Công tác Kế toán quản trị hàng tồn kho tại Xí nghiệp kinh doanh tổng hợp - Công ty cổ phần vận tải biển Đà Nẵng - Pdf 14

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thượng Bích La
PH Ầ N 1 :
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
HÀNG TỒN KHO TẠI DOANH NGHIỆP
THƯƠNG MẠI

SVTH: Phan Thị Thu Thuỷ - Lớp 24KT5 Trang -1-
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thượng Bích La
I.KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1. Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị
Trước đây, người ta chỉ đơn thuần định nghĩa kế toán như là một công việc giữ sổ
sách của nhân viên kế toán. Năm 1941, các giám định viên kế toán của Hiệp hội kế
toán viên công chứng Hoa Kỳ AICPA đã định nghĩa: “Kế toán là một nghệ thuật của
việc ghi chép, phân loại và tổng hợp bằng một phương pháp riêng và ghi bằng tiền
các nghiệp vụ, sự kiện có tính chất tài chính và giải thích kết quả của nó.”
Như vậy kế toán là khoa học và nghệ thuật thu nhận, xử lý cung cấp thông tin ở
doanh nghiệp. Thông tin không chỉ cần thiết cho những người ra quyết định bên trong
đơn vị như: ông chủ, nhà quản trị… mà còn cần thiết cho các đối tượng bên ngoài
như: ngân hàng, nhà đầu tư…Do đó thông tin phải đa dạng về mọi khía cạnh: nội
dung, thời gian, mức độ…Chính vì lý do này mà kế toán doanh nghiệp được chia
thành Kế toán Tài chính và Kế toán Quản trị.
- Kế toán quản trị: là một bộ phận không thể tách rời của hệ thống kế toán
nhằm thực hiện quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp và truyền đạt thông
tin hữu ích giúp các nhà doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch, điều chỉnh, tổ
chức thực hiện kế hoạch và quản lý hoạt động kinh tế tài chính trong nội bộ
doanh nghiệp.
- Bản chất của kế toán quản trị:
 Kế toán quản trị không chỉ thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin về các
nghiệp vụ kinh tế đã thực sự hoàn thành mà còn xử lý và cung cấp thông tin
phục vụ cho việc ra quyết định quản trị. Để có những thông tin này kế toán
phải sử dụng các phương pháp khoa học để phân tích, xử lý sao cho phù hợp

nhà quản lý vạch ra những việc phải làm để đưa hoạt động của doanh nghiệp hướng
về các mục tiêu đã xác định trước. Các kế hoạch mà nhà quản trị lập thường là các dự
toán tổng thể và chi tiết. Để kế hoạch có chất lượng, có tính khả thi cao phải dựa trên
thông tin đảm bảo, có cơ sở do kế toán quản trị cung cấp.
- Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện: là việc nhà quản lý phải làm sao
phân công công việc phù hợp với nguồn nhân lực, vật lực tại đơn vị. Muốn đạt được
điều đó, nhà quản lý phải cần thông tin từ kế toán quản trị nội bộ trong doanh nghiệp.
- Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm soát, kiểm tra: cơ sở để đánh giá hiệu quả
công việc bằng cách so sánh giữa các chỉ tiêu kỳ phân tích và tình hình thực hiện, qua
đó phát hiện những điểm chưa đạt được, những chỉ tiêu chưa hợp lý để từ đó điều
chỉnh cho phù hợp.
- Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định: để ra một quyết định cần có những
thông tin thật cụ thể, thật chi tiết, thật đầy đủ, thật kịp thời không chỉ trong quá khứ
mà còn cả ở hiện tại và tương lai. Những thông tin này phần lớn được cung cấp từ kế
toán quản trị.
SVTH: Phan Thị Thu Thuỷ - Lớp 24KT5 Trang -3-
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thượng Bích La
II. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, CHỨC NĂNG, CHU TRÌNH VÀ YÊU
CẦU QUẢN LÝ VỀ HÀNG TỒN KHO.
1. Khái niệm hàng tồn kho trong doanh nghiệp thương mại
Hàng tồn kho là những tài sản:
- Được giữ để bán trong kỳ sản xuất kinh doanh bình thường;
- Đang trong quá trình sản xuất, kinh doanh dở dang;
- Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh
doanh hoặc cung cấp dịch vụ.
Hàng tồn kho bao gồm:
- Hàng hóa mua về để bán: hàng hóa tồn kho, hàng mua đang đi đường, hàng gửi
đi bán, hàng hóa gửi đi gia công chế biến;
- Thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi đi bán;
- Sản phẩm dở dang: Sản phẩm chưa hoàn thành và sản phẩm hoàn thành chưa

