LỜI CẢM ƠN
Trải qua thời gian học tập tại trường và 3 tháng làm đồ án tốt nghiệp tại Viện
nghiên cứu và ứng dụng Nha Trang, tôi đã hoàn thành bài đồ án: “Nghiên cứu trích
ly phlorotannin từ rong Nâu Sargassum Serratum và ứng dụng tạo sản phẩm đồ
uống giàu phlorotannin”.
Để đạt được kết quả đó, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
PGS.TS Bùi Minh Lý – người đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi tiến
hành thực hiện đề tài.
Tôi chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô Khoa Công nghệ Thực Phẩm – trường
Đại học Nha Trang đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian học tại
trường.
Xin gửi lời cảm ơn đến TS. Trần Thị Thanh Vân, Th.S Võ Mai Như Hiếu,
Ks. Trần Nguyễn Hà Vy cùng các anh chị công tác tại phòng thí nghiệm hóa phân
tích và triển khai công nghệ của Viện đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình thực hiện đồ án này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè là chỗ dựa vững chắc, hết lòng
động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn! Nha Trang, tháng 6 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Thúy An
i
MỤC LỤC
MỤC LỤC I
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1. TỔNG QUAN VỀ RONG BIỂN [1] 3
1.1.1 Đặc điểm, sự phân bố rong biển. 3
2.2 Hóa chất và dụng cụ thí nghiệm 37
2.3 Phương pháp nghiên cứu 37
2.4 Quy trình trích ly và thu nhận phlorotannin 41
2.4.1 Sơ đồ quy trình 41
2.4.2 Thuyết minh quy trình 42
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình trích ly Phlorotannin 43
2.5.1 Tiến hành khảo sát điều kiện môi trường (pH) trích ly 43
2.5.2 Tiến hành khảo sát tỷ lệ dung môi trích ly 44
2.5.3 Tiến hành khảo sát nhiệt độ trích ly 45
2.5.4 Tiến hành khảo sát thời gian trích ly 46
2.5.5 Tiến hành xác định hiệu suất trích ly 47
2.5.6 Thí nghiệm xác định nhiệt độ cô đặc 48
2.5.7 Thí nghiệm xác định thời gian ly tâm 49
2.6 Ứng dụng cao chiết phlorotannin vào quá trình tạo sản phẩm: nước uống
rong biển đóng chai. 50
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 52
3.1 Kết quả xác định một số thành phần của rong nguyên liệu. 52
3.2 Kết quả khử mùi của rong biển. 53
3.3 Kết quả xác định thông số thích hợp của quá trình chiết phlorotannin 53
3.3.1 Kết quả xác định ảnh hưởng của môi trường (pH) đến khả năng chiết 54
3.3.2 Kết quả xác định ảnh hưởng của tỷ lệ NL/DM (khối lượng/thể tích) đến
khả năng chiết 55
3.3.3 Kết quả xác định ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng chiết. 58
3.3.4 Kết quả xác định ảnh hưởng của thời gian đến khả năng chiết 59
3.3.5 Xác định hiệu suất trích ly 61
3.3.6 Kết quả xác định thông số thích hợp của quá trình cô đặc 63
iii
3.3.7 Kết quả xác định thông số thích hợp của quá trình ly tâm 66
3.3.8 Đề xuất quy trình chiết phlorotannin từ rong Sargassum Serratum 67
Bảng 3.14: Hàm lượng các thành phần (%) sau khi cô đặc 65
Bảng 3.15 Kết quả đánh giá cảm quan dịch chiết 66
Bảng 3.16: Chỉ tiêu hóa lý và độ nhớt của một số sản phẩm nước ngọt 69
Bảng 3.17: Kết quả đánh giá cảm quan dịch chiết theo tỷ lệ dịch cao bổ sung. 69
Bảng 3.18: Bảng đánh giá cảm quan dịch chiết theo tỷ lệ đường phối chế 70
Bảng 3.19: Kết quả chỉ tiêu vi sinh theo thời gian thanh trùng 71
Bảng 3.20: Bảng mô tả sản phẩm nước rong biển đóng chai có bổ sung cao
phlorotannin. 71
Bảng 3.21: Bảng phân tích các thành phần của sản phẩm sau khi bổ sung cao
phlorotannin. 72
