1. CÁC CHỦ TRương CỦA ĐẢNG- NGHỊ ĐỊNH NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ TRÁCH NGHIỆM XÃ HỘI
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
- Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nhằm tạo ra động lực thúc đẩy các đơn vị kinh
tế và quần chúng lao động hăng hái phát triển sản xuất, nâng cao năng suất, chất
lượng và hiệu quả kinh tế. Sử dụng đầy đủ và đúng đắn các đòn bẩy kinh tế trong
kế hoạch hoá và quản lý kinh tế, trên cơ sở kết hợp hài hoà lợi ích của xã hội, lợi
ích của tập thể và lợi ích của người lao động. Mức thu nhập của tập thể và của
người lao động tuỳ thuộc vào kết quả lao động và hiệu quả kinh tế. Các chính sách
và chế độ quản lý vật tư, lao động, tiêu thụ sản phẩm, giá cả, tài chính, tín dụng,
tiền lương, v.v. phải hướng các hoạt động kinh tế vào việc thực hiện các mục tiêu
của kế hoạch kinh tế quốc dân, tạo điều kiện và đòi hỏi mọi đơn vị kinh tế thực
hiện tốt hạch toán kinh doanh, mọi tổ chức và cá nhân ra sức tiết kiệm trong sản
xuất và tiêu dùng.
- Kiên quyết xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thiết lập và hình thành
đồng bộ cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ
nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ.
Tiến hành phân cấp quản lý theo nguyên tắc tập trung dân chủ; chống tập trung
quan liêu đồng thời chống tự do vô tổ chức, cục bộ, bản vị. Bảo đảm quyền tự chủ
sản xuất, kinh doanh, tự chủ tài chính của các đơn vị kinh tế cơ sở, quyền làm chủ
của các tập thể lao động. Các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến xã,
phường phải làm đúng chức năng quản lý hành chính - kinh tế, không can thiệp
vào công việc sản xuất - kinh doanh của các đơn vị cơ sở. Bảo đảm hiệu lực quản
lý tập trung thống nhất của trung ương trong những vấn đề có tầm quan trọng đối
với cả nước; đồng thời bảo đảm quyền chủ động của các cấp địa phương trong việc
quản lý kinh tế, xã hội trên địa bàn lãnh thổ.
- Để tăng nhanh khối lượng hàng hoá lưu thông, phải mở rộng giao lưu hàng hoá,
bãi bỏ các biện pháp cấm đoán, chia cắt thị trường theo địa giới hành chính. Kịp
thời phát hiện và nghiêm khắc trừng trị bọn đầu cơ, buôn bán phi pháp.
Tích cực giảm bội chi ngân sách bằng cách tạo ra nguồn thu và tăng thu đúng
chính sách. Tiết kiệm chi và đình, hoãn những khoản chi chưa cấp bách, giảm dần
kinh tế, văn hoá và chăm lo đời sống của đồng bào các dân tộc.
Đại hội VII
Nghị quyết liên quan đến phát triển kinh tế và trách nhiệm xã hội, giải quyết
vấn đề xã hội.
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ Khoá VII (1-1994) chủ trương tăng
cường xây dựng các luật nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của người lao động, vừa
khuyến khích đầu tư phát triển, vừa hạn chế bất công xã hội.
Từng bước nhận thức rõ hơn về nhiều hình thức phân phối, bên cạnh phân phối
theo lao động, còn có chính thức phân phối theo nguồn vốn đóng góp vào sản xuất
kinh doanh.
Đẩy mạnh đào tạo tay nghề, mở rộng hệ thống dịch vụ tư vấn lao động; có
chính sách ưu đãi hợp lý về nhiều mặt để tạo điều kiện cho người nghèo vươn lên
làm đủ sống và trở thành khá giả.
Khuyến khích làm giàu chính đáng đi đôi với tích cực xoá đói giảm nghèo. Có
chính sách ưu đãi hợp ý về tín dụng, về thuế, đào tạo nghề nghiệp để tạo điều kiện
cho người nghèo có thể tự mình vươn lên
Nâng cao trách nhiệm của toàn xã hội trong vấn đề giải quyết bất công xã hội.
