Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho hiệu trưởng các trường mầm non huyện quế võ tỉnh bắc ninh - Pdf 14

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCHTW : Ban chấp hành Trung ương.
CBQL : Cán bộ quản lý.
CBGV : Cán bộ giáo viên
CĐSP
:
Cao đẳng sư phạm.
CNH : Công nghiệp hóa
CS : Chăm sóc
CSVC : Cơ sở vật chất
GD : Giáo dục
GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
GD MN : Giáo dục mầm non
GV : Giáo viên
HĐH : Hiện đại hóa
HS : Học sinh
HT : Hiệu trưởng
KT – XH : Kinh tế - xã hội.
ND : Nuôi dưỡng
NV : Nhân viên
NVQL : Nghiệp vụ quản lý
MN : Mầm non
QL : Quản lý
QLGD : Quản lý giáo dục
PCGD : Phổ cập giáo dục.
PCGDMN : Phổ cập giáo dục MN
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
UBND : Uỷ ban nhân dân.
i
DANH MỤC BẢNG TRONG LUẬN VĂN



ng 2.15:

Nhu c



u của CBQL về



nh t

hứ

c

t

ổ c

hứ

c

bồi dưỡng

Error:
Reference source not found




ng 2.18: N

hu c



u về

ki

nh p

hí t

ổ c

hứ

c b

ồi dưỡng c
ủa

HT
Error: Reference
source not found
B


m

biệ

n p

háp b

ồi
dưỡ

ngNV

QL
Error: Reference
source not found
c

ho HT
trư



ng
có đủ trình độ năng lực đáp ứng với nhu cầu phát triển kinh tế- văn hóa- xã
hội” Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng đã khẳng định "Đổi
mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại
hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế
quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là
khâu then chốt”[41]. Đặc biệt, ngày 14 tháng 4 năm 2011 tại Thông tư số
1
17/2011/TT-BGDĐT Bộ Giáo dục và đào tạo đã “BAN HÀNH QUY ĐỊNH
CHUẨN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG MẦM NON”, bao gồm: Chuẩn hiệu
trưởng và đánh giá, xếp loại hiệu trưởng theo Chuẩn. Đây là cơ sở quan trọng
nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường mầm non trong giai đoạn
mới.
Có thể nói, phát triển GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là một trong
những động lực thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH là điều kiện để phát huy nguồn
lực con người. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân trong đó nhà giáo và
đội ngũ CBQL giáo dục là lực lượng nòng cốt đóng vai trò quan trọng. Nâng cao
chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục một cách toàn diện là nhiệm vụ
đáp ứng yêu cầu trước mắt và mang tính chiến lược lâu dài nhằm thực hiện thành
công chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn từ nay đến năm 2020.
Trong thời gian qua, ngành GD&ĐT đã đạt được những thành tựu quan
trọng về mọi mặt rất đáng ghi nhận. Hệ thống giáo dục quốc dân ngày một hoàn
chỉnh hơn, mạng lưới trường học các cấp từ Mầm non đến Đại học ngày càng mở
rộng, đội ngũ nhà giáo được tăng cường về số lượng và chất lượng. Nhìn lại 20
năm đổi mới và phát triển, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định:
“Giáo dục và Đào tạo tiếp tục phát triển và đầu tư nhiều hơn; cơ sở vật chất
được tăng cường; quy mô đào tạo mở rộng…”
GDMN là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, với nhiệm
vụ “thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến
sáu tuổi” nhằm “Giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ,
hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp

tài:“Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho hiệu trưởng các trường Mầm
non Huyện Quế võ - Tỉnh Bắc Ninh” với hy vọng góp phần nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non và nâng cao chất lượng giáo dục
mầm non tại địa phương.
3
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác bồi dưỡng nghiệp vụ
quản lý cho Hiệu trưởng trường mầm non, đề xuất biện pháp tổ chức bồi
dưỡng nghiệp vụ quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường
mầm non Huyện Quế võ - tỉnh Bắc Ninh.
3. Giả thuyết khoa học
Trình độ nghiệp vụ quản lý của hiệu trưởng các trường mầm Huyện
Quế Võ còn những hạn chế nhất định, nếu đề xuất được biện pháp tổ chức bồi
dưỡng nghiệp vụ quản lý phù hợp và được thực hiện một cách đồng bộ thì
trình độ NVQL của HT các trường MN huyện Quế Võ – tỉnh Bắc Ninh sẽ
được nâng cao, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non trên địa bàn,
đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu:
Công tác quản lý đội ngũ CBQL trường mầm non của Huyện Quế Võ –
Tỉnh Bắc Ninh.
4.2. Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho hiệu trưởng các
trường mầm non Huyện Quế Võ - Tỉnh bắc Ninh .
5. Nhiệm vụ nghiên cứu :
5.1. Xác định cơ sở lý luận về bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho hiệu
trưởng trường mầm non.
5.2. Nghiên cứu thực trạng trình độ nghiệp vụ quản lý của hiệu trưởng các
trường mầm non và công tác bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho đội ngũ này ở
các trường mầm non của huyện Quế Võ - Tỉnh Bắc Ninh.