Bảng 3.22: Kết quả kiểm tra chỉ tiêu vi sinh vật trong sản phẩm 72
v
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Sơ đồ hình chiết Mannitol bằng phương pháp hòa tan trong Alcol 25
Hình 1.2: Sơ đồ quy trình tổng quát chiết rút Iod từ rong Nâu 26
Hình 1.3: Phloroglucinol (i) và phlorotannin [tetrafucol A (ii), fucodiphloroethol B
(iii), fucodiphlorethol A (iv), tetrafuhalol A (v), tetraisofuhalol (vi),
phlorofucofuroeckol (vii)] và hoạt tính của chúng. 27
Hình 2.1: Rong Mơ (Sargassum serratum) 37
Hình 2.2: Sơ đồ quy trình thu nhận phlorotannin từ rong Sargassum Serratum. 41
Hình 2.3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định ảnh hưởng của pH 44
Hình 2.4: sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định ảnh hưởng của tỷ lệ dung môi đến khả
năng trích ly. 45
Hình 2.5: Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định ảnh hưởng của nhiệt độ 46
Hình 2.6: Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định ảnh hưởng 47
Hình 2.8: Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định nhiệt độ cô đặc 48
Hình 2.9: Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định thời gian ly tâm 49
Hình 2.10: Sơ đồ quy trình tạo sản phẩm nước uống rong biển đóng chai 50
đây mà còn có những yêu cầu cao hơn. Khi đời sống được nâng cao, con người
ngày càng quan tâm hơn đến sức khỏe của mình. Do đó, những thực phẩm, vật dụng
có thể gây hại cho sức khỏe dần bị loại bỏ và được thay thế bằng các sản phẩm
được sản xuất từ các thành phần chiết xuất từ thiên nhiên. Nhu cầu của con người là
một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy xã hội phát triển và cũng là động lực
thúc đẩy các nhà khoa học, nhà sản xuất tìm tòi, sáng tạo ra nhiều sản phẩm mới.
Với sự phát triển của khoa học, con người đã biết cách chiết xuất ra nhiều
hợp chất có nguồn gốc tự nhiên có lợi cho sức khỏe con người và ứng dụng chúng
vào trong đời sống thông qua nhiều ngành công nghiệp như: công nghiệp thực
phẩm, công nghiệp xây dựng, dệt may…Trong đó, việc ứng dụng các thành tựu
khoa học vào ngành công nghiệp thực phẩm đóng vai trò quan trọng vì nó ảnh
hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người. Hiện nay, có rất nhiều hợp chất được chiết
xuất từ thiên nhiên đã được ứng dụng rộng rãi vào đời sống.
Thật vậy, sản phẩm đồ uống không còn đơn thuần là giải khát mà còn phải
tốt cho sức khỏe. Vì thế việc nghiên cứu sản xuất các chiết xuất từ thiên nhiên để bổ
sung vào đồ uống luôn được quan tâm, và những chất được trích ly đó chính là hợp
chất polyphenol (phlorotannin). Thành phần này được sử dụng trong thực phẩm như
một loại thực phẩm chức năng nhằm mục đích phòng ngừa bệnh do có tính chất
kháng oxi hóa mạnh.
Việt Nam có hệ động vật, thực vật vô cùng phong phú, có nhiều gen quý
hiếm đặc trưng cho khí hậu nhiệt đới nóng ẩm. Một trong những điều kiện tạo nên
sự phong phú và giàu có ấy chính là vùng biển nhiệt đới rộng với bờ dài hơn 3200
km bao bọc hết phía đông và nam đất nước. Một trong những nguồn tài nguyên
phong phú và có giá trị mà vùng biển ban tặng cho chúng ta là rong biển. Rong
biển là loại thực vật biển quý giá được dùng làm nguyên liệu chế biến thành các
sản phẩm có giá trị trong công nghiệp và thực phẩm. Từ lâu, rong biển đã được coi
là đối tượng nghiên cứu của nhiều nước trên thế giới. Ở nước ta trữ lượng rong biển
2
rất lớn, là nguồn tài nguyên biển vô cùng phong phú, rong biển chiếm vị trí quan
Tôi xin chân thành cảm ơn!