“Có chính sách điều tiết hợp lý đối với những người giàu; động viên các doanh
nghiệp; các tổ chức, cá nhân tự nguyện tham gia các hoạt động nhân đạo, ái hữu, từ
thiện, giúp đỡ những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai, những người
tàn tật, già cả, neo đơn, không có khả năng lao động”.
Thực tế cho thấy, chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội được đề ra ở Đại hội
VII và các hội nghị Trung ương Đảng Khóa VII, một mặt, tiếp tục khẳng định mục
tiêu của chính sách xã hội là thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế và đều phục
vụ mục tiêu phát triển con người, phát triển xã hội; coi phát triển kinh tế là cơ sở
để thực hiện các chính sách xã hội và việc thực hiện tốt các chính sách xã hội chính
là động lực phát triển kinh tế, đó là những nhân tố đảm bảo cho sự phát triển bền
vững.
Mặt khác, thể hiện sự đổi mới tư duy của Đảng trong việc giải quyết những vấn
đề xã hội phát sinh từ việc chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế mới, như: xác lập
nước ta 10 năm (2001-2010) đạt 7,2%. Bởi lẽ, cấu trúc đầu vào của tăng trưởng
kinh tế chủ yếu là dựa vào nguồn vốn đầu tư nhỏ bé, khai thác tài nguyên là chính
và chất lượng nguồn nhân lực thấp. Đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB-2011),
chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11
trên 12 nước ở châu Á. Do đó, tốc độ tăng năng suất lao động trong giai đoạn
2001-2010 của nước ta trung bình đạt 5,13%, thấp hơn nhiều so với các nước trong
khu vực. Cụ thể: Trung Quốc gấp trên 2 lần so với Việt Nam; Thái Lan gấp 4,5 lần;
Ma-lai-xi-a gấp 12 lần và Hàn Quốc gấp 23,5 lần(1). Nhận thức rõ điều này tại Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “một trong
những hạn chế và là trở lực lớn của nước ta trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH
gắn với kinh tế tri thức hiện nay đó là nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế chưa đáp
ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước”(2). Do đó, để thực hiện
thắng lợi công cuộc đổi mới và sự nghiệp CNH, HĐH Đảng ta yêu cầu: “Trọng
dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ
thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao. Có chính sách thu hút
các nhà khoa học, công nghệ giỏi ở trong nước và ngoài nước, trong cộng đồng
người Việt Nam định cư ở nước ngoài”(3). Phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là
nguồn nhân lực chất lượng cao được coi là khâu ưu tiên đột phá thứ hai trong
nhiệm kỳ Đại hội XI của Đảng. Để thực hiện đổi mới chính sách đãi ngộ nguồn
nhân lực chất lượng cao, Nhà nước cần tập trung thực hiện những chính sách cơ
bản sau đây: Một là, xây dựng, thực hiện chiến lược nhân tài, khai thác triệt để lao
động trí tuệ. Để thực hiện được chiến lược nhân tài, trước hết cần xây dựng một
cách tổng thể khung chiến lược phát triển nhân tài một cách hợp lý. Bởi lẽ, chỉ có
như vậy, nhân tài - nguồn nhân lực chất lượng cao mới có thể phát huy được hết
vai trò, tiềm năng của mình cống hiến cho sự phát triển của xã hội. “Chiến lược
nhân tài” cần được xây dựng đồng bộ từ khâu phát hiện, tuyển chọn đến đào tạo,
bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt, thoả đáng với năng lực và những cống hiến
của họ thông qua cơ chế tiền lương, thưởng. Không hạn chế mức thu nhập của các
nhà khoa học, chuyên gia, các nhà quản lý… nếu đó là những thu nhập chính đáng
từ tài năng lao động và sáng tạo của họ; đồng thời, xây dựng cơ chế ràng buộc về
của công tác quản lý, sử dụng nhân lực. Hay đó là sự tồn tại của “chủ nghĩa thân
hữu” một nét văn hóa điển hình rất Á Đông vẫn đang tồn tại đâu đó và là vật cản
khó lay chuyển? Bên cạnh đó, còn một thực tế đáng buồn khác đang tồn tại trong
không ít cơ quan Nhà nước về quy chế đề bạt, bổ nhiệm cán bộ còn rất bất cập.