Sử dụng nhằm minh chứng tính hiệu quả và tính khả thi của những biện
pháp đã đề xuất…
7.3. Nhóm phương pháp thống kê và sử dụng toán học
Chủ yếu dùng để thống kê, phân tích, tổng hợp và xử lý các số liệu thu
thập được.
8. Đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến việc bồi
dưỡng NVQL cho Hiệu trường trường Mầm non và làm rõ thực trạng công tác
tổ chức bồi dưỡng NVQL cho Hiệu trưởng trường mầm non huyện Quế võ -
Tỉnh Bắc Ninh, đề tài đã đề xuất biện pháp tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ quản
lý cho hiệu trưởng các trường mầm non huyện Quế Võ - Tỉnh bắc Ninh, góp
phần nâng cao năng lực QL cho đội ngũ này, từ đó nâng cao chất lượng GDMN
trên địa bàn.
9. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu
tham khảo, các phụ lục, luận văn được cấu trúc thành ba chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về bồi dưỡng NVQL cho Hiệu trưởng trường
Mầm non.
Chương 2. Thực trạng công tác tổ chức bồi dưỡng NVQL cho Hiệu
trưởng trường mầm non huyện Quế Võ - Tỉnh Bắc Ninh.
Chương 3. Biện pháp tổ chức bồi dưỡng NVQL cho Hiệu trưởng trường
mầm non huyện Quế Võ - Tỉnh Bắc Ninh.
6
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ QUẢN LÝ CHO
HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG MẦM NON
1.1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu:
Nói đến quản lý nói chung và nghiệp vụ quản lý trường mầm non nói
riêng đã có nhiều nhà khoa học trong nước và nước ngoài quan tâm nghiên cứu.
Ở nước ngoài, tác phẩm của Hayden J. (1996) về “Quản lý trường mầm

mà HT trường MN phải giải quyết trong thực tiễn.
Sau các nghiên cứu trên, Phạm Thị Châu ( 2002) cũng đã nghiên cứu vấn
đề về công tác quản lý của hiệu trưởng trường mầm non trong tác phẩm “ Một
số vấn đề quản lý giáo dục mầm non”. Nội dung của tác phẩm nêu một số khái
niệm về quản lý, quản lý giáo dục và quản lý trường mầm non; chức năng quản
lý và quản lý giáo dục; hệ thống mục tiêu, nguyên tắc, phương pháp quản lý
trường mầm non; vị trí, tính chất,nhiệm vụ của trường mầm non; tổ chức bộ
máy trường mầm non; vai trò của hiệu trưởng trong công tác quản lý trường
mầm non…
Gần đây, một số luận văn thạc sĩ cũng đã đề cập đến công tác quản lý và
nghiệp vụ quản lý của hiệu trưởng trường mầm non, tiêu biểu là đề tài “Biện
pháp nâng cao năng lực quản lý của hiệu trưởng các trường mầm non tỉnh Bắc
Ninh” của Lương Thị Biển. Luận văn đã nói lên vai trò của hiệu trưởng trong
công tác quản lý trường mầm non, những khó khăn mà hiệu trưởng các trường
thường gặp phải trong công tác quản lý hiện nay và một số biện pháp bồi
dưỡng năng lực quản lý chuyên môn của hiệu trưởng nhằm nâng cao hơn chất
lượng giáo dục mầm non
Ngoài ra còn có một số luận văn thạc sĩ khác có liên quan đến vấn đề bồi
dưỡng năng lực quản lý, như: “Biện pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi
dưỡng đội ngũ CBQL trường Mầm non ở trường bồi dưỡng cán bộ giáo dục
8
Hà Nội” của