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN VỀ RONG BIỂN [1].
1.1.1 Đặc điểm, sự phân bố rong biển.
Rong biển hay tảo biển có tên khoa học là marine – algae, marine plant hay
seaweed. Rong biển là thực vật thủy sinh có đời sống gắn liền với nước. Chúng có
thể là đơn bào, đa bào sống thành quần thể. Chúng có kích thước hiển vi hoặc có
khi dài hàng chục mét. Hình dạng của chúng có thể là hình cầu, hình sợi, hình phiến
lá hay hình thù rất đặc biệt. Sản lượng hàng năm các Đaị dương cung cấp cho trái
đất hàng 200 tỷ tấn rong. Nhiều nhà khoa học cho rằng trên 90% carbon tổng hợp
hàng năm nhờ quang hợp trong môi trường lỏng, trong đó có 20% do rong biển tổng
hợp nên.
Rong biển thường phân bố ở các vùng nước mặn, nước lợ, cửa sông, vùng
triền sâu,… Rong Đỏ và rong Nâu là hai đối tượng được nghiên cứu với sản lượng
lớn và được ứng dụng nhiều trong các ngành công nghiệp và đời sống. Đối với rong
Lục thì loại tảo Chlorella được xếp vào loại tảo kì diệu, có tốc độ sinh khối cực
nhanh, đang được nghiên cứu phục vụ cho con người.
Rong biển sống ở biển, hấp thụ một lượng thức ăn phong phú chảy trôi dạt từ
lục địa ra, rong có nhiều tính chất không giống thực vật trên cạn. Một số yếu tố sinh
thái đối với động vật sống trên cạn là rất quan trọng, song đối với rong biển lại
không quan trọng như độ ẩm của không khí, lượng mưa. Nhưng các yếu tố sinh thái
biển có ảnh hưởng đến đời sống rong biển như: địa bàn sinh trưởng, nhiệt độ, ánh
sang, độ muối, độ PH, muối dinh dưỡng, khí hòa tan, mức triều, song, gió, hải lưu.
Nhiều hợp chất hữu cơ trong rong biển có tác dụng điều hòa, kích thích sinh
trưởng đối với cây trồng như auxin, giberelin, cytokinin, mannitol và các
oligosacaride khác. Ngày nay rong biển còn được sản xuất thành phân bón hữu cơ
(phân bón lá và phân bón gốc).
4
Bảng 1.1: Nguồn lợi, sản lượng thu hoạch và tiềm năng sản xuất rong biển [1].
(Đơn vị: 1.000 tấn)
Rong Đỏ Rong Nâu
Khu vực
Sản lượng
thu hoạch
Nguồn lợi
Sản lượng
thu hoạch
Nguồn lợi
Bắc cực - - - -
Tây bắc Đại Tây dương 35 100 6 500
Đông bắc Đại Tây dương 72 150 223 2.000
Trung tâm tây Đại Tây dương - 10 1 1.000
Trung tâm đông Đại Tây dương 10 50 1 150
Địa Trung Hải và biển đen 50 1.000 1 50
Tây nam Đại Tây dương 23 100 75 2.000
Đông nam Đại Tây dương 7 100 13 100
Tây Ấn Độ dương 4 120 5 150
Đông Ấn Độ dương 3 100 10 500
Tây bắc Thái Bình dương 545 650 822 1.500
Đông bắc Thái Bình dương - 10 - 1.500
Trung tâm tây Thái Bình dương 20 100 1 50
Trung tâm đông Thái Bình dương
7 50 153 3.500
Tây nam Thái Bình dương 1 20 1 100
Đông nam Thái Bình dương 30 100 1 1.500
Nam cực - - - -
Vùng qui hoạch
Rong Câu cước Rong Sụn
Bình Định 1.140 610
Phú Yên 1.750 2.580
Khánh Hòa 5.050 8.160
Ninh Thuận 390 2.030
Bình Thuận Chưa qui hoạch Chưa qui hoạch
Bà Rịa – Vũng Tàu 4.500 6.140
Tổng cộng 12.824 ha 19.520 ha
7
1.1.3 Phân loại rong biển
Tùy thuộc vào thành phần cấu tạo, thành phần sắc tố, đặc điểm hình thái, đặc
điểm sinh sản mà rong biển được chia thành 9 ngành sau đây:
1. Ngành rong Lục (Chlorophyta)
2. Ngành rong Trần (Englenophyta)
3. Ngành rong Giáp (Pyrophyta)
4. Ngành rong Khuê (Bacillareonphyta)
5. Ngành rong Kim (Chrysophyta)
6. Ngành rong Vàng (Xantophyta)
7. Ngành rong Nâu (Phacophyta)
8. Ngành rong Đỏ (Rhodophyta)
9. Ngành rong Lam (Cyanophyta)
Trong đó, ba ngành có giá trị kinh tế cao là rong Lục, rong Nâu, rong Đỏ.
