ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẶC TRƯNG CÁ NHÂN, NHẠY CẢM ĐẠO ĐỨC,
ĐẾN THÁI ĐỘ, DỰ ĐỊNH HÀNH VI ĐỐI VỚI HÀNG GIẢ THỜI TRANG
CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐÀ NẴNG
THE EFFECTS OF PERSONALITY, MORAL INTENSITY ON THE ATTITUDE AND
BEHAVIOR INTENSION TOWARDS FASHION COUNTERFEIT PRODUCTS OF THE
CONSUMERS IN DANANG CITY
SVTH: Huỳnh Đăng Phước
Lớp36K01.2, Khoa Thương Mại, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng;
Email: [email protected]
GVHD: ThS. Bùi Thanh Huân
Khoa Thương Mại, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng; Email:
[email protected]
Tóm tắt
Trong bối cảnh công nghệ ngày càng phát triển và
toàn cầu hóa đang lan rộng, mức độ tinh vi và quy mô
của sản xuất và tiêu thụ hàng giả đang ngày càng gia
tăng. Điều này không chỉ gây thiệt hại cho người tiêu
dùng mà còn làm mất động lực phát triển cho những
người sản xuất chân chính, vì vậy nó dẫn đến những
hậu quả khó lường cho xã hội.
Xem xét vấn đề hàng giả từ góc độ của người tiêu
dùng, nghiên cứu này nhằm xác định ảnh hưởng của
một số nhân tố đến thái độ và dự định hành vi người tiêu
dùng đối với hàng giả thời trang. Trên cơ sở tham khảo
các tài liệu nghiên cứu trước đây, bài viết đề xuất mô
hình nghiên cứu thể hiện mối quan hệ có thể có giữa
các yếu tố (1) tính liêm chính, (2) ý thức giá trị, (3) tìm
kiếm mới lạ, (4) nhạy cảm đạo đức, thái độ và dự định
hành vi trong lĩnh vực hàng giả thời trang. Mô hình cùng
với thang đo lường các khái niệm nghiên cứu được sử
dụng làm cơ sở để xây dựng bản câu hỏi phỏng vấn 220
consumers in Danang city in order to collect the data
and test the model as well as the hypotheses. The
results allow us to offer some suggestions to the fashion
manufaturers and the government in order to help
orientate the national fashion industry, perfect the
illectual property law to meet the international standards
and prevent the counterfeiting.
Key words: integrity, novelty seeking, value
consciousness, moral intensity, attitude, behavior
intension, fashion counterfeit products.
1. Đặt vấn đề
Hiện nay, vấn nạn hàng giả đang nhận được sự
quan tâm đặc biệt của xã hội. Trước hết phải nói
rằng nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác
chống hàng giả và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
nhằm: (1) tạo lập, duy trì môi trường kinh doanh
lành mạnh cho các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh và thu hút các nguồn lực trong nước và nước
ngoài để đầu tư phát triển, (2) bảo vệ các quyền và
lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền sở hữu trí
tuệ, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chân
chính, qua đó khuyến khích việc đầu tư áp dụng
các tiến bộ khoa học công nghệ, sáng tạo tinh thần
cho sự phát triển, (3) bảo vệ quyền của người tiêu
dùng, để người tiêu dùng không mua nhầm hàng
giả, hàng nhái gây thiệt hại về tài sản và ảnh hưởng
đến sức khỏe, tính mạng của mình khi sử dụng
hàng giả, hàng nhái và (4) thực hiện các cam kết
song phương, đa phương liên quan đến thực thi
quyền sở hữu trí tuệ mà nước ta đã ký kết hoặc gia
phát triển. Sự tiếp tay này có thể đến từ những
nguyên nhân như đặc điểm cá nhân người tiêu
dùng, ý thức về tác hại của hàng giả chưa cao, hoặc
xã hội xem hàng giả là một điều hiển nhiên. Vì
vậy, chúng tôi muốn nghiên cứu vấn đề hàng giả
dưới góc độ của người tiêu dùng.
Tuy nhiên để nghiên cứu thái độ và hành vi
người tiêu dùng đối với tất cả các loại hàng giả đòi
hỏi một sự đầu tư mang tầm cỡ lớn và cần một thời
gian dài, chính vì vậy đề tài này chỉ giới hạn trong
nghiên cứu về thái độ và hành vi người tiêu dùng
đối với hàng giả thời trang thương hiệu cao cấp
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Việc chọn hàng
giả thời trang thương hiệu cao cấp mà không phải
là các loại hàng giả khác bới các lý do:
Hàng thời trang là những mặt hàng được người
tiêu dùng rất quan tâm và chi tiêu mạnh nhằm có
được vẻ bề ngoài đẹp hơn trong mắt mọi người.