Trong nhiều trường hợp cụ thể thì tài năng, năng lực không được coi là tiêu chí
hàng đầu. Điều đó dẫn đến tình trạng lãng phí trong sử dụng nguồn nhân lực CLC,
nhân lực tài năng. Vậy nên, chúng ta chưa khai thác được hết những tiềm năng, thế
mạnh của nguồn lực này phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Vì vậy,
chúng ta cần nhanh chóng xóa bỏ ngay các cơ chế, chính sách tuyển dụng, quản lý
và sử dụng lao động cả trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, hoạch định
chính sách, trí thức khoa học và công nghệ…đang là rào cản đối với huy động
nguồn nhân lực chất lượng cao trong cống hiến và sáng tạo. Cải tiến công tác tuyển
dụng: xây dựng và thực hiện những phương pháp tuyển dụng hợp lý, khách quan,
chính xác để tuyển dụng được đội ngũ người lao động thực sự có trình độ, năng lực
và nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu tuyển dụng, vị trí công tác ngay từ đầu. Bố trí,
phân công hợp lý nhân lực chất lượng cao dựa trên cơ sở năng lực và phân tích
công việc, xây dựng định mức các chức danh. Sử dụng các phương pháp khoa học
để xây dựng hệ thống định mức lao động, các tài liệu mô tả công việc để xây dựng
từng chức danh một cách chính xác, kịp thời, khách quan làm căn cứ cho việc bố
trí công việc và đánh giá kết quả làm việc của người lao động được coi là nhân lực
chất lượng cao. Tổ chức xây dựng, hoàn chỉnh và trình duyệt hệ thống tiêu chuẩn
chuyên môn nghiệp vụ để làm cơ sở xác định nhu cầu sử dụng lao động chất lượng
cao. Chấn chỉnh việc định mức lao động, bảo đảm định mức lao động được xây
dựng hợp lý làm cơ sở cho việc xác định mức chi trả tiền lương một cách đúng
đắn, phù hợp với hoạt động sản xuất, kinh doanh của từng đơn vị, doanh nghiệp.
Hoàn thiện quy hoạch đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ - nhân lực chất lượng cao.
Hệ thống quy hoạch cán bộ phải được xây dựng trên cơ sở căn cứ khoa học, có giải
pháp hiệu quả để thực hiện một cách nhất quán và linh hoạt. Ba là, chính sách thu
hút và sử dụng nguồn nhân lực CLC phải mang tính toàn diện. Trong những năm
đổi mới vừa qua, thực tiễn phát triển đất nước cho thấy việc đào tạo, thu hút, sử
trông rộng, có năng lực quản lý lãnh đạo, vạch ra đường lối, chủ trương, chính
sách, có khả năng quyết định đúng đắn kịp thời, nắm được thời cơ vận hội, dự báo
và xử lý những thách thức có hiệu quả; đồng thời phải là những người yêu nước,
trung thành với lý tưởng của Đảng, có nhân phẩm, dám hy sinh lợi ích cá nhân vì
Tổ quốc, nhân dân… 2 - Đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp: bao gồm các giám
đốc, nhân viên quản lý doanh nghiệp, xí nghiệp, nhà máy có năng lực, trình độ
chuyên môn, thông thạo pháp luật kinh tế, luật pháp quốc tế, để có thể quản lý hiệu
quả các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và sẵn sàng nhập cuộc trước xu thế
toàn cầu hóa. 3 - Đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật: bao gồm các nhà khoa học
đầu ngành đạt chuẩn trình độ khu vực và thế giới, chuyên gia kỹ thuật giỏi, trình
độ cao, công nhân lành nghề giỏi chuyên môn nghiệp vụ … Đây là lực lượng có
khả năng sáng tạo và ứng dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật tiên tiến vào thực
tiễn, có khả năng giải quyết các vấn đề phức tạp, làm việc trong môi trường cạnh
tranh… Bốn là, thực hiện đổi mới chính sách tiền lương, tạo động lực cho người
lao động. Trong cơ chế kinh tế thị trường, chính sách sử dụng có hiệu quả nguồn
nhân lực chất lượng cao bao hàm nhiều yếu tố, song, tiền lương, tiền công là yếu tố
hàng đầu có tính quyết định. Bởi lẽ, mục đích của người lao động chính là nâng
cao thu nhập để có thể thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần của bản
thân và gia đình. Đặc thù trong lao động của nguồn nhân lực chất lượng cao là lao
