hàng hóa tại huyện Mèo Vạc 65
3.5.1.3. Mô hình sản xuất đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Mèo Vạc 66
3.5.1.4. Mô hình sản xuất ngô Hè Thu trên đất nương rẫy tại huyện Mèo Vạc 69
3.5.1.5. Mô hình sản xuất rau trên đất nương rẫy tại huyện Mèo Vạc 70
3.5.2. Hạch toán kinh tế một số hệ thống cây trồng chính trên đất nương
rẫy tại huyện Mèo Vạc 72
3.5.3. Đánh giá những ưu, nhược điểm của hệ thống cây trồng chính trên
đất nương rẫy ở huyện Mèo Vạc 73
3.5.3.1. Những thuận lợi 73
3.5.3.2. Những khó khăn 73
3.5.3.3. Đánh giá sự chấp nhận của xã hội đối với các hệ thống cây trồng hiện tại 75
3.6. Đề xuất cải tiến hệ thống canh tác trên đất nương rẫy tại huyện Mèo Vạc 76
3.6.1. Về kỹ thuật 76
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Thống kê hiện trạng sử dụng đất của huyện Mèo Vạc năm 2012 27
Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất của 90 hộ điểm điều tra 31
Bảng 3.3: Tình hình dân số, dân tộc và lao động của huyện Mèo Vạc
năm 2012 42
Bảng 3.4: Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp và thu nhập huyện Mèo Vạc
trong 3 năm gần đây 43
Bảng 3.5: Tình hình sản xuất ngành trồng trọt của huyện Mèo Vạc trong 3
năm gần đây 44
Bảng 3.6: Tình hình sản xuất ngành trồng trọt của các xã nghiên cứu 46
Bảng 3.7: Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi của huyện Mèo Vạc trong
3 năm gần đây 49
Bảng 3.8: Lịch thời vụ một số cây trồng chính trên đất nương rẫy tại
huyện Mèo Vạc 50
Bảng 3.9: Cơ cấu các loại cây trồng chính hàng năm trên đất nương rẫy
tại huyện Mèo Vạc năm 2012 52
Bảng 3.10: cơ cấu giống ngô trồng trên đất nương rẫy tại huyện Mèo Vạc 53
Bảng 3.11: Cơ cấu giống đậu tương trồng trên đất nương rẫy tại huyện
Mèo Vạc 56
Bảng 3.12: Cơ cấu giống cỏ trồng trên đất nương rẫy tại huyện Mèo Vạc 58
Bảng 3.13: Cơ cấu giống rau, đậu trồng trên đất nương rẫy tại huyện
Mèo Vạc 58
Bảng 3.14: Hạch toán kinh tế trồng 1 ha ngô Xuân - Hè tại huyện Mèo Vạc 65
Bảng 3.15: Hạch toán kinh tế trồng 1 ha cỏ làm TĂGS tại huyện Mèo Vạc . 66
Bảng 3.16: Hạch toán kinh tế trồng 1 ha đậu tương Hè - Thu tại huyện
Mèo Vạc 68
Bảng 3.17: Hạch toán kinh tế trồng 1 ha ngô Hè - Thu tại huyện Mèo Vạc 70
kinh tế, xoá đói giảm nghèo của huyện.
Thực tế sản xuất nông nghiệp ở huyện Mèo Vạc cho thấy hầu hết đất
đai canh tác là đất nương rẫy. Do đó, vấn đề phát huy khai thác, sử dụng hợp
lý hệ thống cây trồng trên đất nương rẫy là một trong những yếu tố quan trọng
hàng đầu trong phát triển sản xuất ngành trồng trọt của huyện. Do vậy, việc
làm thế nào để phát triển hệ thống canh tác trên đất nương rẫy trong điều kiện
vô cùng khắc nghiệt của huyện Mèo Vạc luôn là trăn trở, là yêu cầu bức xúc
của chính quyền và nhân dân địa phương và nhận được sự quan tâm của các
cấp, các ngành từ Trung ương và của các nhà khoa học. Chính vì vậy, chúng
tôi đặt vấn đề và tiến hành nghiên cứu Đề tài: "Đánh giá hệ thống cây trồng
chính trên đất nương rẫy của huyện Mèo Vạc và đề xuất một số giải pháp
cải tiến" tại huyện Mèo Vạc – tỉnh Hà Giang là nhằm góp phần giải quyết
những vấn đề cấp bách kể trên.