* Ngành rong Lục: có trên dưới 360 chi và hơn 5.700 loài, phần lớn sống
trong nước ngọt, nét đặc trưng của loài rong này là có màu lục, sản phẩm quang hợp
là tinh bột. Rong có dạng tế bào đơn giản hoặc phức tạp, nhiều tế bào dạng hình
phiến hay dạng sợi, chia nhánh hoặc không chia nhánh. Trừ một số trường hợp rong
chỉ là một tế bào trần không có vỏ còn đại đa số có vỏ riêng là chất pectin hay
Muối khoáng : 30.3 g P : 440 mg
1.1.5 Giá trị dinh dưỡng và ứng dụng của rong biển.
Giá trị dinh dưỡng của rong biển là cung cấp đầy đủ các khoáng chất đặc biệt
là các nguyên tố vi lượng, các acid amin cần thiết cho cơ thể, các loại vitamin, các
carbohydrate đặc trưng và các hoạt chất sinh học có lợi cho cơ thể, đồng thời có khả
năng phòng và trị bệnh. Theo số liệu nghiên cứu của Nhật Bản trong rong
Laminaria có chứa các vitamin sau đây (miligam %): tiền vitamin A (caroten)-1.1;
A – 622; B
1
– 0.53; B
2
– 0.41; acid nicotin- 1.6; acid folic – 0.14; B
12
– 0.0033 và
ascorbic – 28. Rong biển có hàm lượng lipid rất thấp (ít hơn 2%). Nhưng acid
licozopentae khá cao tới 20 ÷ 25% tổng số lượng các acid béo, trong rong biển còn
tìm thấy nhiều fucosterol và nhiều nguyên tố vi lượng khác. Trong rong biển có
chứa nhiều Iod. Iod hữu cơ rất có giá trị trong y học. Do vậy rong Nâu còn được
dùng làm thuốc phòng chống và chữa bệnh bướu cổ (Basedow) [1]. Thí dụ 1 Kg
rong Laminaria chứa một lượng Iod bằng lượng Iod có trong 100.000 lít nước biển.
9
Trong 10 gam rong khô loài Alginatearia esculenta chứa một lượng vitamin E bằng
trong 100 gam củ cải đường, trong 10 gam rong khô Gracilaria sản phẩm chứa một
lượng Canxi có trong một cốc sữa [1].
Các sản phẩm hữu cơ từ rong biển ngày nay được sử dụng hết sức rộng rãi
trong các ngành như: thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, công nghiệp dệt, nông
nghiệp, công nghệ sinh học và nghiên cứu khoa học.
Các polysaccharide từ rong biển được coi là những hợp chất hữu cơ không
thể thay thế trong nhiều lĩnh vực công nghiệp khi được sử dụng như chất tạo đông,
thuộc hệ tuần hoàn cũng như hệ tiêu háo ngày càng được phát triển trong nhiều loại
rong biển. Vì vậy ngày nay rong biển được xếp vào loại thực phẩm chức năng và
ngày càng được sử dụng rộng rãi khắp thế giới.