động trí tuệ, theo C.Mác, đó là “lao động phức tạp” đem lại giá trị là bội số của lao
động giản đơn, với ý nghĩa ấy, họ phải được hưởng mức lương hợp lý, chế độ đãi
ngộ thỏa đáng. Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng thực hiện chế độ tiền lương theo
quy luật giá trị. Lộ trình cải cách tiền lương trên thực tế vẫn chưa thực sự phù hợp
với những giá trị lao động mà họ đã cống hiến. Như vậy, chính sách tiền lương và
đãi ngộ phải bảo đảm thu nhập của người lao động, nhất là nhân lực chất lượng cao
để không những đủ mức tối thiểu thực hiện tái sản xuất sức lao động, mà còn để
người lao động thường xuyên tái sản xuất mở rộng, không ngừng nâng cao năng
lực chuyên môn để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn sản xuất. Vì vậy,
Nhà nước và các doanh nghiệp cần nhanh chóng cải cách chế độ tiền lương theo
hướng toàn diện, triệt để, xây dựng hệ thống trả thưởng hợp lý, hiệu quả phù hợp
cách đề xuất những biện pháp sử dụng nguồn tài nguyên một cách tối ưu hay bằng
cách tiến hành những chương trình từ thiện hay phi tài chính nhằm cải thiện tình
hình văn hóa - xã hội tại địa bàn doanh nghiệp hoạt động
Nếu như theo quan điểm truyền thống, CSR không tạo ra doanh thu, lợi nhuận cho
doanh nghiệp, thì hiện nay, CSR lại được xem như là chìa khóa giúp doanh nghiệp
phát triển vững mạnh và tạo được uy tín thương hiệu, là một nguồn tăng trưởng
doanh thu tiềm năng cho doanh nghiệp bởi những hoạt động CSR sẽ mang lại lợi
thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp, tạo sự phản hồi tích cực từ khách hàng và đối
tác của doanh nghiệp, mà đây là hai đối tượng góp phần trực tiếp vào tình hình
kinh doanh của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp Việt Nam với trách nhiệm xã hội
Là những công ty, tập đoàn kinh tế hàng đầu tại Việt Nam trong lĩnh vực khai thác
tài nguyên thiên nhiên cũng như mạng lưới viễn thông trong cả nước, Tổng Công
ty thăm dò khai thác dầu khí (PVEP) và Tập đoàn Viễn thông quân đội (VIETTEL)
luôn là những đơn vị tích cực gắn kết trách nhiệm xã hội với các hoạt động sản
xuất.
Đối với Tổng Công ty thăm dò khai thác dầu khí (PVEP), trách nhiệm chính được
lãnh đạo PVEP đặc biệt chú trọng là hệ thống chính sách đối với người lao động.
Không chỉ là chính sách lương thưởng, hàng năm, công ty còn tổ chức các hội thi
"An toàn vệ sinh viên giỏi" nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm và rèn luyện khả
năng thực hành khi có sự cố cho công nhân viên. Trong quá trình triển khai các
hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí tại Việt Nam cũng như ở nước ngoài,
PVEP cùng với Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam thực hiện các giải pháp
nhằm mục tiêu tiết kiệm năng lượng, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên
một cách hợp lý như: Ưu tiên sử dụng các nguyên/nhiên liệu thân thiện hơn với
môi trường; Ưu tiên sử dụng các công nghệ xử lý môi trường theo chu trình khép
kín; Xây dựng chương trình quản lý chất thải, quan trắc môi trường cho các dự án,
nghiên cứu đầu tư và phát triển các dự án theo cơ chế phát triển sạch (CDM) Với
định hướng nâng cao trách nhiệm xã hội, chung tay góp sức cùng cộng đồng, trong
giai đoạn 2007-2012, PVEP cũng đã dành trên 350 tỷ đồng cho các hoạt động an
và các em học sinh
Và những "trái ngọt"
Đúng như những kỳ vọng mà doanh nghiệp muốn hướng đến, các hoạt động của
doanh nghiệp không chỉ góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân,
hạn chế rủi ro từ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, mà còn tạo ra hiệu ứng tích
cực của người tiêu dùng dành cho doanh nghiệp. Từ đó, lợi ích dễ nhận thấy nhất,
mà cũng là lợi ích sát sườn nhất doanh nghiệp muốn đạt được khi doanh nghiệp
tiến hành CSR là gia tăng doanh thu qua các năm.
