Thực trạng Kế toán bán hàng & xác định kết quả bán hàng tại Công ty Cổ phần Đổi mới & Phát triển INDE - Pdf 14

Chương I
lý luận chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng
tại d.N.T.M
1.1. Sự cần thiết tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong
Doanh nghiệp thương mại (DNTM)
1. 1.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI
ẢNH HƯỞNG TỚI KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ
KINH DOANH TRONG DNTM
KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ GIAI ĐOẠN SAU CÙNG CỦA
CHU KỲ TÁI SẢN XUẤT, NHẰM ĐƯA SẢN PHẨM TỚI TAY NGƯỜI
TIÊU DÙNG, PHỤC VỤ NHU CẦU SẢN XUẤT CŨNG NHƯ TIÊU DÙNG
CỦA HỌ.
THƯƠNG MẠI ĐƯỢC HIỂU LÀ BUÔN BÁN, TỨC LÀ MUA HÀNG
HOÁ ĐỂ BÁN RA KIẾM LỜI, THU TIỀN RỒI LẠI TIẾP TỤC MUA HÀNG
BÁN RA NHIỀU HƠN. NHƯ VẬY, HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI TÁCH
BIỆT HẲN KHÔNG LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ TRÌNH TẠO RA SẢN PHẨM,
SẢN PHẨM ĐƯỢC SẢN XUẤT RA Ở ĐÂU; NÓ CHỈ LÀ HOẠT ĐỘNG
TRAO ĐỔI LƯU THÔNG HÀNG HOÁ DỊCH VỤ DỰA TRÊN SỰ THOẢ
THUẬN VỀ GIÁ CẢ.
TRONG ĐIỀU KIỆN CHUYỂN SANG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY, VAI TRÒ HOẠT ĐỘNG CỦA THƯƠNG MẠI NGÀY
CÀNG CÓ Ý NGHĨA VÀ ẢNH HƯỞNG TRỰC TIẾP TỚI SỰ TỒN TẠI VÀ
PHÁT TRIỂN CỦA MỖI DOANH NGHIỆP CŨNG NHƯ CÔNG TÁC KẾ
TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG
DOANH NGIỆP. Ở ĐÂY TA CHỈ XÉT ĐẾN CÔNG TÁC BÁN HÀNG - HOẠT
ĐỘNG CHÍNH TẠO RA LỢI NHUẬN CHO CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG
MẠI.
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI LÀ HOẠT ĐỘNG PHI
SẢN XUẤT, NHƯ CHÚNG TA ĐÃ BIẾT, LƯU THÔNG KHÔNG TẠO RA
GIÁ TRỊ NHƯNG GIÁ TRỊ CŨNG KHÔNG NẰM NGOÀI QUÁ TRÌNH
1

2
1.1.2.2 Vai trò của bán hàng và xác đinh kết quả bán hàng
Trong công tác quản lý hoạt động bán hàng và xác định kết quả bán hàng
vai trò của kế toán rât quan trọng. Nó phản ánh tình hình vận động của hàng
hoá, hoạt động bán hàng và xác định kết quả bán hàng. Các thông tin mà kế toán
cũng không chỉ phục vụ cho công tác quản lý kinh tế của doanh nghiệp mà còn
là đối tượng liên quan như các nhà đầu tư, cơ quan thuế, chủ nợ ...
Thông tin kế toán giúp các nhà quản trị doanh nghiệp nắm vững được
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, sự biến động của nó, thiết lập sự cân
đối giữa mua vào với tiêu thụ, tìm ra những phương án có hiệu quả nhất.
Để thực hiện chức năng đó, kế toán bán hàng và xác định kết quả bán
hàng cần thực hiện tốt và đầy đủ các nhiệm vụ sau:
- Ghi chép, phản ánh kịp thời, đầy đủ tình hình bán hàng của doanh
nghiệp trong kỳ. Ngoài kế hoạch tổng hợp trên các tài khoản kế toán, kế toán
còn phản theo dõi, ghi chép về số lượng, kết cấu chủng loại hàng đã bán, ghi
chép doanh thu bán hàng từng nhóm, mặt hàng, theo từng đơn vị trực thuộc.
- Tính toán đúng trị giá vốn của hàng đã bán, chi phí bán hàng và các
khoản chi phí nhằm xác định đúng kết quả bán hàng.
- Kiểm tra tình hình tiêu thụ tiền bán hàng và quản lý tiền bán hàng. Đối
với hàng hoá bán chịu cần phải mở sổ sách ghi chép theo từng khách hàng, tứng
lô hàng, số tiền khách hàng nợ, thời hạn và tình hình công nợ...
- Cung cấp thông tin chính xác, trung thực, đầy đủ về tình hình bán hàng,
xác định kết quả phục vụ cho việc kịp báo cáo tài chính và quản lý doanh
nghiệp.
1.1.3. Yêu cầu quả lý đối với công tác bán hàng và xác định
kết quả bán hàng.
* Đối với công tác bán hàng:
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu của các doanh nghiệp là thu được
nhiều lợi nhuận. Doanh nghiệp thương mại không những cần bán được hàng
hoá mà phải bán được nhiều thì mới có khả năng thu được doanh lợi cao, đứng