Hồ

Nguyệt

Ánh (2000); “Thực trạng và các biện pháp góp phần
nâng cao năng lực QL của HT các trường mầm non quận Cầu Giấy” của Lê Thị
Đức (2000); “Một số biện pháp nâng cao năng lực QL cho CBQL các trường

tưởng về “Pháp trị” (trị quốc bằng pháp luật) của Hàn Phi Tử (280-233TCN),
Thương Ưởng (390-338TCN)… Ngày nay, theo đánh giá của nhiều nhà nghiên
cứu, những tư tưởng này vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc và đậm nét trong phong
cách quản lý và văn hóa của nhiều nước Châu Á, nhất là Trung Hoa, Nhật Bản,
Việt Nam, Singapore… và là bài học quý cho việc nghiên cứu hoạt động quản
lý.
Ở các nước phương Tây, vào thế kỷ thứ IV, III trước Công nguyên, điển
hình có Soocrat (469-399 TCN) và Platôn (427-347 TCN) với quan niệm về
người đứng đầu trong việc cai trị dân. Theo tư tưởng này, những người nào biết
cách sử dụng con người sẽ điều khiển công việc hoặc cá nhân hoặc tập thể một
cách sáng suốt, trong khi những người không biết làm như vậy sẽ mắc sai lầm
trong điều hành cả hai công việc này…
Theo sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp, từ thế kỷ XIX đã xuất
hiện nhiều nhà nghiên cứu quản lý tiêu biểu như Robert Owen (1771-1858),
Charles Babbage (1792-1871), Frederick Winslow Taylor (1856-1915) với
quản lý theo khoa học, Henry Fayol (1841-1925) với các nguyên tắc quản lý,
Max Weber (1856-1920) với quản lý hành chính và các trường phái quản lý
quan tâm đến con người trong tổ chức của Elton Mayo (1890-1948)…
Nói đến khái niệm “quản lý” là một khái niệm rất tổng quát và có nhiều
quan niệm khác nhau. Dưới đây là một số quan niệm chủ yếu:
Theo từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt
động theo những yêu cầu nhất định”;[36]
10
F.W Taylor cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn
người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách
tốt nhất và rẻ nhất”;[15]
Harol Koontz thì khẳng định: “Quản lý là hoạt động thiết yếu bảo đảm
sự nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức”;[15]
Thomas J. Robbins – Wayned Morrison cho rằng: “Quản lý là một nghề
nhưng cũng là một nghệ thuật, một khoa học”;[15]

thành các cơ sở, tạo nên một hệ thống nhất. Điều này dẫn đến một tất yếu là
phải có một lĩnh vực hoạt động có tính độc lập tương đối trong giáo dục, đó là
hoạt động quản lý giáo dục. Quản lý giáo dục được xem như là một hoạt động
chuyên biệt để quản lý các cơ sở giáo dục.
* Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục:
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác
động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục)
nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng,
thực hiện được tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu
điểm là hội tụ của quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới
mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [26].
Thực chất, quản lý giáo dục là một khoa học về quản lý. Chính vì lẽ đó
quản lý giáo dục có đầy đủ các nguyên tắc chung của một khoa học quản
lý.Tuy nhiên, do tính đặc thù của quản lý giáo dục, sản phẩm của giáo dục là
nhân cách con người. Quá trình tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng là
tình cảm, tâm lý, ý thức con người (học sinh, giáo viên). Bởi thế, quá trình giáo
dục phải diễn ra trong một thời gian dài và huy động nhiều lực lượng tham gia
cùng một lúc. Cho nên, quản lý giáo dục không chỉ có đầy đủ các nguyên tắc
chung về quản lý mà nó còn chứa đựng những nguyên tắc đặc thù riêng:
+ Thứ nhất đó là tính kế thừa.
12
+ Thứ hai đó là nguyên tắc nhà nước và nhân dân cùng chăm lo cho sự
nghiệp giáo dục. Giáo dục là sự nghiệp chung của toàn Đảng, toàn dân.
+ Thứ ba đó là nguyên tắc kết hợp thuyết phục với công tác tổ chức,
động viên tinh thần với khuyến khích vật chất, chăm lo đời sống giáo viên và
cán bộ giáo dục
Như vậy, bản chất của hoạt động quản lý giáo dục là quản lý hệ thống
giáo dục, là sự tác động có mục đích có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức của
chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý theo những quy luật khách quan nhằm đưa
hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả .

tính nhà nước vừa mang tính xã hội nên trong quản lý nhà trường còn bao hàm
quản lý đội ngũ, CSVC, tài chính, hành chính - quản trị và quản lý các hoạt
động phối kết hợp với các lực lượng xã hội để thực hiện mục tiêu giáo dục.
S¬ ®å 1: C¸c yÕu tè hîp thµnh qu¸ tr×nh gi¸o dôc
1.2.4. Quản lý trường mầm non
Giáo dục mầm non là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của hệ
thống giáo dục, là bậc học đầu tiên đặt nền móng cho sự hình thành và phát
MT
TH
Tr
PP
ND
CSVC
Qu¶n lý
14
triển nhân cách trẻ. Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất,
nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm - xã hội, trí tuệ và thẩm mĩ, hình thành những
yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp một. Trường MN
là đơn vị cơ sở của ngành GDMN thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam
do ngành GD quản lý. Trường MN tiếp nhận trẻ từ 3 tháng đến 6 buổi (trước
khi trẻ vào lớp 1) để CS, ND và GD. Trường MN có vị trí rất quan trọng bởi nó
là cơ sở đầu tiên đặt nền móng cho việc hình thành, phát triển nhân cách của trẻ
và chuẩn bị những tiền đề cần thiết để trẻ bước vào trường phổ thông.[5]
- Mục tiêu đào tạo của trường MN là hình thành cho trẻ những cơ sở
đầu tiên của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
+ Trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hòa, cân đối.
+ Giàu lòng thương, biết quan tâm, nhường nhịn gần gũi mọi người,
thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên.
+ Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp ở
xung quanh

+ Quản lý mục tiêu, nhiệm vụ CS, GD trẻ.
+ Quản lý nội dung CS, GD trẻ.
+ Quản lý phương pháp, phương tiện CS, GD trẻ.
+ Quản lý giáo viên (lực lượng giáo dục).
+ Quản lý trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi (đối tượng giáo dục).
+ Quản lý kết quả CS, GD trẻ
Các nội dung của quá trình CS, GD trẻ có quan hệ gắn bó với nhau, trong
đó mục tiêu, nhiệm vụ CS, GD giữ vai trò định hướng cho sự vận động phát
triển của toàn bộ quá trình và cho từng nội dung.
- Bộ máy quản lý của trường MN bao gồm:
+ Ban giám hiệu nhà trường.
+Tổ chức Đảng và các đoàn thể.
16
+ Hội đồng sư phạm.
+Tổ chuyên môn.
+ Các tổ chức khác.
Như vậy, quản lý trường mầm non là quá trình tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý (hiệu trưởng) đến tập thể giáo viên để chính họ
tác động trực tiếp đến quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ nhằm thực hiện mục
tiêu giáo dục đối với từng độ tuổi và mục tiêu chung của bậc học.
1.2.5. Nghiệp vụ quản lý:
Từ điển tiếng Việt định nghĩa : Nghiệp vụ là công viêc chuyên môn của
một nghề. Nghiệp vụ là những công việc mà mỗi người phải thực hiện để hoàn
thành chức trách của mình. Muốn hoàn thành chức trách của mình, họ phải hiểu
rõ nội dung và cách thức thực hiên công việc và phải có một trình độ chuyên
môn nhất định.[36]
Như vậy, nghiệp vụ quản lý là công việc mà nhà quản lý phải làm để
thực hiện chức trách của mình. Tùy theo yêu cầu của từng ngành, từng cấp
quản lý mà nhà quản lý có những công việc khác nhau. Tuy nhiên để thực hiện
tốt chức trách của mình, các nhà quản lý phải tuân thủ theo các nguyên tắc,

nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng các yêu cầu của lao động nghề nghiệp.
Theo Nguyễn Minh Đường: “ Bồi dưỡng có thể là một quá trình cập nhật kiến
thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và
thường được xác nhận bằng một chứng chỉ”.[12]
Từ quan niệm trên, cho ta thấy:
- Chủ thể của quá trình bồi dưỡng đã được đào tạo để có một trình độ
chuyên môn nhất định.
18
- Thực chất của quá trình bồi dưỡng là bổ sung cập nhật kiến thức và kỹ
năng còn thiếu hoặc lạc hậu nhằm nâng trình độ, phát triển thêm năng lựctrong
một lĩnh vực hoạt động chuyên môn dưới một hình thức phù hợp.
- Mục đích của bồi dưỡng là nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên
môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở mang hoặc nâng cao hệ thống tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn đã có sẵn, giúp cho công việc đang làm đạt
hiệu quả tốt hơn.
Như vậy, bồi dưỡng NVQL là: Bổ sung và cập nhật các kiến thức và kỹ
năng còn thiếu hoặc lạc hậu nhằm nâng cao trình độ, phát triển thêm năng lực
để người quản lý thực hiện tốt các chức năng quản lý, qua đó hoàn thành chức
trách của mình được giao.
1.3. Lý luận về bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho Hiệu trưởng trường MN
1.3.1. Giáo dục Mầm non trong bối cảnh mới
Đất nước đã và đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH, lực lượng
sản xuất phát triển, quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất, tăng
trưởng kinh tế cao, đời sống nhân dân được cải thiện về mọi mặt. Quá trình
giao lưu, hợp tác và cạnh tranh trong khu vực cũng như trên thế giới ngày càng
mạnh mẽ.
Cuộc cách mạng Khoa học - Công nghệ phát triển với qui mô ngày càng rộng
lớn và mức độ ngày càng cao.
Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học - Công nghệ vì nó đóng
vai trò phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội. Trước sự đổi mới

móng ban đầu cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ
em Việt Nam. Việc chăm lo phát triển GDMN là trách nhiệm chung của các
cấp chính quyền, của mỗi ngành, mỗi gia đình và toàn xã hội dưới sự lãnh đạo
của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.
20
- GDMN gắn với nhu cầu phát triển KT - XH và những tiến bộ khoa học
công nghệ.
- Thực hiện công bằng trong GDMN.
Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 đã xác định mục tiêu cụ thể
đối với giáo dục mầm non là: Hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non
cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015; đến năm 2020, có ít nhất 30% trẻ em trong độ tuổi
nhà trẻ và 80% trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở
giáo dục mầm non; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng trong các cơ sở giáo dục mầm
non giảm xuống dưới 10%.[9]
Tóm lại: Trước những yêu cầu của thời kỳ CNH-HĐH đất nước, với xu
thế hội nhập cùng với những thời cơ và thách thức hiện nay, đòi hỏi ngành
GD&ĐT cần có những biện pháp cụ thể để phát triển giáo dục nói chung và
GDMN nói riêng với mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp và các cơ
chế chính sách thích hợp.
1.3.2. Nghiệp vụ quản lý của Hiệu trưởng trường mầm non:
1.3.2.1.
Vị

trí

vai

trò

của

vụ

của

hiệu

trưởng

trường

mầm

non
*Hiệu trưởng trường mầm non có những nhiệm vụ cơ bản sau:

Thứ nhất: Đảm bảo yêu cầu CS, GD trẻ theo yêu cầu mục tiêu đào tạo.
Đây là nhiệm vụ chủ yếu của trường MN và cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong
công tác chỉ đạo của HT. Vì thế mọi hoạt động trong trường MN đều phục vụ
cho việc thực hiện nhiệm vụ này. Trong giai đoạn hiện nay, chất lượng CS,
GD trẻ trở thành điều kiện quan trọng để duy trì và phát triển số lượng trẻ đến
trường; là yếu tố có tính thuyết phục cho công tác tuyên truyền, hướng dẫn kiến
thức nuôi dạy trẻ và huy động các nguồn lực từ cộng đồng xã hội để xây dựng,
phát triển nhà trường. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, hiệu trưởng trường MN
phải chỉ đạo mọi lực lượng trong trường làm tốt các chức năng, nhiệm vụ của
mình; chỉ đạo giáo viên thực hiện nghiêm túc chương trình CS, GD; đảm bảo
cho trẻ được học tập trong môi trường tương đối đầy đủ về cơ sở vật chất
(trường, lớp, đồ dùng, đồ chơi ); được sống trong môi trường vệ sinh sạch sẽ,
an toàn, được sinh hoạt điều độ, có nề nếp; tạo môi trường thuận lợi cho trẻ
hoạt động tích cực dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên nhằm giúp trẻ
phát triển hài hoà về các mặt thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status