Trong hai năm 2011 - 2012, mặc dù hoạt động kinh tế diễn ra khó khăn đối với
toàn bộ nền kinh tế, tuy nhiên, ba doanh nghiệp kể trên vẫn có sự gia tăng đáng kể
trong doanh thu. Tốc độ tăng trưởng doanh thu năm 2012 với ba doanh nghiệp đều
tăng lần lượt khoảng 21%, 25% và 33%.
Tốc độ tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp
năm 2012, %. Nguồn: Cổng thông tin doanh nghiệp
Vietnam Report
Đồng thời, theo thống kê từ BXH V1000 - BXH 1000 doanh nghiệp nộp thuế
TNDN lớn nhất Việt Nam do Vietnam Report giai đoạn 2011 - 2013 công bố, ba
doanh nghiệp nêu trên luôn giữ ở vị trí cao trong bảng xếp hạng. Điển hình, Viettel
từ vị trí thứ 5 trong BXH năm 2011 lên vị trí thứ 1 và thứ 2 vào năm 2012 và 2013.
PVEP từ vị trí thứ 70 trong BXH năm 2012 vươn lên đứng đầu năm 2013, đây
được coi là một bước phát triển đột phá. Công ty Toyota Việt Nam cũng từ vị trí
thứ 27 lên thứ 19 năm 2012.
Rõ ràng, những hoạt động trách nhiệm xã hội mà các doanh nghiệp đã dày công
thực hiện đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên hình ảnh thiện cảm, định
hướng tiêu dùng cho khách hàng của các doanh nghiệp và sự hợp tác bền vững
giữa các đối tác kinh doanh, góp phần không nhỏ vào thành tựu tăng trưởng doanh
thu cũng như đóng góp thuế ngày càng cao của doanh nghiệp những năm gần đây
và cả trong tương lai.
2.CÁC QUAN ĐIỂM VÀ NHẬN ĐỊNH TRÊN PHẠM VI CÁC NƯỚC KHÁC
NGOÀI VIỆT NAM
thưởng những nhân viên đạt thành tích xuất sắc, cung cấp các chương trình bảo
hiểm y tế toàn diện, chế độ nghỉ dưỡng bổ sung, xây dựng môi trường văn hóa
doanh nghiệp lành mạnh… nhằm giúp người lao động cân bằng giữa công việc và
cuộc sống gia đình.
Kevin Ong - Giám đốc phụ trách chính sách đãi ngộ của Towers Watson tại khu
vực Đông Nam Á cho biết, đối với cấp quản lý, chính sách đãi ngộ mà các công ty
đang có xu hướng áp dụng bao gồm ba phần là lương cơ bản, các khoản khuyến
khích ngắn hạn và các khoản khuyến khích dài hạn, trong đó các khoản khuyến
khích dài hạn đang được áp dụng khá phổ biến nhằm gắn trách nhiệm của các cấp
điều hành đối với các mục tiêu trung hạn và hướng đến sự tăng trưởng bền vững
dài hạn của doanh nghiệp.
Sean Paul Darilay - Giám đốc phụ trách dịch vụ dữ liệu toàn cầu của Towers
Watson Singapore phát hiện ra rằng nhiều công ty đang thiết kế lại bộ máy tổ chức
theo hướng tinh giản các cấp bậc nhưng nới rộng dải tiền lương ở mỗi cấp bậc.