quá trình bán hàng, phân bổ chi phí hợp lý cho số hàng còn lại cuối kỳ và kết
chuyển chi phí cho hàng tiêu thụ trong kỳ.
1.1.4 Sự cần thiết và nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết
quả bán hàng.
Để quản lý một cách tốt nhất đối với hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, không phân biệt thành phẩn kinh tế, lĩnh vực hoạt động hay hình thức sở
hữu nào đều phải sử dụng đồng thời hàng loạt các công cụ quản lý khác nhau
trong đó kế toán được coi là công cụ hữu hiệu. Nhiệm vụ của kế toán bán hàng
và xác định kết quả bán hàng như sau:
- Một là ghi chép phản ánh đầy đủ kịp thời khối lượng hàng hoá bán ta,
tính toán đúng đắn trị giá vốn của hàng bán ra và các chi phí nhằm xác định
chính xác kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Hai là cung cấp thông tin kịp thời về tình hình bán hàng phục vụ cho
lãnh đạo, điều hành hoạt động kinh doanh thương mại.
- Ba là kiểm tra tiến độ thực hiện kế hoạch bán hàng, kế hoạch lợi nhuận,
Như vậy, kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng là công tác quan
trọng của doanh nghiệp nhằm xác định số lượng và giá trị của lượng hàng hoá
bán ra cũng như doanh thu và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Song để
phát huy được vai trò và thực hiện tốt các nhiệm vụ đã nêu trên đòi hỏi phải tổ
chức tốt công tác kế toán thật khoa học, hợp lý; đồng thời cán bộ kế toán phải
nắm vững nội dung của việc tổ chức tốt công tác kế toán bán hàng và xác định
kết quả bán hàng.
1.2. Nội dung của tổ chức công tác Kế toán bán hàng và xác định kết quả BÁN
HÀNG
1.2.1 Kế toán giá vốn hàng bán.
1.2.1.1 Nội dung giá vốn hàng bán
Giá vốn hàng bán là giá gốc của sản phẩm, hàng hoá lao vụ dịch vụ đã
tiêu thu trong kỳ. Cụ thể bao gồm: toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh gồm giá
vốn hàng xuất kho, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho
hàng đã bán.