hàng hóa diễn ra một cách thường xuyên, liên tục. Điều này có thể làm cho doanh
nghiệp mở rộng được thị trường tiêu thụ, uy tín của mình, mặt khác doanh nghiệp có
thể tìm được những nhà cung cấp hàng hóa có uy tín hơn về chất lượng, số lượng và
được đảm bảo với giá mua vào rẻ hơn.
3.2. Chức năng ổn định giá cả của hàng hóa trên thị trường
Khi một doanh nghiệp phân tích, đánh giá thị trường giá cả của hàng hóa cần
mua vào trong kỳ kế hoạch, nếu giá cả của hàng hóa mua vào trong kỳ kế hoạch tăng
so với giá của hàng hóa hiện nay thì doanh nghiệp cần phải mua hàng hóa dự trữ.
Đến kỳ kế hoạch nếu giá của hàng hóa đó tăng lên đúng như phân tích thì doanh
nghiệp bán hàng hóa đó ra thu được một khoản lợi nhuận lớn đồng thời khi đó doanh
nghiệp cũng góp phần ổn định giá cả của hàng hóa đó trên thị trường.
Như vậy tồn kho sẽ là một hoạt động đầu tư tốt, tuy vậy khi các doanh nghiệp
muốn dự trữ hàng hóa thì cần phải tiến hành xem xét đến các chi phí và rủi ro có thể
xảy ra trong quá trình tiến hành dự trữ hàng hóa như: hàng hóa bị lỗi thời, hư hỏng…
Ngoài ra đối với những hàng hóa có tính thời vụ cao thì các doanh nghiệp cần phải
tính toán thời gian nhập hàng về để dự trữ phục vụ cho thời vụ sao cho hợp lý để
giảm bớt các chi phí, tăng lợi nhuận.
3.3. Chức năng khấu trừ theo số lượng
Một chức năng khá quan trọng của quản trị hàng tồn kho là khấu trừ theo số
lượng. Trước đây và hiện nay có rất nhiều nhà cung ứng sẵn sàng chấp nhận khấu trừ
cho những đơn đặt hàng với số lượng lớn thì có thể đưa đến việc giảm chi phí sản
xuất. Tuy nhiên nếu doanh nghiệp mua hàng với số lượng lớn như vậy sẽ làm cho chi
phí tồn trữ của hàng hóa đó tăng lên cao và có thể sẽ bị rủi ro lớn. Do đó trong công
tác quản trị hàng tồn kho người ta phải xác định một lượng hàng hóa mua vào tối ưu
để hưởng được giá khấu trừ mà chi phí tồn trữ thấp.
SVTH: Phan Thị Thu Thuỷ - Lớp 24KT5 Trang -5-
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thượng Bích La
4. Chu trình hàng tồn kho trong doanh nghiệp thương mại
4.1. Mua hàng
Mỗi khi có nhu cầu mua hàng thì các bộ phận có liên quan sẽ soạn thảo phiếu đề