Đặc biệt khi mức sống của người dân Việt Nam
ngày càng được cải thiện thì nhu cầu mua sắm và
sở hữu các sản phẩm thời trang có thương hiệu
được quan tâm hơn bao giờ hết.
Tình trạng vi phạm sở hữu trí tuệ về nhãn hiệu
như hiện tượng làm giả hay nhái nhãn hiệu chiếm
một tỷ trọng rất lớn trong các đơn khiếu nại sở hữu
trí tuệ Việt Nam hiện nay. Trong khi đó, hàng thời
trang cao cấp là một trong những mặt hàng chú
trọng về nhãn hiệu (thương hiệu) để giúp phân
biệt, nâng cao hình ảnh và là một lợi thế cạnh tranh
so với đối thủ cạnh tranh.
văn hóa, đặc điểm tiêu dùng…ở nước ta có sự khác
biệt so với các quốc gia khác trên thế giới. Vì vậy,
nghiên cứu về hành vi tiêu dùng hàng giả với mẫu
là người Việt Nam là điều hết sức cần thiết.
2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
2.1. Hàng giả
Hàng giả là một bản sao của một thương hiệu
hợp pháp được sản xuất và tiêu thụ trái phép khi
chưa có sự đồng ý của chủ sở hữu thương hiệu.
Bên cạnh đó, hàng giả có rất nhiều loại nhưng
trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ đề cập đến
hàng hóa bị làm giả nhãn hiệu và kiểu dáng.
Hàng giả thời trang trong nghiên cứu này chỉ
tập trung vào những mặt hàng may mặc, túi xách,
giày dép được sản xuất và tiêu thụ dưới tên của
những thương hiệu nổi tiếng mà chưa được sự cho
phép của thương hiệu chính hãng. Hàng giả thời
trang thường được làm giả theo 2 dạng: (1) người
sản xuất cố ý dán nhãn hiệu cao cấp lên sản phẩm
thời trang bất kỳ, (2) mẫu mã của sản phẩm được
sao chép giống y hoặc tương tự bản gốc chỉ khác
về nguyên vật liệu làm ra nó.
2
2.2. Dự định hành vi
Hành vi người tiêu dùng là một tiến trình cho
phép cá nhân hay một nhóm người chọn lựa, mua,
sử dụng hay loại bỏ một sản phẩm hay một dịch vụ
thông qua những suy nghĩ đã có kinh nghiệm tích
lũy, nhằm thỏa mãn những nhu cầu và ước muốn
của họ. Trong đó, dự định hành vi được xem như là
hiện hành vi. Một người khi cảm nhận được sở hữu
càng nhiều nguồn lực và cơ hội thì người đó càng
có ít các cản trở và do đó sự kiểm soát về hành vi
của người đó càng lớn. Các nhân tố kiểm soát có
thể là bên trong của một người (đặc điểm cá nhân,
kỹ năng, kiến thức…) hoặc là bên ngoài người đó
(yếu tố xã hội, văn hóa…).
Trong các nhân tố kiểm soát, người nghiên
cứu nhận thấy các đặc trưng cá nhân có khả năng
ảnh hưởng đến dự định hành vi đối với hàng giả.
Một số đặc trưng cá nhân như: sự hài lòng cá nhân,
tìm kiếm sự mới lạ, ý thức giá trị, tính liêm chính,
chủ nghĩa vật chất. Trong nghiên cứu này, nghiên
cứu chỉ tập trung xem xét mức độ ảnh hưởng của
ba đặc trưng mà người nghiên cứu cho là quan
trọng: (1) tính liêm chính, (2) tìm kiếm sự mới lạ,
(3) ý thức giá trị đến thái độ và dự định hành vi đối
với hàng giả thời trang.