quân được xác định trên cơ sở giá thực tế hàng tồn đầu kỳ và đơn giá từng lần
nhập trong kỳ. Cứ sau mỗi lần nhập kho thì lại tính lại giá trị thực tế bình quân
sau lần nhập đó. Và từ đó xác định giá trị hàng hoá xuất lần sau lần nhập đó
6
Giá thực tế h
2
xuất kho = Số lượng h
2
xuất kho x Đơn giá bình quân trước khi
xuất
Theo phương pháp này kế toán không phải chờ đến cuối tháng mới xác
định được đơn giá xuất kho để hạch toán. Phương pháp tính giá này cho ta giá trị
hàng hoá xuất kho chính xác nhất so với giá mua. Tuy nhiên cách tính này phức
tạp chỉ phù hợp với những doanh nghiệp có ít loại hàng hoá và số lần nhập
không nhiều.
Như vậy ở bất kỳ thời điểm nào trong kỳ kế toán cũng có thể xác định
được giá thực tế hàng hoá xuất kho. Đây là phương pháp đơn giản dễ làm nhưng
không chính xác, đặc biệt trong trường hợp giữa hai kỳ hạch toán liên tiếp có sự
biến động lớn về giá cả mua vào. Phương pháp này thường được áp dụng trong
những doanh nghiệp có bộ máy kế toán đơn giản, hoạt động kinh doanh với qui
mô nhỏ.
Phương pháp 2: Phương pháp giá thực tế nhập trước xuất trước (FIFO)
Trong điều kiện giả định rằng hàng hoá nào nhập kho trước sẽ được xuất
trước và giá thực tế giá hàng hoá xuất kho được tính theo đơn giá thực tế của số
hàng thuộc các lần nhập trước nhân với số lượng hàng hoá xuất kho tương ứng.
Phương pháp này thường được áp dụng cho những doanh nghiệp quản lý
cao về điều kiện bảo quản, thời gian... nó giúp doanh nghiệp xác định chính xác
doanh thu và lợi nhuận tương ứng.
Phương pháp 3: Phương pháp giá thực tế nhập sau xuất trước (LIFO)
Bản chất của phương pháp này cũng như phương pháp FIFO nhưng làm

Kế toán sử dụng TK 632 và một số TK liên quan khác như TK111, TK
112
1.2.1.5 Sơ đồ kế toán
* Hạch toán giá vốn hàng bán trong DN áp dụng phương pháp kê khai
thường xuyên
8
TK 156
Sơ đồ hạch toán giá vốn hàng bán
TK 632 TK 911
* HẠCH TOÁN GIÁ VỐN HÀNG BÁN TRONG DN ÁP DỤNG PHƯƠNG
PHÁP KIỂM KÊ ĐỊNH KỲ
SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN GIÁ VỐN HÀNG BÁN
1.2.2 KẾ TOÁN DOANH THU BÁN HÀNG
1.2.2.1 CÁC PHƯƠNG THỨC BÁN HÀNG VÀ PHƯƠNG THỨC THANH
TOÁN
* CÁC PHƯƠNG THỨC BÁN HÀNG
9
TK 156
TK 157
Trị giá vốn của hàng xuất trực
tiếp tại kho trong kỳ
Giá vốn của hàng xuât trực
tiếp tại các phân xưởng
Giá vốn của hàng gửi bán đại
lý ký gửi đã bán được
Kết chuyển giá vốn hàng đã
tiêu thụ trong kỳ
TK 157
TK 156
TK 611

tiền mua hàng bán hàng với người mua, người bán. Doanh nghiệp chỉ thực hiện
việc môi giới: sau khi tìm được nguồn hàng, thoả thuận giá cả số lượng (dựa
trên cơ sở giá cả số lượng trong đơn đặt hàng của người mua) doanh nghiệp tiến
hành bàn giao hàng ngày tại kho hay địa điểm giao hàng của người bán và người
mua có trách nhiệm thanh toán với người bán chứ không phải với doanh nghiệp.
Như vậy, hàng hoá trong trường hợp này không thuộc sở hữu của doanh nghiệp,
doanh nghiệp được hưởng hoa hồng môi giới.
- Bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán.
Theo hình thức này, doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng chuyển
hàng đi bán thẳng cho bên mua tại một địa diểm đã thoả thuận. Hàng hoá lúc
này vẫn thuộc sở hữu của doanh nghiệp. Chỉ khi bên mua thanh toán hoặc khi
doanh nghiệp nhận được giấy biên nhận hàng và bên mua chấp nhận thanh toán
thì hàng hoá được xác nhận là tiêu thụ. Trong trương hợp này, doanh nghiệp
tham gia thanh toán với cả hai bên: Thu tiền bán hàng của người mua và trả tiền
mua hàng cho người bán.
+ Phương thức bán lẻ
10
Đây là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng được thực
hiện theo 3 hình thức:
- Hình thức bán hàng thu tiền tập trung
- Hình thức bán hàng thu tiền trực tiếp
- Hình thức bán hàng trả góp
+ Phương thức bán hàng qua đại lý
- Đối với bên giao đại lý: Hàng giao cho đơn vị đại lý vẫn thuộc quyền sở
hữu của doanh nghiệp và chưa xác dịnh là đã bán. Doanh nghiệp chỉ hạch
toán vào doanh thu khi nhận được tiền toán của bên nhận đại lý hoặc đã được
chấp nhận thanh toán.
Doanh nghiệp có trách nhiệm nộp thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu
có) trên tổng giá trị hàng gửi bán đã tiêu thụ mà không được trừ đi phần hoa
hồng đã trả cho bên nhận đại lý. Khoản hoa hồng doanh nghiệp đã trả coi như là