Theo nghiên cứu rong Lục Nhật Bản Laminaria có chứa nhiều cellulose, các
glucid, acid Alginic, Fucoidin, các muối của acid Alginic. Tính chống nhiễm xạ cao
của acid Alginic và các muối của nó được sử dụng rộng rãi. Ngoài ra Fucoidin và
Alginate hòa tan trong nước còn làm giảm các tính chất đông tụ trong máu và chống
tạo ra các khối u. Rong Laminaria còn là nguồn cung cấp các acid amin asparagin
và glutamine được cơ thể con người hấp thụ dễ dàng. Trong các tế bào của rong
Laminaria còn tìm thấy các acid amin đồng đẳng đặc thù Laminin có tác dụng giảm
huyết áp của động vật.
1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển và thời kỳ thu hoạch rong biển hợp lý
cho công nghệ chế biến.
Quá trình lớn lên của cây rong gồm có năm thời kỳ: Sinh trưởng – phát triển
– tích lũy – sinh sản – tàn lụi.
Ở cuối thời kỳ tích lũy, hàm lượng các chất keo đạt cao nhất và hoàn thiện
nhất về cấu trúc của nó. Do đó cần thu hoạch ở cuối thời kỳ này là tốt nhất. Nếu thu
hoạch rong non (chưa tích lũy tối đa) hiệu suất qui trình giảm, chất lượng keo rong
giảm. Nếu thu hoạch rong đã tàn lụi cũng phạm phải các nhược điểm trên. Có thể
xác định được thời kỳ này theo các chỉ tiêu cảm quan sau:
Rong đang ở thời kỳ phân nhánh cấp II mạnh, chiều dài nhánh trên 20 cm đối
với rong hái tự nhiên và hơn 30 cm đối với rong nuôi trồng. Khối lượng cá thể đạt
từ 2 đến 3.5 gam.
Tỷ lệ rong khô/ rong tươi đạt 1/8 đến 1/10.
Với rong Nâu, thường quan sát phao sinh sản của nó.
Khả năng khai thác Mannitol tập trung cao vào tháng 3 và 4.
11
Thời điểm khai thác tốt nhất đối với rong Nâu để sản xuất Alginic là vào
cuối tháng 4 khi rong đã thành thục sinh dục và đã phóng thích giao tử vào nước
có trữ lượng lớn nhất, và Turbinaria ornate có trữ lượng không đáng kể.
Từ đó cho thấy nên khai thác rong vào tháng 4 và đầu tháng 5 là lúc rong
Nâu đã trưởng thành, có kích thước lớn nhất, hàm lượng axit Alginic và Mannitol
cao nhất. Mặt khác lúc này rong đã phóng thích các giao tử vào nước biển do vậy ta
vừa thu vừa bảo vệ được lợi ích lâu dài, tránh được nạn hủy diệt nguồn lợi.
1.1.7 Tình hình sử dụng, chế biến rong biển ở Việt Nam.
Mặc dù được thiên nhiên ưu đãi về biển nhưng sự đầu tư phát triển nuôi
trồng, chế biến khai thác rong biển còn hạn chế và chưa có hiệu quả. Ngành công
nghiệp chế biến rong biển chưa phát triển, hiện nay chỉ mới có nhà máy cá hộp Hạ
Long – Hải Phòng sản xuất với công suất nhỏ. Năm 1985 Bộ Thủy sản xuất khẩu
được 150 tấn và năm 1986 được 100 tấn rong khô cho Nhật Bản. Nhu cầu Alginate
và Agar ngày càng tăng, có nhiều cơ sở công nghiệp phải mua Alginate của Nhật
Bản với giá khá cao. Trong thời gian tới nền công nghiệp càng phát triển thì nhu cầu
về Alginate, Agar và các keo rong khác sẽ còn tăng gấp bội. Nếu được đầu tư và
phát triển đúng mức, công nghệ rong biển sẽ mang lại hiệu quả lớn cho nền kinh tế
nước nhà.