- Chứng từ vận chuyển
- Hoá đơn bán hàng
5. Yêu cầu quản lý về hàng tồn kho
SVTH: Phan Thị Thu Thuỷ - Lớp 24KT5 Trang -6-
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thượng Bích La
Tuỳ theo điều kiện quản lý và mức độ yêu cầu của những nhà quản lý ở từng
doanh nghiệp, yêu cầu quản lý hàng tồn kho ở mỗi doanh nghiệp cần phải đạt những
yêu cầu sau:
- Theo dõi cả số lượng và giá trị hàng tồn kho đầu kỳ, hàng nhập xuất, hàng tồn
cuối kỳ đối với từng mặt hàng hoặc từng lô hàng.
- Hàng tồn kho cần phải theo dõi cho từng kho hàng, từng nơi bảo quản, từng
người phụ vật chất (thủ kho, mậu dịch viên...).
- Cần theo dõi những thông tin về giá cả, tiến độ cung cấp, tình hình tôn trọng
định mức tồn kho, chất lượng hàng tồn kho... để cung cấp kịp thời cho người điều
hành quản lý kinh doanh chỉ đạo kịp thời để tránh tình trạng ứ đọng hoặc khan hiếm
hàng tồn kho, ảnh hưởng đến tình hình tài chính hoặc tiến độ sản xuất kinh doanh.
- Đảm bảo quan hệ đối chiếu phù hợp giữa hiện vật và giá trị, giữa số liệu chi tiết
và số liệu tổng hợp, giữa số liệu tồn kho và sổ sách kế toán.
- Ngoài ra doanh nghiệp có những biện pháp quản lý hàng tồn kho một cách chặt
chẽ, đặc biệt là có các hình thức báo động trường hợp thoát ly giới hạn trên và dưới
của hàng tồn kho theo thứ tự vật tư, hàng hoá, thành phẩm, công cụ dụng cụ... để kịp
thời điều chỉnh cho hợp lý.
III. NỘI DUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ HÀNG TỒN KHO
1. Kế toán cung cấp thông tin cho công tác quản lý hàng tồn kho
1.1. Tổ chức hạch toán chi tiết hàng tồn kho
Tùy thuộc vào điều kiện và yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp để
tổ chức kế toán chi tiết hàng tồn kho. Nhưng trước hết là phải xác định đối tượng và
tiêu thức cần theo dõi chi tiết hàng tồn kho như từng đơn vị (bộ phận) phụ thuộc,
từng kho hoặc từng quầy, từng mặt hàng, theo dõi cả số lượng và giá trị… Trên cơ sở
đó, kế toán thiết kế tổ chức chứng từ kế toán, tài khoản chi tiết, sổ chi tiết để hạch

Th kho ghi chộp s bin ng, nhp, xut, tn thỡ da trờn c s cỏc chng t
nhp xut kho (Phiu nhp kho, phiu xut kho). Th kho cú th thit k theo mu
sau:
TH KHO
Tờn hng:.Kho:...
Mó s:...
Quy cỏch:..
n v tớnh:...
S
T
Chng t Din
gii
Ngy
nhp,
S lng Ký xỏc
nhn ca
Sọỳ
hióỷu
Ngaỡy
thaùng
Nhỏỷ
p
Xuỏỳ
t
Tọử
n
... ... ..
.
..
.

kho do thủ kho giữ. Sau đó, kế toán căn cứ sổ kế toán chi tiết để lập bảng tổng hợp
nhập-xuất- tồn. Số liệu trên bảng nhập- xuất- tồn được đối chiếu với số liệu của kế
toán tổng hợp.
BẢNG TỔNG HỢP NHẬP, XUẤT, TỒN KHO VẬT LIỆU (HÀNG HÓA)
Quý…… Năm…....
Số danh
điểm vật tư
Tên vật
liệu
Tồn đầu
quý
Nhập
trong quý
Xuất trong
quý
Tồn cuối
quý
SL TT SL TT SL TT SL TT
1.2. Phương pháp hạch toán tổng hợp hàng tồn kho
Để hạch toán hàng tồn kho, kế toán có thể áp dụng hai phương pháp: phương
pháp kê khai thường xuyên và kiểm kê định kỳ. Việc sử dụng phương pháp nào phải
được nhất quán trong suốt kỳ kế toán.
1.2.1. Phương pháp kê khai thường xuyên
Là phương pháp theo dõi và phản ảnh thường xuyên, liên tục, có hệ thống tình
hình nhập- xuất- tồn vật tư hàng hóa trên sổ kế toán. Khi sử dụng phương pháp này
SVTH: Phan Thị Thu Thuỷ - Lớp 24KT5 Trang -9-
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thượng Bích La
thì tài khoản hàng tồn kho được dùng để phản ánh tình hình hiện có, tình hình biến
động tăng giảm của vật tư, hàng hóa, sản phẩm dở dang, thành phẩm của doanh
nghiệp. Vì vậy, giá trị vật tư (hàng hóa) tồn kho trên sổ kế toán có thể xác định được

