HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NỮ TRONG TÁC PHẨM “CAO
LƯƠNG ĐỎ” CỦA MẠC NGÔN.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ MẠC NGÔN VÀ CAO LƯƠNG ĐỎ.
I Mạc Ngôn trên diễn đàn văn học
1.1 Cuộc đời
Mạc Ngôn (sinh ngày 17 tháng 02 năm 1955) tên thật là Quả Môn Nghiệp, sinh
tại thành phố Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, xuất thân từ nông dân. Ông đã
phải nghỉ học giữa chừng vì Cách mạng văn hóa và phải tham gia lao động nhiều
năm ở nông thôn, chăn dê ngoài đồng và luôn bị đói khát, cô đơn.
Ông nhập ngũ năm 1976. Đến năm 1984, ông trúng tuyển vào khoa Văn thuộc
học viện nghệ thuật Quân giải phóng và tốt nghiệp năm 1986. Tháng 10/1987, ông
chuyển sang hoạt động trên lĩnh vực báo chí và viết văn chuyên nghiệp.
2 Sự nghiệp
Mạc Ngôn là một nhà văn tiêu biểu cho nền văn học đương đại Trung Quốc. Bút
danh Mạc Ngôn trong tiếng Trung Quốc có nghĩa là “không lời” được ông lấy khi
viết cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình. Ông chọn bút hiệu này để nhắc nhở mình
kiệm lời. Các tác phẩm của Mạc Ngôn thường chứa đựng những bình luận xã hội,
được cho là chịu ảnh hưởng mạnh mẽ quan điểm chính trị của Lỗ Tấn và chủ nghĩa
hiện thực huyền ào của Gabriel Garcia Marquez. Những câu chuyện thường có bối
cảnh gần quê hương ông, thành phố Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.
Năm 1981, ông cho công bố tác phẩm đầu tay và đến nay, ông đã cho in 10
truyện dài, 20 truyện vừa, hơn 60 truyện ngắn và 5 tuyển tập những bài ký, phóng
sự, tùy bút,… tổng cộng trên 200 tác phẩm. Mạc Ngôn là tác giả khá gần gũi với
độc giả Việt Nam. Các tác phẩm của ông được dịch ra khoảng 18 thứ tiếng. Phần
lớn các tác phẩm của ông đã được dịch ra tiếng Việt. Ông nhận được trên 40 giải
thưởng và danh hiệu cho sáng tác văn chương: giải Tiểu thuyết toàn quốc 1987, giải
nhất tiểu thuyết của Hội Nhà văn Trung Quốc 1996, giải Laure Batailin của Pháp
2001, giải Văn học Hoa ngữ New York – Mỹ 2004, giải Văn học quốc tế Nornio của
Ý 2005, Huân chương Kỵ sĩ Nghệ thuật văn hóa Pháp 2004, giải Hồng lâu mộng
2008, giải Mao Thuẫn 2011, giải Nobel 2012…
Sau Cao Hành Kiện, Mạc Ngôn là nhà văn thứ hai gốc Trung Quốc nhận được
khoáng của con người. Tác phẩm được kể bằng cái nhìn chủ quan của nhà văn, vừa
khốc liệt, lại vừa bay bổng, cuốn hút độc giả hết trang này qua trang khác - một kiểu kể
chuyện rất điển hình của Mạc Ngôn đó là sự hòa trộn giữa hiện thực và yếu tố kỳ ảo,
phi thường. Ngay cả cái chết trong câu chuyện cũng thật lạ kỳ, thật phi thường, nhẹ
bỗng. Cao lương đỏ là một tác phẩm lạ và rất đáng để độc giả thưởng thức.
Tác phẩm từng được giải thưởng văn học Mao Thuẫn năm 1985 - 1986, và được
đạo diễn Trương Nghệ Mưu dựng thành phim. Bộ phim cũng làm vinh danh cho nền
điện ảnh Trung Quốc khi đoạt được hai giải thưởng phim quốc tế.
CHƯƠNG II: NHÂN VẬT NỮ - BIỂU TƯỢNG CỦA QUÊ HƯƠNG.