Rong biển là nguồn nguyên liệu quý, có khả năng giúp cho cơ thể phòng
chống được một số loại bệnh. Do vậy nhiều nước trên thế giới giành khoản ngân
sách khá lớn cho việc nghiên cứu ứng dụng sản xuất thực phẩm từ rong biển. Ở
nước ta, thực phẩm từ rong biển chưa thực sự được chú ý, là một vấn đề còn đang
bỏ ngỏ. Một số cơ sở chế biến nhỏ tại gia đình như: làm gỏi, nấu thạch, đông sương,
mứt, kẹo, chè rong biển,…Tuy nhiên các sản phẩm này chưa nhiều, chưa phổ biến,
rất ít người dân biết đến các loại thực phẩm đặc biệt này. Do đó cần phải có kế
hoạch phát triển mạnh hơn tiến tới các sản phẩm rong biển phải phong phú hơn,
được sản xuất theo quy mô công nghiệp trong điều kiện vệ sinh am toàn thực phẩm
cao để phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
1.2 Quá trình vận chuyển và các biện pháp bảo quản rong khô.
Trong quá trình thu hái, chế biến và thương mại rong biển thường phải vận
chuyển rong biển với khối lượng khá lớn. Trong quá trình vận chuyển rong khô
13
sống ở biển, số giống loài tìm thấy trong nước lợ và nước ngọt không nhiều lắm.
14
Rong Mơ Sargassum là một giống Tảo lớn thuộc họ rong Mỡ Sargassaceae của
ngành rong Nâu sống trôi nổi trong nước. Thân cây có dạng trụ gần tròn rất giống
với thực vật bậc cao có màu từ xanh oliu đến nâu ( màu nâu đậm, nâu vàng). Màu
sắc khác nhau ở các giống loài phụ thuộc vào thành phần và tỷ lệ của các loại sắc tố
có trong rong. Đối với rong được làm khô sẽ có màu nâu đậm [2], [19]. Thân rong
dài ngắn tùy loài và tùy điều kiện môi trường. Thường gặp từ vài chục cm đến vài
ba mét hay hơn (6- 8 m). Rong mơ là loài rong to mọc thành bụi, gồm vài trục chính
quanh nhánh, nhánh mang phiến có dạng của lá, phiến có răng mịn giống như lá mơ
do đó có tên là rong lá mơ hay gọi tắt là rong Mơ. Các loài rong Mơ đều có phao,
phao nhiều ít to nhỏ khác nhau, hình dạng của phao là hình cầu hay trái xoan,
đường kính của phao nhỏ khoảng 0.5 ÷ 0.8 mm, phao lớn khoảng 5÷ 10 mm. Phao
có thể mang cánh hoặc không.
Rong lá mơ là những loài rong mọc ở những vùng biển ấm nóng, trên nền đá
vôi, san hô chết, nơi sóng mạnh và nước trong, nhất là ven các đảo.Chúng mọc từ
phía trên của mức nước trung bình thấp của con nước thường đến độ sâu từ 2 ÷ 4 m.
Sinh trưởng trung bình từ 2.000 ÷ 4000 b/m
2
, có nơi đến 7.000 g/m
2
như ở Hòn
Chồng, Nha Trang.
Rong Mơ là loài có kích thước cá thể lớn và trữ lượng cao nhất trong các loài
rong biển Việt Nam. Rong Mơ mọc trên tất cả các loài vật bám cứng, trên các vách
đá dốc đứng, các bãi đá tảng, các vùng có đá ngầm hay rạn san hô ngầm, nhưng
thích nghi nhất là trên vật bám đá san hô. Cấu trúc của các quần thể rong Mơ trên
các vật bám khác nhau rõ rệt. Trên các bờ đá dốc đứng, chúng phân bố thành đai
hẹp ở dưới mức triều thấp đến sâu khoảng 0.5 m. Ở các bờ biển đá tảng nằm trên
mùa sau. Ngoài ra việc khai thác bằng cách cắt gốc rong từng 10 cm giúp cho một
số nhánh còn sót lại vẫn tiếp tục phát triển tạo ra các cơ quan sinh sản.