Xác định kết quả của từng loại hoạt động trong doanh nghiệp phản ánh và
giám đốc tình hình phân phối kết quả đôn đốc thực hiện nghĩa vụ với Nhà Nước,
cung cấp những thông tin kinh tế cần thiết cho những bộ phận có liên quan đồng
thời định kỳ tiến hành phân tích kinh tế đối với hoạt động tiêu thụ, thu nhập và
phân phối kết quả của doanh nghiệp.
1.2.2.2 Nội dung của Doanh thu và điều kiện ghi nhận Doanh thu
* Nội dung của Doanh thu
Doanh thu: Là tổng các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế
toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh
nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được hay
sẽ thu được từ các giai đoạn và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản
phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ cho khách hàng (chưa có thuế GTGT nếu
doanh nghiệp thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu
trừ) bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có) mà cơ
sở kinh doanh được hưởng.
12
Trường hợp doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ bằng ngoại tệ thì
phải qui đổi ngoại tệ ra đồng Việt nam theo tỉ giá thực tế phát sinh hoặc tỉ giá
giao dịch bình quân trên thi trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng nhà
nước Việt nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế.
Doanh thu bán hàng là chỉ tiêu quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp,
phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh trình độ sản xuất
kinh doanh và tổ chức công tác hạch toán. Doanh thu bán hàng nếu được thu đầy
đủ, kịp thời sẽ góp phần thúc đẩy và tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn tạo điều
kiện thuận lợi cho quá trình kinh doanh sau.
* Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thoả mãn tất cả năm
điều kiện sau:
a) Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với
quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua;

Quá trình hạch toán doanh thu thì hóa đơn bán hàng, phiếu xuất kho kiêm
vận chuyển nội bộ, chứng từ tính thuế, … là những chứng từ gốc cần lưu giữ
một cách khoa học và an toàn. Đây cũng chính là căn cứ xác định và ghi sổ kế
toán liên quan.
1.2.2.5 Tài khoản sử dụng
Để theo dõi doanh thu tiêu thụ trong kỳ, kế toán sử dụng tài khoản:
+ Tài khoản 511 - Doanh thu bán hàng: Dùng để phản ánh doanh thu bán
hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp thực hiện trong 1 kỳ kế toán của hoạt
động sản xuất kinh doanh từu các giao dịch và nghiệp vụ sau:
* Bán hàng: Bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và bán hàng hoá
mua vào.
14
* Cung cấp dịch vụ: Thực hiện công việc đã thoả thuận theo hợp đồng trong
một kỳ hoặc trong nhiều kỳ kế toán như cung cấp dịch vụ vận tải, du lịch….
Tài khoản 511 sau khi kết chuyển cuối kỳ không có số dư.
Tài khoản này có 5 TK cấp hai:
+ Tài khoản 5111: Doanh thu bán hàng hoá
+ Tài khoản 5122: Doanh thu bán các thành phẩm
+ Tài khoản 5113: Doanh thu cung cấp dịch vụ
+ Tài khoản 5114: Doanh thu trợ cấp trợ giá
+ Tài khoản 5117 : Doanh thu Bất động sản đo thị
- Tài khoản 512: Doanh thu nội bộ: Dùng để phản ánh doanh thu của sản
phẩm, hàng hoá, lao vụ dịch vụ tiêu thụ giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng 1
công ty, tổng công ty .... hạch toán toàn nghành.
Tài khoản này mở ba TK cấp hai:
+ Tài khoản 5121: Doanh thu nội bộ hàng hoá
+ Tài khoản 5122: DT nội bộ thành phẩm
+ Tài khoản 5123: DT nội bộ cung cấp dịch vụ
Và cỏc tài khoản khỏc cú liờn quan (TK 111, TK 112, TK 131, TK 333...)
1.2.2.6 Sơ đồ kế toán