I. Nhân vật Đái Phượng Liên – hình tượng quê hương Cao Mật trong tâm tưởng
1.1 Quê hương Cao Mật – nơi đẹp đẽ nhất trong tâm tưởng của Mạc Ngôn
Bắt đầu từ Báu vật của đời từng là hiện tượng trong làng văn hóa đọc khi được
dịch giả Trần Đình Hiển chuyển ngữ sang tiếng Việt, nàh văn Mạc Ngôn tiếp tục chinh
phục bạn đọc Việt Nam với một loạt các tác phẩm như: Đàn hương hình, Cây tỏi nổi
giận, Cao lương đỏ… tất cả đều xuất phát từ những hiện thực ngổn ngang và trần trụi
của làng quê Cao Mật quê hương ông.
Các nhà văn Trung Quốc đương đại (và cả các nhà văn trên thế giới) đều gắn bó
máu thịt, sống chết với một vùng đất. Có người không phải là quê hương – nơi chôn
nhau cắt rốn của mình nhưng vì hoàn cảnh mà gắn bó và coi nơi đó như là quê hương
của mình. Giống như nhà thơ Chế Lan Viết đã từng viết:
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”.
(Tiếng hát con tàu)
Điều quan trọng là họ đã biến mảnh đất ấy thành quê hương, thành cảm hứng sáng tác
cho chính mình.
Trong một cuộc phỏng vấn, nhà văn Mạc Ngôn đã có nói: " Cái ập vào đầu óc
tôi lại toàn là tình cảnh quê hương. Kỳ thực, cùng với lúc tôi đang gắng sức rời xa quê
hương, cũng từng bước tôi nhích lại quê hương một cách vô thức".
Cao lương đỏ đưa độc giả trở về thập niên 1920-1930, trên mảnh đất quê hương
của chính tác giả - mảnh đất Cao Mật của tỉnh Sơn Đông. Mảnh đất Cao Mật nghèo
nhào nặn thành các hình tượng văn học. Trong Cao lương đỏ, những nhân vật trong truyện
hiện ra đầy cá tính, khí phách, sống ngang tàng, lạc quan như những ngọn cao lương
thẳng tắp vút lên trên bầu trời Cao Mật. Nổi bật hơn hết là hình ảnh nhân vật Phượng
Liên. Những hành động, lời nói, lối suy nghĩ của cô dường như đều mang dáng dấp
của những con người Cao Mật.
Cuộc đời của Phượng Liên nhiều éo le, thăng trầm nhưng cũng hết sức đẹp đẽ.
Suốt cuộc đời nhiều biến động của bà luôn gắn bó với mảnh đất Cao Mật ấy. Đó là nơi
bà sinh ra, lớn lên và trở thành anh hùng dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Nhật.
Cao Mật cũng là noi chứng kiến cuộc đời nổi loạn của bà, chứng kiến tình yêu đẹp đẽ
nhất trong cuộc đời bà và cũng là nơi chứng kiến cảnh bà ngã xuống lúc qua đời. Ở
Phượng Liên luôn tồn tại hai trạng thái tính cách đối nghịch nhau, vừa thuần khiết
nhưng cũng rất phàm tục, vừa hiền lành lại vừa nổi loạn… Tất cả đều như đối ứng với
mảnh đất Cao Mật. Cuộc đời và tính cách của Phượng Liên như chính là thế giới thu
nhỏ của Cao Mật. Bao thăng trầm của mảnh đất Cao Mật thời kỳ kháng chiến chống
Nhật cũng chính là số phận của Phượng Liên.
Tác giả đã rất tài tình khi xậy dựng hình tượng nhân vật đan cài với hình tượng
quê hương. Điểm đặc biệt là sử dụng hai hình tượng cùng một lúc nhưng không vì thế
mà một yếu tố bị làm lu mờ đi. Ngược lại, hai yếu tố này đi song song với nhau, hỗ trợ
cho nhau và làm nổi bật nhau. Hình tượng Phượng Liên chính là hình ảnh thu nhỏ của
vùng quê Cao Mật. Nhưng biến cố của quê hương Cao Mật cũng chính là những thăng
trầm trong cuộc đời Phượng Liên.
II. Hình tượng nhân vật nữ trong tác phẩm
2.1 Đái Phượng Liên – nhân vật nữ trung tâm và duy nhất trong tác phẩm
Nhân vật nữ trung tâm trong tác phẩm là Đái Phượng Liên – một cô gái vừa
tròn mười sáu tuổi, “cô thiếu nữ vừa xuân thì, phát tiết dung nhan, thắm màu hoa
nguyệt” tràn đầy sức sống. Cha mẹ cô vì tham giàu nên đã gả cô cho chủ nợ họ Đơn,
lấy thằng con trai độc của họ tên là Biển Lang.