Trong mô hình EDM của Ferrell và Greshman
(1985), các tình huống đạo đức như sự lừa dối,
gian lận, v.v… xuất phát từ môi trường xã hội và
văn hóa. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc ra quyết
định là nhân tố cá nhân (kiến thức, giá trị, thái độ,
và dự định) và các nhân tố thuộc về nhóm (những
người quan trọng khác và cơ hội-các quy tắc, chính
sách, thưởng phạt). Năm 1991, Jones đã bổ sung
thêm vào mô hình EDM khái niệm “nhạy cảm đạo
đức”. “Nhạy cảm đạo đức” trong mô hình của
Jones (1991) đã ảnh hưởng đến tất cả các bước
trong tiến trình ra quyết định đạo đức và thực hiện
- Tình cảm: liên quan đến cảm xúc/cảm giác của
một người đến một đối tượng thái độ.
- Hành vi: cách mà thái độ của chúng ta ảnh hưởng
tới việc chúng ta hành động hay cư xử như thế nào.
- Nhận thức: điều này liên quan đến niềm tin/kiến
thức của một người về đối tượng thái độ
2.4. Tính liêm chính
Tính liêm chính được xác định bởi các tiêu
chuẩn đạo đức của cá nhân và sự tuân thủ pháp luật
(Wang và cộng sự năm 2005). Trong nhiều năm
qua, tính liêm chính cũng trở thành mối quan tâm
của các nhà nghiên cứu với những phát hiện thú vị.
Kết quả của các cuộc nghiên cứu cho thấy rằng
tính liêm chính có ảnh hưởng đáng kể đến thái độ
đối với hàng giả của người tiêu dùng. Nếu người
tiêu dùng xem tính liêm chính là quan trọng thì họ
thường có thái độ tiêu cực với hàng giả thương
hiệu cao cấp và sẽ không có ý định mua hàng giả
(Phau & Teah, 2009). Ngược lại, những người tiêu
dùng có tiêu chuẩn đạo đức thấp hơn sẽ ít cảm thấy
có lỗi khi mua hàng giả (Ang và cộng sự, 2001).
Thay vào đó, họ thường hợp lý hóa hành vi của
mình theo cách giảm bớt sự nhận thức về một hành
vi phi đạo đức. Chính vì vậy tính liêm chính của
mỗi cá nhân có thể ảnh hưởng đến thái độ và dự
định hành vi đối với hàng giả thời trang. Do vậy,
nghiên cứu đặt ra giả thuyết:
H1.1: Tính liêm chính có khả năng ảnh hưởng
tiêu cực đến thái độ đối với hàng giả thời trang
của người tiêu dùng
lượng mà mình nhận được so với giá tiền mình bỏ
ra khi mua một sản phẩm.Theo Lichtenstein
(1993), ý thức giá trị phản ánh mối quan tâm dành
cho giá thanh toán so với chất lượng nhận được.
Ngoài ra, Ang và cộng sự (2001) định nghĩa ý thức
giá trị là sự quan tâm đến việc trả giá thấp hơn, cho
dù có một vài giới hạn về chất lượng. Vì vậy, trong
nghiên cứu này, ý thức giá trị được xem như sự
quan tâm đến việc trả giả thấp hơn cho dù có một
số hạn chế về chất lượng của một sản phẩm. Hàng
giả thời trang thương hiệu nổi tiếng mặc dù chất
lượng không tốt bằng hàng thật nhưng với mức giá
thấp hơn cùng với khả năng mang lại những giá trị
thương hiệu, lợi ích hình ảnh tương tự như hàng
thật thì người tiêu dùng xem hàng giả là đáng giá
trị đồng tiền họ bỏ ra (Bloch và cộng sự, 1993;
Phau & Teah, 2009). Giả thuyết được đặt ra trong
nghiên cứu này:
H3.1: Ý thức giá trị có khả năng ảnh hưởng
tích cực đến thái độ đối với hàng giả thời trang
của người tiêu dùng
H3.2: Ý thức giá trị có khả năng ảnh hưởng
tích cực đến dự định hành vi đối với hàng giả thời
trang của người tiêu dùng
2.7. Nhạy cảm đạo đức
Nhạy cảm đạo đức được định nghĩa như là mức
độ cấp bách liên quan tới đạo đức trong một tình
huống (Jones, 1991), hay nói cách khác là mức độ
và cách một người đánh giá một việc làm, dự định
của họ về các vấn đề đạo đức là gì và họ dính dáng
dự định hành vi của một người. Điều này đã được
chứng minh qua rất nhiều nghiên cứu trên thế giới
với nhiều lĩnh vực khác nhau. Riêng đối với hàng
giả, mối quan hệ này được hỗ trợ và củng cố thông
qua những nghiên cứu của Ang và cộng sự (2001),
4
De Matos và cộng sự (2007). Trong đó, Phau and
Teah (2009) cũng đã kết luận rằng thái độ đối với
hàng giả thời trang tác động mạnh và cùng chiều
đến dự định hành vi của người tiêu dùng. Do đó
giả thuyết đặt ra trong nghiên cứu:
H5: Thái độ đối với hàng giả thời trang có khả
năng ảnh hưởng tích cực đến dự định hành vi của
người tiêu dùng
Dựa trên cơ sở lý luận và các giả thuyết, người
nghiên cứu tiến hành đề xuất mô hình nghiên cứu
bao gồm các biến: “Tính liêm chính”, “Tìm kiếm
sự mới lạ”, “Ý thức giá trị”, “Nhạy cảm đạo đức”,
“Thái độ đối với hàng giả” và “Dự định hành vi”.
Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính
được thực hiện bằng cách tham khảo các tài liệu đã
có kết hợp thảo luận với giáo viên hướng dẫn
nhằm xây dựng thang đo cho nghiên cứu. Sau đó
sử dụng phương pháp định lượng để phân tích bao
gồm: Đánh giá thang đo bằng hệ số Cronbach’s
Alpha; rút trích nhân tố bằng phân tích nhân tố
khám phá EFA; phân tích hồi quy đa biến, phân
One-
sample T-
test
GTT
B
ĐL
C
GT
KĐ
Si
g.
Tính liêm
chính
3.
84
0
.75
3
.9
0.
26
Tìm kiếm
mới lạ
3.2
7
0
.83
3
.3
0.
hành vi
2.
83
0
.76
2
.8
0.
55
Dựa vào bảng 1, tất cả các kiểm định T đối với
các tham số trung bình của các thang đo đều có
Sig.> 0.05, chứng tỏ chưa đủ cơ sở để bác bỏ H
0
,
tức là các giá trị kiểm định không khác giá trị trung
bình nhiều. Đồng thời, độ lệch chuẩn của các thang
đo đều nhỏ, chứng tỏ các đánh giá của người tiêu
dùng có mức độ phân tán quanh giá trị trung bình
thấp. Điều này giúp các phân tích các đánh giá
thang đo được thực hiện dễ dàng hơn.
Đối với đặc trưng liêm chính, các đáp viên của
nghiên cứu có những đánh giá cao khi kết quả
phân tích chung rơi vào mức 3.9. Điều này chứng
tỏ các đáp viên ý thức cao về sự trung thực, sự tôn
trọng người khác.
Yếu tố tìm kiếm sự mới lạ chỉ nhận được đánh
giá tương đối đồng ý từ người tiêu dùng khi mức
điểm đánh giá chung rơi quanh mức 3.3. Như vậy,
có thể nói rằng, các đáp viên vẫn chưa xem trọng
đến yếu tố mới lạ trong điều kiện tiêu dùng hiện
cho thấy thái độ vẫn chưa thực sự rõ ràng giữa các
đáp viên. Phải chăng hàng giả chưa thực sự là mối
quan tâm lớn của họ hoặc có thể là do tính chất
nhạy cảm của vấn đề được phỏng vấn nên kết quả
chưa thực sự rõ rệt. Tuy nhiên, dự định hành vi của
người tiêu dùng đối với hàng giả lại tích cực hơn
thái độ với mức đánh giá trung bình 2.8 mặc dầu
kết quả này không cho thấy được ý định rõ rệt của
người tiêu dùng. Điều này lại một lần nữa có thể
thấy người tiêu dùng chưa thực sự quan tâm đến
vấn đề này.
4.3. Đánh giá độ tin cậy của thang đo
Bảng 2:Độ tin cậy của các thang đo
Thang đo
Số biến
quan
sát
Hệ số
Cronba
ch
Alpha
Nhận
xét
Tính liêm chính
4 0.82
5
Tốt
Tìm kiếm sự mới lạ
4 0.79
6
i
Kết quả phân tích còn cho thấy R
2
= 0.217 nên
mối quan hệ giữa biến Liemchinh, TKmoila,
YTgiatri, NCdaoduc và TDhanggia là yếu (R
2
<
0.3) hay nói khác hơn bốn biến trên giải thích được
21.7% thái độ của người tiêu dùng đối với hàng
giả.
TDhauquaxh = -0.344*NCdaoduc + e
i
R
2
= 0.129 nên mối quan hệ giữa các biến
NCdaoduc và TDhauquaxh là yếu (0 < R
2
< 0.3),
hay nói khác hơn biến NCdaoduc giải thích được
12.9% thái độ đối với hậu quả xã hội của hàng giả
thời trang của người tiêu dùng.