Các bãi rong Mơ mọc trên thềm san hô chết có diện tích rộng lớn, mật độ
dày, sinh lượng cao (trên 12 kg rong tươi/m
2
) rất quan trọng với nguồn lợi, tìm thấy
ở các tỉnh Quảng Ninh, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình
Thuận. Các bãi rong rộng lớn nằm gần trục giao thông rất thuận lợi cho việc khai
thác và vận chuyển. Sản lượng hàng năm ước tính có thể đạt 10.000 tấn rong tươi
[1]. 16
1.3.2 Sự phân bố [1].
Bảng 1.3: Các giống loài rong Nâu tìm thấy và phân bố.
Địa phương
STT Loài rong
Q. Nam –
Đà Nẵng
Bình
Định
Khánh
Hòa
Ninh
Thuận
1 Sargassum mcclurei
× × × ×
2
Sargassum graminafolium (rong Mơ
lớp)
×
Rong Nâu phân bố tại vùng biển Quảng Nam – Đà Nẵng không nhiều so với
vùng biển Khánh Hòa và Ninh Thuận. Quảng Nam – Đà Nẵng tuy có nhiều triền đá
dốc, bãi đá cội, bãi san hô chết nhưng có chiều ngang rất hẹp (1 đến 10 m) nên diện
tích phân bố rất nhỏ, trữ lượng khá cao. Khối lượng rong tươi trung bình q
0
= 2 ÷ 4
kg/m
2
, cá biệt có nơi đạt đến 7 kg/m
2
như vùng Cù Lao Chàm, triền đèo Hải Vân.
Diện tích rong Mơ mọc tại chỗ vùng biển Quảng Nam – Đà Nẵng khoảng 190.000
m
2
, trữ lượng rong mọc tại chỗ có thể thu được vào tháng 4 khoảng hơn 800 tấn
rong tươi. Đây là kết quả không lớn đối với một vùng biển có điều kiện tự nhiên
thuận lợi cho sự phát triển của rong Mơ. Kết quả này rất nhỏ so với các vựa rong
17
Mơ khác nằm rải rác ven biển miền Trung. Rong đạt kích thước và sinh lượng cao
nhất vào cuối tháng 3 và đầu tháng 4. Sau đó rong sống cầm cự thêm một thời gian
nữa rồi tàn lụi vào tháng 7.
Diện tích có rong mọc tại chỗ của tỉnh Bình Định khoảng hơn 40.000m
2
, trữ
lượng rong tươi ước tính hơn 100 tấn/năm. Sinh lượng cao nhất vào cuối tháng 4 và
đầu tháng 5. Diện tích có rong phân bố rất bé so với các tỉnh khác, sinh lượng trung
4/97 124
2 Bình Định 42.750
5/97 129
3/97 11.002
4/97 7.930
3 Khánh Hòa 2.000.000
5/97 6.046
3/97 7.650
4/97 6.180
4 Ninh Thuận 1.500.000
5/97 4.650
3/97 18.750
4/97 15.724
Tổng cộng
3.732.750
5/97 10.825
18
1.3.3 Thành phần hóa học của rong Nâu.
a. Sắc tố
Sắc tố trong rong Nâu là diệp lục tố (Chlorophyl), diệp hoàng tố
(Xantophyl), sắc tố màu nâu (Fucoxanthin), sắc tố đỏ (Caroten). Tùy theo tỷ lệ các
loại sắc tố mà rong có màu từ nâu – vàng nâu – nâu đậm – vàng lục. Nhìn chung sắc
tố của rong Nâu khá bền [1].
b. Gluxit
Monosacaride [1].
Monosacaride quan trọng trong rong Nâu là đường Mannitol được Stenhouds
phát hiện ra năm 1884 và được Kylin (1913) chứng minh thêm. Mannitol có công
giảm đi: Theo Kylin (1993) và Vedrinski (1938) cho thấy hàm lượng Mannitol đạt