Một vài nhân vật nữ xuất hiện trong tác phẩm nhưng Phương Liên là nhân vật
trung tâm, được khắc họa rõ nét và nổi bật nhất. Bà là người đi đầu trong việc giải
phóng cá tính, là điển hình của người phụ nữ sống tự do, tự chủ. Số phận Phượng Liên
cố lịch sử nơi vùng đất ấy. Đó cũng chính là lịch sử phát triển của đất nước Trung
Quốc rộng lớn. Số phận của nàng tiêu biểu cho số phận của nhiều người phụ nữ khác
trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ. Với sự miêu tả chân thực, Mạc Ngôn đã cho
người đọc thấu hiểu được nỗi đau của những người phụ nữ bị gò ép trong những tập
tục lạc hậu: bị gia đình ép buộc lấy một người mà nàng không hề thương yêu; gả chồng
cho con gái là để gán nợ; phải trao cuộc đời mình cho một người không quen biết lại
còn mang bệnh trong người; khát khao yêu thương rạo rực;… Dường như người phụ
nữ chỉ là con rối vô hình để cho xã hội giật dây. Ngay cả quyền làm con người thì
người phụ nữ cũng không được hưởng trọn vẹn cái hạnh phúc đáng lý ra phải thuộc về
mình, phải tự mình nắm lấy. Nhân vật Phượng Liên lại thoát ra khỏi những lễ giáo
phong kiến ràng buộc ấy để một lần sống hết mình vì chính bản thân cô yêu hết mình,
để cho những cảm xúc khát khao hạnh phúc được toát ra, bao phủ lấy cô, dệt nên một
chuyện tình thật đẹp dẽ, lớn lao.
Số phận của Phượng Liên, của Cao Mật giống như số phận của đất nước Trung
Hoa thu nhỏ. Thời phong kiến, Trung Quốc phải chịu nhiều cuộc chiến tranh xâm
lược, khắp nơi là chiến trường, người người phải đứng dậy đấu tranh để giành lấy sự
sống, bảo vệ đất nước. Hình tượng Phượng Liên, hình tượng cao lương đỏ kiên cường
bất khuất như đất nước Trung Quốc sẵn sàng đứng lên, nổi dậy chống lại kẻ thù. Đất
nước Trung Quốc đã phải chịu nhiều đau thương mất mát. Vùng quê Cao Mật chính là
hình ảnh thu nhỏ cho những đau thương ấy. Quân giặc tràn lan khắp nơi, hà hiếp dân
chúng. Chính tay của những người con đất Cao Mật phải tàn phá những ruộng cao
lương đã gắn bó với họ suốt cuộc đời. Cao lương đỏ - thật đẹp đẽ, dịu dàng mà cũng
thật lẫm liệt, hào hùng. Cao lương đỏ - như chính nhan đề của tác phẩm, là không gian
của cao lương, một không gian vừa bất biến vừa đa biến. Theo như lời Mạc Ngôn thì
đó “là nơi đẹp đẽ nhất, xấu xa nhất: siêu thoát nhất, thế tục nhất; trong trắng nhất, nhơ
bẩn nhất”. Cao lương là khí trời, là hơi thở. Đối với các nhân vật của Mạc Ngôn, cao
lương là cuộc sống. Họ sinh ra giữa mảnh đất bạt ngàn cao lương, họ ăn hạt cao lương
để sống, uống rượu cao lương để trưởng thành, gặp nhau trong rừng cao lương, yêu
nhau trên đống lá cao lương, chặt cây cao lương để phủ lên thi thể của người yêu, của
đồng đội…. Cao lương là nơi họ trở thành kẻ cướp nhưng cúng chính là nơi họ trở
Nhưng đối với Cao lương đỏ - với một dụng ý nghệ thuật rõ ràng, tác giả đã tạo ra sự
chênh lệch giữa các chương trong câu chuyện. Nhà văn đã để quá khứ, hiện tại, tương
lai đan xen lẫn lộn nhau trong tác phẩm của mình.
Trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn thường xuất hiện ba thế hệ nhân vật: ông bà,
bố mẹ, “tôi” và bạn bè cũng trang lứa với “tôi”. Dựa vào ba thế hệ đó, tác giả đã tạo
nên một bức tranh nhân sinh biến ảo kì diệu, đầy màu sắc. Sở dĩ có sự xáo trộn ấy là do
nhà văn đã đặt điểm nhìn theo dòng hồi ức của nhân vật “tôi”. Khi cánh cửa hồi ức
được mở ra, ông thường dùng cảm tính để phê phán, bình phẩm cuộc sống chứ không
dùng lý tính để phê phán, bình phẩm cuộc sống.
Toàn bộ tác phẩm là hồi ức của cả “bố tôi” - Đậu Quan, “ông tôi” – Từ Chiếm Ngao
và “bà tôi” – Phượng Liên. Mở đầu là mốc thời gian “theo lịch cũ, mồng chín tháng
tám năm 1939” đội quân của Tư lệnh Từ đi phục kích quân Nhật. Tiếp đó là thời gian
đi ngược chiều giả thích vì sao Tư lệnh Từ phải đứng lên chống lại quân Nhật. Mở đầu
tác phẩm là bố tôi 14 tuổi, đi theo Tư lệnh Từ, “bà tôi” 30 tuổi; tiếp đến là lúc “bà tôi”
16 tuổi lúc sắp về nhà chồng. Cuối tác phẩm là cái chết của “bà tôi” trên ruộng cao
lương, lúc đó những hồi ức lại quay về lúc bà 16 tuổi, làm con dâu nhà họ Đơn nhưng
với trái tim yêu thương cuồng nhiệt đã hòa cùng với Tư lệnh Từ - kết quả của cuộc tin
ấy chính là “bố tôi” bây giờ.
Cả không gian và thời gian nghệ thuật trong tác phẩm đều bị xáo trộn mạnh mẽ. Không
gian này tiếp nối không gian kia, có khi nhanh, có khi chậm, có lúc thoáng qua, có lúc
như dừng lại. Thời gian trôi ngược từ hiện tại đến quá khứ, rồi lại quay nhanh về hiện
tại, từ kết quả đến nguyên nhân; không nững thế thời gian còn bị đảo lộn, xáo trộn bởi
những hồi ức của người kể chuyện xưng “tôi” và của các nhân vật trong tác phẩm.
1.2 Nghệ thuật kể chuyện linh hoạt thông qua sự lưu chuyển của dòng ý thức
Nghệ thuật tự sự kiểu Mạc Ngôn cũng khá độc đáo. Tiểu thuyết truyền thống
thường dùng ngôi thứ ba để kể chuyện nhưng trong Cao lương đỏ (và nhiều tác phẩm
khác của Mạc Ngôn) người kể chuyện thường ở ngôi thứ nhất, xưng “tôi”. “Tôi” có khi
là người, có khi là vật, có khi là sự kết hợp giữa người và vật. Trong Cao lương đỏ,
nhân vật “tôi” kể lại câu chuyện của ông tôi (tư lệnh Từ Chiếm Ngao) và “bà nội tôi”
(sPhượng Liên) và “bố tôi” (Đậu Quan). Ở đây nhân vật “tôi” dường như chỉ là giả
vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, nó mang tính ước lệ, không thể bị đồng nhất với
con người hiện thực, ngay cả khi tác giả xây dựng nhân vật có những nét rất gần với
nguyên mẫu có thật. Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn
về con người, ý nghĩa của một nhân vật văn văn học chỉ có được trong một tác phẩm
cụ thể.
2.1 Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật
Nói đến tính cách là nói đến hệ thống những yếu tố tương đối bền vững, ổn định
và quen thuộc của cá nhân, thể hiện ở cảm nhận và phản ứng của nó đối với cuộc sống
xung quanh, ở quan hệ của nó đối với chính mình và đối với những người khác. Tính
cách chính là khuynh hướng ý chí của cá nhân nảy sinh từ những quan hệ của nó và xã
hội.
Nhân vật của ông ngang tàn, khí phách, phóng túng và yêu tự do. Họ dám phá
bỏ mọi ràng buộc của lễ giáo để giải phóng cá tính.
Từ Chiếm Ngao và những người khác mang trong mình dòng máu thổ phỉ
nhưng cuộc kháng chiến chống Nhật đã lột xác đưa họ trở thành những người anh
hùng dân tộc. Quân Nhật đến và tàn phá ngôi làng, người dân trong làng đã cùng Tư
lệnh Từ đứng lên chống lại quân giặc.