DDhanhvi= -0.170*Liemchinh -
0.352*NCdaoduc + e
i
Về độ thích hợp của mô hình, hệ số R2 hiệu
chỉnh đạt 0.209 cho thấy mối quan hệ yếu giữa các
biến; nói cách khác, các nhân tố tính liêm chính,
nhạy cảm đạo đức sẽ giải thích được 20.9% sự
biến động của dự định hành vi của người tiêu dùng
tiêu dùng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đối với
hàng giả thời trang. Nghiên cứu đã có được những
thông tin cụ thể như sau:
Thứ nhất, nhạy cảm đạo đức là một yếu tố quan
trọng giải thích thái độ và dự định hành vi của
người tiêu dùng đối với hàng giả thời trang
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhạy cảm đạo đức
có ảnh hưởng lớn đến từng thành phần của thái độ
và ý định của người tiêu dùng đối với hàng giả thời
trang. Điều này đúng với mong muốn và dự đoán
ban đầu của người nghiên cứu khi mà vấn đề hàng
giả là một vấn đề liên quan đến đạo đức và khi đối
mặt với vấn đề này, người tiêu dùng ít nhiều cũng
phải có những đánh giá đạo đức của riêng họ. Theo
như kết quả nghiên cứu, người tiêu dùng càng ít
nhạy cảm với những vấn đề về đạo đức liên quan
đến hàng giả thời trang, thì thái độ cũng như dự
định hành vi của họ càng tích cực, nghĩa là họ càng
dễ chấp nhận hàng giả. Qua đó, ta thấy rằng việc
tác động đến mức độ và cách người tiêu dùng đánh
giá vấn đề hàng giả là một việc làm quan trọng và
cần thiết trong công tác phòng chống tệ nạn hàng
giả.
Nghiên cứu cũng cho thấy rằng, mặc dù người
tiêu dùng có những đánh giá tiêu cực về tác hại của
hàng giả và đã nhận thức được tác hại của hàng
giả, nhưng đối với họ tác hại đó là tương đối xa vời
và việc mua hàng giả của họ không làm ảnh hưởng
lắm đến nhiều người. Ngoài ra, đánh giá của các
đáp viên chủ yếu nằm ở khoảng giữa, cho thấy
chuẩn mực đạo đức cá nhân sẽ là rào cản lớn gây
ảnh hưởng tiêu cực lên thái độ cũng như dự định
hành vi của người tiêu dùng đối với hàng giả thời
trang. Nguyên nhân của mối quan hệ yếu này có
thể là do đáp viên chưa thực sự xem hàng giả là
vấn đề đáng phải bị lên án hoặc có thể là do người
tiêu dùng xem việc mua hàng giả không ảnh hưởng
nhiều đến chuẩn mực đạo đức của bản thân.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các đáp viên
không quá coi trọng việc mình là người đầu tiên
dùng sản phẩm mới hay theo kịp xu hướng thời
trang, nhưng một điều khá thú vị họ rất thích
những sản phẩm “mới và khác biệt”. Trong khi đó,
các đáp viên rất quan tâm đến ý thức giá trị; hay
nói cách khác họ luôn quan tâm đến yếu tố giá cả,
mong muốn trả giá thấp khi mua một sản phẩm đối
chiếu với chất lượng và những giá trị nhận được từ
sản phẩm. Điều này phù hợp với đa số tâm lý
người tiêu dùng.
Thứ ba, thái độ của người tiêu dùng đối với
hàng giả thời trang có ảnh hưởng mạnh mẽ và tích
cực đến dự định hành vi của họ, nhưng thái độ đối
với hậu quả xã hội do hàng giả thời trang thì
không ảnh hưởng.
Trong quá trình nghiên cứu, để diễn tả chính
xác hơn và có cái nhìn đa chiều về thái độ của
người tiêu dùng đối với vấn đề hàng giả, người
nghiên cứu đã tách yếu tố thái độ ra thành hai
thành phần: thái độ đối với hàng giả thời trang và
thái độ đối với hậu quả xã hội do hàng giả thời
giả là một vấn đề liên quan đến đạo đức.
- Cần thay đổi cách thức truyền thông theo hướng
mua hàng giả là tiếp tay cho nạn hàng giả, đồng
thời nâng cao nhận thức về tác hại của hàng giả
cho toàn dân.