Thuế GTGT được
khấu trừ (nếu có)
Thuế GTGT
Phí hoa hồng bán hàng
đại lý phải trả
Doanh thu bán hàng đại lý
Kết chuyển giá vốn của hàng
đại lý đã bán được
Xuất hàng giao cho đơn vị
nhận bán hàng đại lý
TK133
TK3331
TK155,15
6
TK157
TK632
TK511
TK111,112,13
1
TK641
Kế toán bán hàng đại lý
TK 511
(4) Thuế GTGT
Phải nộp
(1) Doanh thu bán hàng
cung cấp dịch vụ
chịu thuế GTGT
(2) Hàng bán bị trả
lại bị giảm giá, chiết
khấu thương mại

đầu ra
TK3331
1
(2) D. thu hàng bán bị trả lại
(1) Doanh thu
bán hàng nội
bộ
(4) Kết chuyển
doanh thu thuần
TK512
TK111,112,13
6
TK531
TK911
Kế toán doanh thu bán hàng nội bộ chịu thuế GTGT
tính theo phương pháp khấu trừ
Thuế GTGT phải nộp
theo pp trực tiếp
TK911
D.thu hàng bán
bị trả lại
D.thu bán hàng nội bộ chịu
thuế GTGT
theo p/pháp trực tiếp
Kết chuyển
doanh thu thuần
TK512
TK111,112,136
TK531
TK3331

thanh toán thêm
Số tiền chênh lệch trả thêm
Giá trị hàng nhận đổi về
không chịu thuế GTGT
Doanh thu hàng xuất đổi
không chịu thuế GTGT
TK111,112
TK156

TK131
TK511
Kế toán doanh thu hàng đổi hàng không tương tự
(trường hợp hàng xuất đổi và hàng nhận đổi về không chịu thuế GTGT)
doanh thu phải được phản ánh, theo dõi chi tiết, riêng biệt trên những tài khoản
kế toán phù hợp, nhằm cung cấp thông tin để lập báo cáo tài chính.
Chiết khấu thương mại là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho
khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.
Giảm giá hàng bán là khoản tiền giảm trừ cho người mua do hàng bán bị
kém phẩm chất, không đúng qui cách, hoặc không đúng thời hạn...
Doanh thu hàng bán bị trả lại là giá trị khối lượng hàng đã xác định là tiêu
thụ bị khách hàng trả lại hoặc từ chối thanh toán.
1.2.3.2 Chứng từ sử dụng
1.2.3.3 Tài khoản sử dụng
Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu hàng bán sử dụng các TK sau: TK
521 “ Chiết khấu thương mại”, TK 531 “Hàng bán bị trả lại”, TK 532 “Giảm
giá hàng bán”, và các TK khác có liên quan như TK 111, 112, 331....
1.2.3.4 Sơ đồ kế toán
a. Tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:
20
TK 511,512

TK 531
TK 532
TK 3331
K/C
giảm
giá
hàng
bán,
DT
hàng
bán bị
trả lại
b. Tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp:
1.2.4 Kế toán chi phí bán hàng
1.2.4.1. Nội dung
Chi phí bán hàng CPBH là khoản chi phí doanh nghiệp bỏ ra trong quá
trình lưu thông, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ như chi phí bao gồm sản
phẩm, bảo quản hàng hoá, quảng cáo...
Theo qui định hiện hành, chi phí bán hàng của doanh nghiệp được chia
thành các loại sau:
- Chi phí nhân viên: là các khoản tiền lương, phụ cấp phải trả cho nhân
viên bán hàng, nhân viên đóng gói, bảo quản.... và các khoản trích BHXH,
BHYT, KPCĐ trên tiền lương theo qui định.
- Chi phí vật liệu bao bì: là các khoản chi phí để bao gói sản phẩm, hàng hoá; chi
phí vật liệu dùng cho bảo quản bốc vác nhiên liệu cho vận chuyển sản phẩm...
- Chi phí dụng cụ đồ dùng: là các chi phí về công cụ, dụng cụ, đồ dùng đo
lường, tính toán.... trong khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: chi phí khấu hao tài sản cố định dùng
trong khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ như nhà kho, cửa hàng...
21