với mẫu mã rất khác nhau, có giá trị thấp. Để áp dụng phương pháp này đòi hỏi phải
tăng cường quản lý vật tư, hàng hóa tại kho bãi.
1.3. Phương pháp tính giá hàng tồn kho
Tính giá hàng tồn kho là dùng tiền để biểu thị giá trị của tồn kho theo những
nguyên tắc nhất định. Một trong những nguyên tắc cơ bản của hạch toán tồn kho là
phải ghi sổ vật liệu, hàng hóa theo giá gốc, bao gồm: chi phí thu mua, chi phí chế
biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa
điểm và trạng thái hiện tại.
1.3.1. Tính giá hàng nhập kho
SVTH: Phan Thị Thu Thuỷ - Lớp 24KT5 Trang -10-
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thượng Bích La
Giá gốc của vật tư,
hàng hóa
=
Chi phí
mua
+
Các chi phí liên quan trực tiếp
khác phát sinh để có được vật tư,
hàng hoá ở địa điểm và trạng thái
hiện tại
* Trong đó:
Chi phí mua bao gồm: giá mua, các loại thuế không được hoàn lại, chi phí vận
chuyển, bốc xếp, bảo quản trong quá trình mua hàng và các loại chi phí khác có liên
quan trực tiếp đến hàng mua. Các khoản chiết khấu thương mại và giảm giá hàng
mua không đúng quy cách, phẩm chất được trừ khỏi chi phí mua.
Các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được vật tư, hàng hóa ở địa
điểm và trạng thái hiện tại bao gồm chi phí thu mua và các khoản thuế không được
hoàn lại.
1.3.2. Tính giá hàng xuất kho

tốn kém công sức tính toán. Công thức tính giá đơn vị bình quân như sau:
Giá đơn vị bình
quân sau mỗi
lần nhập
=
Giá thực tế hàng tồn trước lần nhập N và nhập lần N
Số lượng hàng tồn trước lần nhập N và nhập lần N
SVTH: Phan Thị Thu Thuỷ - Lớp 24KT5 Trang -11-
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thượng Bích La
b. Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO)
Phương pháp này giả định vật tư, hàng hóa nhập trước sẽ được xuất dùng trước.
Trên cơ sở đó phải tính theo giá của vật tư, hàng hóa nhập vào trước cho đến hết mới
tính theo giá của vật tư, hàng hóa nhập vào sau.
c. Phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO)
Phương pháp này giả định vật tư, hàng hóa nhập sau sẽ được xuất dùng trước.
Trên cơ sở đó phải tính theo giá của vật tư, hàng hóa nhập vào sau cho đến hết mới
tính theo giá của vật tư, hàng hóa nhập vào trước đó.
d. Phương pháp thực tế đích danh
Với phương pháp này đòi hỏi kế toán phải có đầy đủ hồ sơ cho từng lần nhập,
từng loại vật tư, hàng hóa thì mới có thể xác định được. Giá vật tư, hàng hóa sẽ được
tính đúng với thực tế từng loại vật tư, hàng hóa khi nhập.
Mỗi phương pháp tính giá xuất kho đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất
định. Tùy thuộc vào điều kiện, đặc điểm hàng tồn kho của từng doanh nghiệp, mà
doanh nghiệp đó lựa chọn phương pháp tính giá xuất kho cho hợp lý. Việc sử dụng
phương pháp nào cũng phải bảo đảm tính nhất quán trong niên độ kế toán.
Hàng tồn kho thường xuyên biến động do nhập vào xuất ra hằng ngày. Do đó để
tính được giá thực tế của tồn kho hằng ngày là một vấn đề đôi khi khá phức tạp (có
khi vật tư, hàng hóa về nhưng hóa đơn chưa về, chi phí thu mua chưa tập hợp được
và chi phí này lại liên quan đến nhiều loại vật tư, hàng hóa…). Để đơn giản cho việc
tính toán hằng ngày, các doanh nghiệp có thể sử dụng một loại giá có tính chất ổn