- Nhà nước nên kiểm soát chặt chẽ, xử lý nghiêm
hơn những doanh nghiệp sản xuất và buôn bán
hàng giả.
- Phối hợp đồng bộ giữa các ban, ngành, cơ quan
quản lý nhà nước trong công tác phòng chống, đầy
lùi nạn hàng giả.
6.2. Đối với các doanh nghiệp thời trang
- Có chiến lược phát triển sản phẩm thời trang
theo hướng chất lượng cao và đa dạng đổi mới liên
tục.
- Phát triển sản phẩm phù hợp với từng phân
đoạn thị trường khác nhau.
- Có thể thực hiện việc nhượng quyền hoặc cấp
phép thương hiệu để tăng khả năng hiện diện của
hàng thời trang thật.
- Đăng ký và thực thi sở hữu trí tuệ.
6.3. Đối với người tiêu dùng
- Nhận thức đầy đủ về những tác hại của hàng
giả.
- Có những nhận định chính xác về hàng giả
thời trang, thông qua việc theo dõi các thông tin
mà cơ quan quản lý nhà nước đề cập, có những
đánh giá so sánh khách quan thông tin giữa các sản
phẩm mình mua để đưa ra được quyết định sáng
suốt.
Bên cạnh những đóng góp thì nghiên cứu này
vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định. Phạm
vi điều tra còn hạn chế và kích thước mẫu chưa
đủ lớn. Do đó kết quả nghiên cứu có thể chưa
mang tính đại diện cho tổng thể là những khách
hàng đã biết và từng mua hàng giả thời trang. Mô
hình lý thuyết và thang đo được đề xuất trong
nghiên cứu còn mới mẻ và chưa được thử
nghiệm bằng các nghiên cứu trước đây ở thị
trường Việt Nam nên thang đo được sử dụng
trong nghiên cứu còn mang tính chủ quan của
người nghiên cứu. Có thể còn nhiều yếu tố tác
động đến hành vi của người tiêu dùng mà trong
nghiên cứu này chưa bàn đến.
Nếu có điều kiện thực hiện những nghiên cứu
tiếp theo về hàng giả thời trang, nên mở rộng
kích thước mẫu nhằm tăng tính chính xác cho
nghiên cứu. Bên cạnh đó, trong phần thang đo có
thể được đo lường bằng nhiều biến quan sát hơn,
để nghiên cứu được phong phú và cụ thể hơn.
Ngoài ra nghiên cứu còn có thể mở rộng đến
“Hành vi” và “Lòng trung thành” thay vì chỉ
dừng lại ở “Dự định hành vi”. Nghiên cứu này
chỉ thực hiện cho sản phẩm là hàng giả thời
trang. Có thể có khác biệt về thang đo lường của
các loại hàng giả khác như phần mềm máy tính,
linh kiện điện tử, đĩa CD, thuốc Như vậy, cần
nghiên cứu lặp lại cho nhiều loại hàng giả khác
8
nhau để có thể hiểu rõ được tâm lý của người
[3] Ajzen,I.,Fishbein,M.,
(1975),Belief,Attitude,Intention,and
Behavior,
Add
ison,WesleyPublishingCompany.
[4] Ang & et al (2001), Spot the difference:Consumer
responses towards counterfeits, Journal of
Consumer Marketing, Vol.18, 219-235.
[5] Bagozzi, R.P. and Burnkrant R.E. (1979), Attitude
Measurement and Behavior Change: a
Reconsideration of Attitide Organization and Its
Relationship to Behavior, Advances in Consumer
Research volume 6.
[6] Bloch, P.H.,Bush, R.F.and Campbell,L.
(1993),Consumer “Accomplices” in Product
Counterfeiting: ADemand-
SideInvestigation,Journal of Consumer Marketing,
Vol. 10, 27-36.
[7] Faria, A.A. (2013), Consumer Attitude towards
Counterfeit Goods: The Case of Canadian and a
Consumer, University of Guelph, Canada.
[8] Ferrell, O.C.; and Greshman, Larry G.(1985), A
Contingency Framework for understanding
Ethical Decision Making in Marketing, The
Journal of Marketing
[9] http://afca.vn/chong-hang-gia/407-tai-sao-nha-
nuoc-phai-quan-tam-den-cong-tac-chong-hang-gia
[10] Jones, T.M. (1991), Ethical Decision Making by
Individuals in Organizations: an Issue contingent
Model, Academy of Management Review.