giá
hàng
bán,
DT
hàng
bán bị
trả lại
- Chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hoá: gồm các khoản chi phí bỏ ra để
sửa chữa, bảo hành sản phẩm, hàng hoá trong thời gian qui định về bảo hành
như tiền lương, vật liệu...
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: gồm các chi phí về dịch vụ mua ngoài phục
vụ cho khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá dịch vụ như: chi phí thuê TSCĐ, thuê
kho, thuê bãi, vận chuyển...
- Chi phí bằng tiền khác: gồm các chi phí bằng tiền phát sinh trong khâu
tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ ngoài các khoản chi phí kể trên như: chi
phí tiếp khách, hội nghị, chi phí giới thiệu sản phẩm....
1.2.4.2 Chứng từ sử dụng
1.2.4.3 Tài khoản sử dụng
- Tài khoản 641: Chi phí bán hàng - dùng để phản ánh tập hợp và kết chuyển các
chi phí thực tế phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ,
dịch vụ. Tài khoản 641 sau khi kết chuyển không có số dư cuối kỳ.
Tài khoản 641 có 7 tài khoản cấp 2:
+ Tài khoản 6411 : chi phí nhân viên
+ Tài khoản 6412 :chi phí vật liệu, bao bì
+ Tài khoản 6413 : chi phí dụng cụ, đồ dùng
+ Tài khoản 6414 : chi phí khấu hao TSCĐ
+ Tài khoản 6415 : chi phí bảo hành
+ Tài khoản 6417 : chi phí dịch vụ mua ngoài
+ Tài khoản 6418 : Chi phí bằng tiền khác
Và một số tài khoản khác có liên quan

phù hợp
giữa
doanh
thu và
chi phí
Tập hợp chi phí nhân viên bán
hàng
Chi phí vật liệu bao bì
Chi phí công cụ bán hàng
Chi phi khấu hao TSCĐ dùng
cho bán hàng
Phân bổ dần chi phí trả trước
Trích trước chi phí theo kế
hoạch
Các khoản thu hồi ghi giảm
chi phí bán hàng
Chi phí dịch
vụ mua
ngoài chi
bằng tiền
TK 133
Thuế
GTGT
Trừ vào kết quả
KD trong kỳ
Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm nhiều khoản cụ thể, có nội dung
và công dụng khác nhau. Theo qui định hiện hành, chi phí quản lý doanh nghiệp
được chia thành các loại sau:
- Chi phí nhân viên quản lý: gồm tiền lương, phụ cấp phải trả cho
Ban giám đốc, nhân viên các phòng ban của doanh nghiệp và khoản trích

+ Tài khoản 6426 : chi phí dự phòng
+ Tài khoản 6427 :chi phí dịch vụ mua ngoài
+ Tài khoản 6428 : chi phí bằng tiền khác
Và một số tài khoản liên quan khác
1.2.5.4 Sơ đồ kế toán
25
TK 911
SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN CHI PHÍ QUẢN LÝ DN
TK 334,338
TK 153
TK 214
TK 1421
TK 335
TK 139
TK 335
TK 642 TK 111,1388
Tập hợp chi phí nhân viên quản
lý doanh nghiệp
Chi phí dụng cụ
Chi phí khấu hao TSCĐ
Phân bổ dần chi phí trả trước
Trích trước chi phí phải trả theo
kế hoạch
Trích lập dự phòng phải thu khó
đòi
Chi phí
dịch vụ
mua ngoài
chi bằng
tiền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status