trong kỳ
Hệ số chênh lệch này có thể được tính cho từng thứ vật liệu hoặc từng nhóm
vật liệu tùy thuộc vào yêu cầu quản lý.
2. Dự toán hàng tồn kho
Nếu kế toán tài chính phản ánh, ghi chép những nghiệp vụ, sự kiện kinh tế xảy
ra trong quá khứ thì kế toán quản trị không chỉ vậy mà còn tiến đến việc thu thập,
cung cấp những thông tin phục vụ cho việc ra các quyết định của nhà quản lý và chủ
yếu là định hướng cho tương lai. Điều này được thể hiện qua việc kế toán quản trị
thiết lập các dự toán cũng như các báo cáo để nhà quản lý thấy được những gì đã,
đang và sẽ diễn ra trong hoạt động của doanh nghiệp.
Dự toán sản xuất kinh doanh có một ý nghĩa quan trọng đối với một doanh
nghiệp trong việc thực hiện các mục tiêu tài chính và hoạt động của mình. Thông qua
dự toán, các doanh nghiệp sẽ lượng hóa các mục tiêu đó nhằm đề ra những kế hoạch
hoạt động cụ thể.
Dự toán hàng tồn kho là một bộ phận của hệ thống dự toán sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Nó hướng đến dự kiến mức tồn kho cuối kỳ và lập dự toán
mua hàng. Dự toán tồn kho giúp doanh nghiệp dự kiến được trước nhu cầu về vốn,
giá trị vốn nằm trong tồn kho để có phương án huy động, sử dụng vốn hiệu quả.
Dự toán tồn kho bao gồm: dự toán hàng hóa và dự toán nguyên vật liệu.
2.1. Dự toán hàng hóa
2.1.1. Dự toán hàng hóa tồn kho cuối kỳ
Dự toán hàng hóa tồn kho cuối kỳ được lập nhằm đảm bảo một lượng hàng
hóa dự trữ cuối kỳ tối thiểu, vừa đủ cho nhu cầu tiêu thụ của kỳ sau. Đồng thời việc
xác định lượng hàng tồn kho hợp lý cũng có ý nghĩa đối với việc luân chuyển vốn,
không gây tình trạng ứ đọng vốn.
Lượng hàng hóa tồn kho cuối kỳ thường được xác định như sau:
Lượng hàng hoá tồn kho
cuối kỳ
= Nhu cầu hàng hoá dự
kiến tiêu thụ kỳ sau

Khi đã xác định được lượng hàng hóa tồn cuối kỳ, giá trị tồn kho cuối kỳ được
tính bằng tích số giữa lượng hàng hóa tồn cuối kỳ và định mức đơn giá.
Dự toán hàng hóa tồn kho cuối kỳ được thể hiện qua bảng sau:
DỰ TOÁN HÀNG HÓA CUỐI KỲ
Chỉ tiêu Quý
I II III IV
1. Khối lượng tiêu thụ dự kiến
2. Dự kiến hàng hoá tồn kho cuối kỳ = (1) * X % (tỷ
lệ tồn kho ước tính)
3. Định mức đơn giá mua
4. Dự kiến giá trị hàng hoá tồn cuối kỳ = (2)*(3)
2.1.2. Dự toán hàng hóa mua vào
SVTH: Phan Thị Thu Thuỷ - Lớp 24KT5 Trang -14-
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thượng Bích La
Sau khi xác định lượng tồn kho cuối kỳ, ta tiến hành lập dự toán hàng hóa mua
vào. Dự toán hàng hóa mua vào là kế hoạch mua hàng trong kỳ. Nó dự tính số lượng
và giá trị từng mặt hàng cần phải mua vào nhằm đảm bảo đáp ứng nhu cầu tiêu thụ
dự kiến trong kỳ. Dự toán này được lập căn cứ vào nhu cầu tiêu thụ, tồn kho cuối kỳ
dự kiến, tồn kho đầu kỳ và định mức đơn giá.
Lượng hàng hoá cần
mua vào =
Lượng hàng
tiêu thụ dự
kiến
+
Lượng hàng
tồn kho cuối
kỳ dự kiến
-
Lượng