“Cao lương đỏ
Cao lương đỏ,
Bọn giặc Nhật đến rồi!
Bọn giặc Nhật đến rồi!
Nước mất, nhà tan.
Đồng bào ơi mau, đứng dậy,
Cầm dao, cầm sung,
Đánh giặc bảo vệ quê hương…” (Tr.107)
Mối tình kỳ lạ giữa Từ Chiếm Ngao và Phượng Liên luôn lôi cuốn, mê hoặc người
xem. “Luôn đi giữa đỏ và trắng” như Mạc Ngôn nói, “bà nội tôi”, tư lệnh Từ vừa đáng
yêu vừa đáng trách, vừa thánh thiện, vừa phàm tục. “Do nắm lấy bàn chân bà tôi, long
Từ Chiếm Ngao trỗi dậy một linh cảm vĩ đại về một cuộc sống mới sáng tạo” (Tr.92).
Từ Chiếm Ngao đã dũng cảm cướp Phượng Liên trên lung con la và chạy như bay vào
con người của họ mà thông qua đó, khí phách của một dân tộc Trung Hoa anh hùng
cũng được phác họa chân thực.
2.2 Nghệ thuật xây dựng tâm lý nhân vật
Toàn bộ tác phẩm Cao lương đỏ là những dòng hồi ức đang xen lẫn nhau. Vì thế
mà tâm lý nhân vật cũng đa chiều, phức tạp.
Từ Chiếm Ngao và những người đi theo ông là thổ phỉ, sống dựa trên sự bóc lột
người khác. Nhưng khi quân Nhật tràn vào và thay đổi cuộc sống của họ, cướp đi của
họ những gì thân yêu, quý giá nhất thì tâm lý họ lại thay đổi theo chiều hướng khác.
Ông muốn đứng lên đấu tranh, muốn đòi lại quyền tự do muốn quê hương ông được
thanh bình. Từ một người thổ phỉ ông đã vụt trở thành anh hùng cứu quốc.
Với một tính cách vừa mạnh mẽ, dứt khoát như một con chim khao khát bầu
trời, vừa ngoan hiền, nhút nhát như mẫu hình phụ nữ phong kiến, Mạc Ngôn đã thật tài
tình khi xây dựng và miêu tả tâm lý nhân vật Phượng Liên một cách sinh động, hấp
dẫn. Bà sợ gần gũi với người bà không yêu, hai đêm về nhà chồng bà nắm chặt con
dao trên tay, không dám ngủ. Bà căm ghét người cha hám tiền, người mẹ nhẫn tâm, uất
ức vì những định kiến xã hội. Nhưng trái tim của bà, lý trí của bà lại tự nguyện trao
cho người mà bà yêu thương. Ở Phượng Liên luôn toát lên phong thái của một người
phụ nữ mạnh mẽ, muốn khát khao tự do, khát khao yêu đương, khát khao làm chủ cuộc
đời mình. Bất chấp cuộc đời có diễn ra theo chiều hướng nào đi chăng nữa thì bà vẫn
luôn giữ một niềm tin kiên định vào cái hạnh phúc do mình tự tạo ra và tự nắm lấy.
Diễn biến tâm lý lúc bà sắp sửa ra đi cũng được miêu tả hết sức kỹ lưỡng, tinh
tế. Những hồi ức hiện về trong tâm trí bà thập đẹp đẽ, lúc nhanh lúc chậm nhưng thật
rõ ràng. Lúc tưởng đau đớn như muốn chết đi nhưng rồi bà lại tỉnh táo, “trong con mắt
của bà lại rực rỡ ánh sáng kỳ lạ”. Sự giằng xé trước lằn ranh của sự sống và cái chết
hết sức mong manh, giữa sự đau đớn muốn kéo bà về thế giới bên kia với miền khát
khao muốn trụ lại thế giới tươi đẹp này, để chìm đắm giữa ruộng cao lương mênh
mông, để được nhìn thấy đứa con trai và người tình cao lương của bà.
“Trời hỡi, thế nào là trinh tiết? Thế nào là chính đạo? Thế nào là lương thiện?
Thế nào là tà ác? Người chưa hề bảo cho tôi, tôi chỉ làm theo cách nghĩ của tôi, tôi
yêu hạnh phúc, tôi yêu sức mạnh, tôi yêu cái đẹp, thân tôi là của tôi, tôi phải làm chủ