Cách làm như vậy giúp doanh nghiệp chú trọng hơn đến sự đóng góp của người lao
động thông qua nhiều vai trò linh hoạt hơn và đảm nhận nhiều nhiệm vụ hơn, đồng
thời buộc các cấp quản lý phải cân nhắc kỹ hơn trong việc trả lương cũng như có
trách nhiệm nặng nề hơn khi thực hiện nhiệm vụ phát triển nghề nghiệp cho đội
ngũ nhân viên.
Đãi ngộ theo hiệu quả làm việc như thế nào là hợp lý nhất?
Nhìn chung, hệ thống lương bổng đã chuyển dần từ chỗ trả lương theo thời gian
làm việc, theo thâm niên công tác hay chức vụ sang trả lương theo hiệu quả làm
việc và mức độ đóng góp thực tế của nhân viên. Xu hướng này giúp các công ty
quản lý tốt hơn các khoản phúc lợi không tính thành tiền và xác định rõ gói thu
nhập của từng nhân viên hằng tháng nhưng vẫn đảm bảo sự công bằng và ổn định
trong tổ chức. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất khi áp dụng chính sách đãi ngộ theo
hiệu quả làm việc là không nên chỉ nhấn mạnh yếu tố lương, có nghĩa là không
nhất thiết phải tăng tiền lương, tiền thưởng mỗi khi nhân viên đạt kết quả cao.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tiền bạc chỉ tạo ra một tác động rất thấp đối với
việc cải thiện thành tích và hiệu quả làm việc của người lao động. Thay vào đó,
tế là yếu tố quan trọng và có giá trị làm tăng hiệu quả của những chính sách
này ở tầm quốc gia.
Những Hiệp định đạt được tại Vòng Uruguay cho thấy rằng tất cả các chính phủ
tham gia thừa nhận sự đóng góp của các chính sách thương mại thông thóang với
sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh nền kinh tế của chính mình và nền kinh tế
thế giới nói chung.
2. Sự hợp tác thành công trong lĩnh vực chính sách kinh tế sẽ đóng góp vào sự tiến
bộ của những lĩnh vực khác. Sự ổn định hơn của tỉ giá hối đoái, dựa trên các điều
kiện kinh tế và tài chính có trật tự hơn, sẽ góp phần vào việc mở rộng thương mại,
tăng trưởng và phát triển bền vững, và điều chỉnh sự mất cân bằng đối ngoại. Cũng
còn có nhu cầu về đầu tư tài chính có ưu đãi và không ưu đãi, thích hợp và đúng
lúc và với nguồn đầu tư thực tế cho các nước đang phát triển và nhu cầu tiếp tục cố
gắng để giải quyết vấn đề nợ, để góp phần đảm bảo tăng trưởng và phát triển kinh
tế.
Tự do hóa thương mại tạo nên nhân tố ngày càng quan trọng trong sự thành công
của những chương trình điều chỉnh đang được nhiều nước thực hiện, thường làm
phát sinh chi phí xã hội chuyển đổi lớn. Ngoài ra, các Bộ trưởng ghi nhận vai trò
của Ngân hàng Thế giới và Quĩ tiền tệ quốc tế trong việc hỗ trợ sự điều chỉnh
hướng tới tự do hóa thương mại, bao gồm cả việc hỗ trợ các nước đang phát triển
thuần nhập khẩu lương thực đang phải đối mặt với các chi phí ngắn hạn phát sinh
từ các cải cách thương mại trong nông nghiệp.
3. Kết quả tích cực của Vòng đàm phán Uruguay là đóng góp quan trọng cho sự
nhất quán và hoàn thiện hơn nữa các chính sách kinh tế quốc tế. Các kết quả của
Vòng Uruguay đảm bảo mở rộng việc tiếp cận thị trường có lợi cho tất cả các
nước, cũng như đảm bảo có một khung khổ vững mạnh hơn của các nguyên tắc
thương mại đa biên.
Các kết quả đó cũng đảm bảo rằng chính sách thương mại sẽ được tiến hành một
cách minh bạch hơn và cùng với nhận thức rõ hơn các lợi ích của một môi trường
thương mại mở với năng lực cạnh tranh quốc nội. Hệ thống thương mại đa biên
vững mạnh hơn xuất hiện từ Vòng Uruguay có khả năng tạo ra một diễn đàn tốt