2.2. Dự toán nguyên vật liệu (NVL)
Dự toán nguyên vật liệu là dự toán nhằm xác định lượng nguyên vật liệu tồn kho
cuối kỳ và cần mua vào để phục vụ cho kế hoạch sản xuất.
Nếu thành phẩm, hàng hoá thuộc loại tồn kho độc lập- phục vụ cho nhu cầu tiêu
thụ bên ngoài thì nguyên vật liệu thuộc loại tồn kho phụ thuộc- dùng để đáp ứng nhu
cầu sản xuất bên trong của doanh nghiệp. Do đó, một khi nhu cầu tiêu thụ, nhu cầu
sản xuất đã được xác định thì nhu cầu nguyên vật liệu được dự đoán khá chính xác
theo một định mức hoặc một tỷ lệ nhất định so với số sản phẩm cần sản xuất.
2.2.1. Dự toán nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ
Lượng vật liệu tồn cuối kỳ được xác định như sau:
Lượng NVL tồn cuối
kỳ dự kiến
=
Lượng NVL cần cho
sản xuất kỳ sau
*
Tỷ lệ tồn kho ước
tính
Giá trị NVL tồn cuối kỳ
dự kiến
=
Lượng NVL tồn
cuối kỳ dự kiến
*
Đơn giá định
mức
* Trong đó:
+ Tỷ lệ tồn kho ước tính: tỷ lệ này được xác định tương tự như của tồn kho hàng hoá
cuối kỳ. Nó cũng được các nhà quản trị tính toán để đưa ra tỷ lệ hợp lý trên cơ sở thống nhất
các mục tiêu của bộ phận sản xuất, tiêu thụ và bộ phận tài chính.

kiến
-
Lượng NVL
tồn đầu kỳ
Giá trị NVL mua vào = Lượng NVL cần mua vào * Đơn giá định mức
Dự toán NVL mua vào có thể được lập như sau:
DỰ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU MUA VÀO
Chỉ tiêu Quý
I II III IV
1. Khối lượng sản phẩm sản xuất dự kiến
2. Lượng NVL cần cho sản xuất= (1) * định mức NVL
3. Lượng NVL tồn kho cuối kỳ dự kiến
4. Lượng NVL tồn kho đầu kỳ
5. Lượng NVL cần mua vào
6. Đơn giá mua vào
7. Dự kiến giá trị NVL mua vào

Có thể thấy khi lập dự toán nguyên vật liệu, hai vấn đề được quan tâm đó là xây
dựng định mức vật liệu tiêu hao cho một đơn vị sản phẩm và định mức về giá.
+ Định mức vật liệu tiêu hao cho một sản phẩm là dự kiến số lượng vật liệu tiêu
hao trực tiếp dùng để tạo ra một đơn vị sản phẩm, có tính đến định mức hao hụt, định
mức sản phẩm hỏng theo tỷ lệ cho phép. Việc xây dựng định mức vật liệu nhằm quản lý
chi phí sản xuất, khuyến khích tiết kiệm và cải tiến kỹ thuật ở các phân xưởng.
+ Định mức về giá là dự kiến đơn giá mua của vật liệu. Nó được xây dựng căn
cứ vào việc khảo sát thị trường, nguồn hàng cung cấp, phương thức mua hàng... từ
đó, dự tính đơn giá mua thực tế, chi phí vận chuyển, bốc dỡ. Nếu trong quá trình mua
hàng dự tính có chiết khấu thì sẽ trừ khỏi giá mua. Định mức về giá áp dụng cho cả
dự toán vật liệu và hàng hoá.
Đặc điểm chung của các dự toán hàng tồn kho nói trên là dự đoán lượng thành
phẩm, hàng hoá, nguyên vât liệu tồn kho cuối kỳ, cũng như xác định lượng thành