2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá được hiện trạng cơ cấu cây trồng trên đất nương rẫy của
huyện Mèo Vạc, từ đó tìm ra các điểm mạnh, yếu ảnh hưởng đến quá trình
chuyển dịch cơ cấu cây trồng và làm rõ nguyên nhân. Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 2
- Tìm hiểu được những hạn chế, nguyên nhân và đề xuất các giải
pháp cải tiến.
3. Yêu cầu
- Phân tích đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn
nghiên cứu ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.
- Đánh giá được thực trạng ngành trồng trọt của khu vực nghiên
cứu để tìm ra được các khó khăn trở ngại và tiềm năng sản xuất nông
Lý thuyết hệ thống đã và đang được áp dụng ngày càng rộng rãi trong
nhiều ngành khoa học. Có thể nói các ý tưởng ứng dụng lý thuyết hệ thống đã
có từ xa xưa trong lịch sử triết học châu Âu.
Hệ thống là một tổng thể có trật tự các yếu tố khác nhau, có quan hệ và
tác động qua lại. Nói cách khác đó là một tập hợp các đối tượng hoặc các
thuộc tính được liên kết bằng nhiều mối tương tác.
Mục đích của việc nghiên cứu hệ thống là nhằm điều khiển sự hoạt
động của nó, thực chất của việc điều khiển các hệ sinh thái nông nghiệp (hay
hệ thống nông nghiệp) là các biện pháp kinh tế, kỹ thuật nhằm phát triển nông
nghiệp, nông thôn bền vững.
Ngày nay, quan điểm về hệ thống nông nghiệp được nhìn từ nhiều góc
độ khác nhau nhưng đều hướng tới khai thác có hiệu quả các điều kiện tự
nhiên, môi trường xung quanh đồng thời đảm bảo tính bền vững và lâu dài
trong việc khai thác.
Hệ thống nông nghiệp là một phương thức khai thác môi trường được
hình thành và phát triển trong lịch sử, trong một hệ thống sản xuất thích ứng
với các điều kiện sinh thái khí hậu của một không gian nhất định, đáp ứng các
điều kiện và nhu cầu phát triển của con người trong giai đoạn lịch sử đó.
Cũng theo Phạm Chí Thành. Xu thế phát triển hệ thống nông nghiệp hiện đại
thừa nhận các khái niệm hệ thống nông nghiệp hay hệ thống sinh thái nông
nghiệp (Agrecosystems) thực chất là đồng nghĩa với hệ thống nông trại. Đó là
các mối quan hệ hữu cơ phức tạp giữa quá trình sinh học, môi trường sinh thái
bên ngoài, bên trong và quá trình xã hội. Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 4
* Hệ thống nông nghiệp (HTNN)
5
- Tính bền vững (Sustainability): Là khả năng duy trì năng suất của hệ
thống khi chịu ảnh hưởng hay những đảo lộn như thiên tai, bệnh dịch… Tính
chống chịu được xem xét như khả năng duy trì năng suất, tính chống chịu
kém thường dẫn tới sự bất ổn định về năng suất.
- Tính công bằng (Equitability): Dùng để đánh giá sự phân phối sản
phẩm của hệ thống càng công bằng thì sản phẩm của nó được phân phối càng
công bằng.
Người ta thường sử dụng các phương pháp kinh tế để đánh giá như
phương pháp phân phối thống kê hay phương pháp hệ số Gini.
Muốn phân tích hệ thống sinh thái nông nghiệp phải dựa trên cơ sở
các nguyên tắc của hệ sinh thái nông nghiệp và hệ sinh thái nhân văn, phân
tích tài nguyên.
Thời gian qua nước ta cũng như nhiều nước đang phát triển khác,
ngành trồng trọt mới chỉ phát triển nhanh ở các vùng thuận lợi nhờ tập trung
vào việc cải tiến giống cho năng suất cao, thủy lợi, phân bón hóa học, thuốc
bảo vệ thực vật… còn những vùng có điều kiện sinh thái khó khăn và các
vùng đất hạn, úng, đất chặt… các tiến bộ kỹ thuật chưa tỏ ra thích ứng. Vì vậy
muốn đẩy nhanh phát triển nông nghiệp thì cần phải phát triển và huy động
chủ yếu các nguồn lực bên trong hệ thống đó là: Phát triển đất đai theo chiều
sâu (Thâm canh tăng vụ) sử dụng nguồn lợi lao động, vốn của dân và những
tiến bộ thích ứng với các điều kiện sinh thái khó khăn, tốn ít vốn, sử dụng
nhiều lao động, tiết kiệm năng lượng và sử dụng “Hiệu ứng hệ thống”, và
“Tính trồng” của hệ thống. Đó là cơ sở của chiến lược phát triển nông nghiệp.
Việc phát triển trồng trọt chủ yếu dựa vào “Hiệu ứng hệ thống” bằng
cách bố trí hệ thống cây trồng thích ứng với các điều kiện đất đai, chế độ, khí
hậu, chế độ nước đồng thời đa dạng hóa sản xuất trồng trọt, áp dụng hệ thống
tiến bộ kỹ thuật tổng hợp nhằm sử dụng hợp lý các nguồn lợi tự nhiên và lao
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 7
trừ sâu bênh và cỏ dại… Cơ cấu cây trồng là yếu tố cơ bản nhất của chế độ
canh tác, vì chính nó quyết định nội dung của biện pháp kỹ thuật khác.
Cơ cấu cây trồng mang tính lịch sử xã hội nhất định, trong hoàn cảnh
xã hội cụ thể sẽ có cơ cấu cây trồng tối ưu cụ thể tại thời điểm đó. Không có
một cơ cấu cây trồng tối ưu cho mọi thời gian, mọi không gian và thời kỳ phát
triển của lịch sử loài người. Cơ cấu cây trồng luôn luôn biến đổi theo hướng
ngày càng hoàn thiện và phát triển thông qua sự chuyển hóa lẫn nhau, từ cũ
chuyển sang mới nhờ được thay thế bằng các giống mới, cơ cấu mới, từ đơn
điệu đến đa dạng, từ hiệu quả thấp đến hiệu quả cao, do yêu cầu tăng trưởng
và phát triển của nhân loại cùng với sự phát triển của nền văn minh nhân loại.
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng là cả một quá trình lâu dài gắn liền với
những tiến bộ về khoa học công nghệ. Không thể có một cơ cấu cây trồng sẵn
có hoặc xuất hiện ngay lập tức đổi chỗ cho cơ cấu cây trồng cũ mà cần phải
có quá trình thay đổi dần dần về lượng sau đó về chất nhanh hay chậm còn
tùy thuộc vào trình độ hiểu biết của các chủ thể quản lý, các điều kiện kinh tế
- xã hội. Đối tượng cây trồng là sinh vật sống, chúng chịu sự tác động rất lớn
của điều kiện sống như: đất đai, khí hậu…trình độ hiểu biết của người quản
lý, điều kiện kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ… Chính vì vây chuyển dịch
cơ cấu cây trồng phải tiến hành từng bước và hoàn thiện dần cho phù hợp với
sự phát triển của nhân loại.
Cơ cấu cây trồng phù hợp phải khắc phục được các yếu tố hạn chế, đảm
bảo khả năng sản xuất của đất đai, có độ an toàn cao nhất, xác xuất gặp rủi ro
thấp nhất, phù hợp với tập quán của địa phương, đảm bảo an toàn cho hệ sinh
thái, được nhân dân lựa chọn và phát triển rộng rãi, đem lại lợi ích cao nhất
cho người sản xuất.