Kho quản lý: ................
Quý .... Năm .....
ST
T
Mặt hàng ĐVT Mã
số
Tồn ĐK Nhập Xuất Tồn
SL ĐG SL ĐG SL ĐG SL ĐG
1. Hàng A
Dựa vào báo cáo nhập-xuất-tồn và dự toán mua hàng, dự toán tồn kho cuối kỳ
cùng các tài liệu liên quan khác, kế toán quản trị có thể tiến hành phân tích tình hình
hàng tồn kho của từng đối tượng (nguyên vật liệu, thành phẩm, hàng hoá...) theo các
chỉ tiêu nhập, xuất, tồn kho, về các thông tin khả năng đáp ứng nhu cầu, tiến độ nhập
hàng, định mức tồn kho, giá cả...
SVTH: Phan Thị Thu Thuỷ - Lớp 24KT5 Trang -18-
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thượng Bích La
Bên cạnh báo cáo nhập-xuất-tồn, tuỳ theo đặc điểm của từng doanh nghiệp, yêu
cầu của nhà quản lý mà các báo cáo phục vụ cho quá trình kiểm soát có thể có các
báo cáo như: báo cáo xuất nội bộ, báo cáo tổng hợp hàng hoá, báo cáo hàng xuất trả...
3.2. Các báo cáo phục vụ cho việc đánh giá
Loại báo cáo này thường được trình bày dưới hình thức so sánh giữa số liệu cần
đánh giá với số liệu gốc (kỳ trước, số kế hoạch... ). Từ đó, nhà quản trị có thể đưa ra
kết luận đánh giá về tình hình thực hiện trong kỳ. Liên quan đến hàng tồn kho,
thường có các báo cáo như: Tình hình dự trữ hàng hoá cuối kỳ, tốc độ lưu chuyển
hàng tồn kho, tính kịp thời của việc cung ứng hàng hoá, vật liệu...
3.3. Các báo cáo phục vụ cho việc ra các quyết định
Quá trình ra quyết định của nhà quản trị là việc lựa chọn từ nhiều phương án kinh
doanh khác nhau, trong đó mỗi phương án được xem xét bao gồm rất nhiều thông tin
của kế toán.
Để có thông tin cho việc ra quyết định, kế toán quản trị sử dụng các phương pháp

- Chi phí lưu trữ và chi phí bảo quản bao gồm trong đó có chi phí kho hàng. Nếu
như một doanh nghiệp thuê kho thì chi phí này bằng với chi phí tiền thuê kho phải
trả, nếu nhà kho thuộc sở hữu của doanh nghiệp thì chi phí này bằng với chi phí cơ
hội sử dụng kho này. Chi phí tồn trữ còn bao gồm tiền lương trả cho nhân viên coi
kho và nhân viên điều hành.
- Hàng tồn kho có giá trị khi nó còn có thể bán được. Chi phí lỗi thời thể hiện sự
giảm sút giá trị hàng tồn kho do tiến bộ khoa học kỹ thuật hay thay đổi kiểu dáng.
- Chi phí hư hỏng thể hiện sự giảm giá trị của hàng tồn kho do tác nhân lý hoá như
là chất lượng hàng hoá bị biến đổi hoặc bị gãy vỡ.
- Chi phí bảo hiểm trước các hiểm hoạ như mất cắp, hoả hoạn và các hiểm hoạ tự
nhiên khác.
3. Chi phí thiệt hại do hàng tồn kho hết
- Chi phí thiệt hại do hàng tồn kho hết sẽ xảy ra khi doanh ngiệp không có khả năng
giao hàng vì nhu cầu lớn hơn số lượng hàng sẵn có trong kho. Khi hàng tồn kho hết
thì chi phí thiệt hại bao gồm chi phí đặt hàng khẩn cấp và chi phí thiệt hại do không
có hàng bán.
- Khi hàng tồn kho hết thì sẽ dẫn đến hậu quả là lợi nhuận bị mất trong ngắn hạn vì
khách hàng quyết định mua sản phẩm của các doanh nghiệp khác đồng thời cũng gây
nên những mất mát tiềm năng trong dài hạn khi khách hàng quyết định đặt hàng từ
những doanh nghiệp khác trong tương lai vì doanh nghiệp không phục vụ khách hàng
một cách liên tục.
SVTH: Phan Thị Thu Thuỷ - Lớp 24KT5 Trang -20-
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thượng Bích La
PHẦN II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN
TRỊ HÀNG TỒN KHO TẠI XÍ NGHIỆP KINH
DOANH TỔNG HỢP - CÔNG TY CỔ PHẦN
VẬN TẢI BIỂN ĐÀ NẴNG
SVTH: Phan Thị Thu Thuỷ - Lớp 24KT5 Trang -21-
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thượng Bích La

thể nhân viên đoàn kết nhất trí trong tất cả các hoạt động, XN luôn hoàn thành các
chỉ tiêu kinh doanh mà công ty giao phó.
XN KDTH là đơn vị trực thuộc công ty Cổ phần Vận tải biển Đà Nẵng, kinh
doanh độc lập và nộp phí quản lý cho công ty, có con dấu riêng, có tư cách pháp
nhân, có tài khoản riêng tại ngân hàng.
II. TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ TẠI XÍ NGHIỆP
1. Tổ chức bộ máy quản lý tại XN
Để điều hành công việc hoạt động sản xuất kinh doanh của XN một cách hiệu
quả thì phải xây dựng bộ máy quản lý để điều hành đơn vị hoạt động, việc hoạt động
kinh doanh có hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn đến khâu quản lý. Do đó các nhà
quản lý phải nâng cao năng lực quản lý của mình. Cơ cấu tổ chức của đơn vị dựa trên
cơ sở phù hợp với đặc điểm kinh doanh hoạt động cũng như quy mô hoạt động sao
cho đảm bảo hệ thống xuyên suốt từ trên xuống dưới trong việc ban hành triển khai
cũng như giám sát thực hiện các quyết định trong xí nghiệp.
* Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý tại XN KDTH:
Ghi chú: Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
2. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận
SVTH: Phan Thị Thu Thuỷ - Lớp 24KT5 Trang -23-
Giám đốc
Bộ phận kinh
doanh
Bộ phận bán hàng
Bộ phận kế toán
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thượng Bích La
- Giám đốc: Là người chịu trách nhiệm chung, là người trực tiếp chỉ đạo, quản
lý, điều hành và chịu trách nhiệm chỉ huy toàn bộ hoạt động của Xí nghiệp. Ngoài ra
giám đốc còn là người đề ra mục tiêu, kế hoạch kinh doanh và phát triển của Xí
nghiệp.
- Bộ phận kinh doanh: có nhiệm vụ tham mưu cho lãnh đạo đơn vị trong việc

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thượng Bích La
nhiều chức năng nhưng bộ máy kế toán lại được tổ chức rất gọn nhẹ, chỉ gồm 4
người: 01 kế toán tổng hợp, 01 kế toán công nợ, 01 kế toán tiền mặt và 01 thủ quỹ.
* Sơ đồ bộ máy kế toán của Xí nghiệp:
* Ghi chú: Quan hệ chỉ đạo
Quan hệ nghiệp vụ
2. Chức năng, nhiệm vụ của các thành viên
- Kế toán tổng hợp: có trách nhiệm phụ trách chung mọi hoạt động của bộ
phận kế toán, tham mưu cho ban giám đốc các vấn đề quan trọng của quá trình sản
xuất kinh doanh. Định kỳ kế toán tổng hợp phải lập các báo cáo tài chính, tổng hợp
thông tin phục vụ Giám đốc và các đối tượng có nhu cầu thông tin về tình hình tài
chính của Xí nghiệp.
- Kế toán công nợ: tập hợp các hóa đơn, chứng từ ghi vào sổ sách, theo dõi các
khoản công nợ của Xí nghiệp. Định kỳ cung cấp thông tin cho kế toán trưởng.
- Kế toán tiền mặt: theo dõi sự biến động về các luồng tiền trong Xí nghiệp,
tập hợp chứng từ về việc tiêu thụ, ghi chép và báo cáo định kỳ.
- Thủ quỹ: có nhiệm vụ quản lý lượng tiền mặt có tại két của Xí nghiệp, thu
ngân, kiểm tra lượng tiền vào ra của Xí nghiệp.
3. Hình thức kế toán áp dụng tại Xí nghiệp
- Niên độ kế toán: niên độ kế toán của xí nghiệp bắt đầu từ 01/01 và kết thúc vào
ngày 31/12 hàng năm.
- Kỳ kế toán: Quý
- Đơn vị tiền tệ: VNĐ
Hình thức sổ kế toán áp dụng: Để phù hợp với quy trình tổ chức của Xí nghiệp
cũng như biên chế của phòng kế toán, phòng kế toán đã áp dụng hình thức kế toán “
chứng từ ghi sổ”. Với hình thức kế toán này kế toán dễ ghi chép, đối chiếu, kiểm tra
chính xác các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
SVTH: Phan Thị Thu Thuỷ - Lớp 24KT5 Trang -25-
Kế toán tổng hợp
Kế toán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status