Theo học thuyết cấu trúc và học thuyết tổ chức hữu cơ thì cơ cấu có thể
hiểu như “một cơ thể được hình thành trong điều kiện môi trường (hiểu theo
nghĩa rộng) nhất định. Trong đó, các bộ phận hay các yếu tố của nó được lắp
ráp, phối hợp cấu tạo có tính chất quy luật và hệ thống theo một kích cỡ và tỷ
lệ thích ứng” (Trần Đình Đằng,1994). [13] Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 9
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý có vai trò quan trọng thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp phát triển, tăng giá trị tổng sản
phẩm, tăng giá trị hàng hóa, tăng thu nhập và nâng cao đời sống của nhân dân.
Trong chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, nghiên cứu chuyển
đổi cơ cấu cây trồng xác định được cơ cấu cây trồng cho sự đa dạng hóa trong
hầu hết các hệ phụ của hệ thống nông nghiệp. Sự đa dạng hóa cây trồng và
tăng trưởng theo mục tiêu cụ thể sẽ tạo nền tảng cho sự công nghiệp hóa và
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và phát triển kinh tế trong tương lai.
Nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây
trồng nhằm tìm ra các biện pháp kỹ thuật giúp nâng cao năng suất, chất lượng
nông sản bằng cách áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào hệ thống cây trồng hiện
có, hoặc đưa ra hệ thống cây trồng mới hướng vào các hợp phần tự nhiên,
sinh học kỹ thuật, lao động, quản lý thị trường để phát triển cơ cấu cây trồng
trong những điều kiện mới nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
1.1.4. Khái niệm về hệ thống cây trồng
Hệ thống cây trồng (Cropping systems): là thành phần các giống và các
loại cây trồng được bố trí trong không gian và thời gian của các loại cây trồng
trong mọi hệ sinh thái nông nghiệp, nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi
tự nhiên, kinh tế - xã hội.
kinh tế và môi trường. Khái niệm tài sản quốc gia hay dự trữ của quốc gia là
bao gồm tài sản do con người làm ra, tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên con
người và tài nguyên xã hội. Bốn dạng thức này được liên kết với nhau ở mức
độ cao, chúng bổ sung, đôi khi tăng cường cho nhau đóng góp vào các hoạt
động kinh tế. Như vậy, sự thay đổi dự trữ tư bản sẽ xác định sự thay đổi các
cơ hội kinh tế và không kinh tế cho con người hiện tại và các thế hệ trong
tương lai. Với ý nghĩa này “sự bền vững là cơ hội” được định nghĩa “sự bền
vững là để lại cho các thế hệ tương lai, nếu không được nhiều hơn thì cũng
bằng các cơ hội chúng ta đã có cho chính chúng ta ngày hôm nay”.
Nông nghiệp không giống các ngành công nghiệp dựa vào tài nguyên
khác, trong nông nghiệp các quyết định về sử dụng đất, nước của những nông Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 11
dân cá thể là rất quan trọng, những quyết định này được lặp đi lặp lại nhiều
lần trong cùng cảnh quan, nhưng các quyết định này được tập hợp lại có thể
có tầm quan trọng trong khu vực, thậm chí toàn cầu.
Mục tiêu của quản lý đất bền vững là “điều hòa các mục tiêu và tạo cơ
hội cho việc đạt được kết quả về môi trường, kinh tế và xã hội vì lợi ích của
không chỉ cho các thế hệ hiện nay mà còn cho các thế hệ tương lai” trong khi
vẫn duy trì và nâng cao chất lượng của tài nguyên đất, nước và không khí.
Vì vậy, muốn xây dựng nền nông nghiệp bền vững cần phải nhận thức
và tổ chức thực hiện có kết quả các phương thức sử dụng hợp lý, bảo vệ và
bồi dưỡng đất, xem đó là một bộ phận quan trọng trong chiến lược sử dụng
đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững.
1.2. Các yếu tố cơ bản tác động lên hệ thống cây trồng
Cây trồng là sinh vật sống, vì vậy chúng chịu tác động rất lớn vào điều
cùng với việc nắm được tình hình nhiệt độ các tháng trong năm để phân biệt
các loại cây trồng theo yêu cầu nhiệt độ (những cây sinh trưởng ưa nóng và
cây sinh trưởng ưa lạnh) để bố trí cây trồng cho phù hợp.
Theo Đào Quang Tuấn (1997) bố trí cây trồng hợp lý cần nắm được chế
độ mưa trong năm ở từng khu vực để tận dụng lượng nước do mưa cung cấp
và tránh được những hạn chế do mưa ảnh hưởng đến cây trồng.
1.2.2. Đất đai và thủy lợi
Khi bố trí cơ cấu cây trồng, trong điều kiện đất đai và thủy lợi là một
căn cứ quan trọng sau điều kiện khí hậu, đất và nước là thành phần quan trọng
của hệ sinh thái. Đất là nơi cung cấp nước và dinh dưỡng chủ yếu cho cây
trồng phát triển. Cây trồng tốt hay xấu phụ thuộc nhiều vào độ màu mỡ của
đất, thành phần cơ giới của đất, khả năng cung cấp nước tưới như thế nào.
Mỗi loại cây trồng thích hợp với từng loại đât khác nhau và khả năng chịu
nước của các loại giống cây trồng cũng khác nhau. Vì vậy, bố trí cơ cấu cây
trồng hay chuyển dịch cơ cấu cây trồng phải căn cứ vào đất đai và thủy lợi.
Như chúng ta đều biết độ phì nhiêu của đất có thể tăng lên hay giảm đi là do
quá trình đầu tư thâm canh cây trồng, là kết quả của việc sử dụng đất và quá Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 13
trình canh tác của con người. Vì thế độ màu mỡ của đất thay đổi thì cơ cấu
cây trồng cũng phải thay đổi cho phù hợp, tuy nhiên trong các loại cây trồng
có loại đòi hỏi phải trồng ở nơi đất tốt nhưng cũng có cây chịu được đất xấu,
ví dụ cây sắn có thể chịu được điều kiện đất đai khắc nghiệt. Muốn khắc phục
để hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất tăng lên thì ta có thể bón thêm
phân các loại một cách cân đối. Nắm được các đặc tính lý hóa của đất, con
người có thể tác động cải tạo đất dần dần để phù hợp với cây trồng hơn. Ví dụ
mình mong muốn.
Theo Đào Thế Tuấn (1977), một trong những nguyên nhân làm cho cây
trồng chưa đạt hiệu quả năng suất sử dụng ánh sáng cao là do bố trí thời vụ,
chọn giống có thời gian sinh trưởng chưa hợp lý, chưa bố trí nhiều vụ trên
năm nên cường độ ánh sáng chiếu xuống mặt ruộng còn lãng phí, cần khắc
phục bằng việc bố trí cơ cấu cây trồng theo nguyên tắc sau:
- Cố gắng bố trí cây trồng quanh năm trong điều kiện cây có thể sinh
trưởng được để trên mặt ruộng rút ngắn được thời gian ánh sáng chiếu xuống
mặt đất không có lá xanh quang hợp.
- Chọn cây trồng thích hợp với chế độ nhiệt của từng vụ, lợi dụng triệt
để chế độ nhiệt.
- Lợi dụng triệt để chế độ nước tự nhiên trong điều kiện không tưới
bằng cách chọn cây chịu hạn ở những vụ thiếu nước hoặc chọn cây có phản
ứng mạnh với việc tưới nước để sử dụng tốt lượng nước tưới. Các giống cây
trồng có thời gian sinh trưởng khác nhau cho nên cũng có thời vụ gieo trồng
khác nhau. Do đó bố trí cơ cấu cây trồng cần nắm rõ lý lịch của các giống, nếu
là các giống cây trồng mới cần phải làm thử nghiệm ở những không gian và
thời gian khác nhau, để khi bố trí vào cơ cấu cây trồng tránh được những rủi ro.
- Chọn được các giống cây trồng thích hợp với điều kiện khí hậu đất
đai của vùng sẽ tạo được những khả năng mới cho việc tận dụng những điều
kiện ấy ở mức độ cao hơn, tạo được cơ cấu cây trồng hợp lý cho một vùng.
1.2.4. Sâu bệnh
Do điều kiện khí hậu khác nhau thì thành phần cây trồng khác nhau và
thành phần sâu bệnh cũng khác nhau. Nắm chắc được quy luật phát sinh và Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 15