Chính sách tỷ giá hối đoái của việt nam trong 5 năm trở lại đây - Pdf 14

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC
  BÀI TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong 5 năm trở lại đây

Giảng viên: TS. Mai Thu Hiền
Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Bắc
Trịnh Thanh Hòa
Nguyễn Thị Kim Liên
Hoàng Thị Hằng Nga
Nguyễn Thị M inh Phương
Đào Thị Trọng
Nguyễn Thị Bích Vân
Lớp: 19A – CH TCNH
Hà Nội, tháng 10 năm 2013
MỤC LỤC
CHƯƠNG I 2
LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TỶ GIÁ VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ 2
1. Tỷ giá và chính sách tỷ giá 2
1.1. Khái niệm về tỷ giá 2
1.2. Phân loại 2
1.2.1 Theo tính chất thực tế 2

1.5.2.3. Tỷ giá hối đoái với thực trạng một đồng tiền mạnh hay yếu: 13
1.5.3. Công cụ của chính sách tỷ giá 14
1.5.3.1. Nhóm công cụ tác động trực tiếp lên tỷ giá 14
(1) Thị trường ngoại hối 14
(2) Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) 15
(3) Các biện pháp kết hối 16
(4) Một số quy định khác 16
1.5.3.2. Nhóm công cụ tác động gián tiếp lên tỷ giá 16
(1) Lãi suất tái chiết khấu 16
(2) Thuế quan 17
(3) Hạn ngạch 17
(4) Giá cả 17
(5) Tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ với các NHTM 17
(6) Quy định trạng thái ngoại tệ đối với các NHTM 17
CHƯƠNG II 19
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ TẠI VIỆT NAM 19
2. Biến động tỷ giá trong 5 năm gần đây 19
2.1. Chính sách tỷ giá Việt Nam năm 2009 21
2.1.1. Tình hình kinh tế xã hội 21
2.1.2. Diễn biến tỷ giá năm 2009 22
2.1.3. Các công cụ của chính sách tỷ giá năm 2009 23
2.1.3.1. Công cụ Trực tiếp 23
2.1.3.2. Công cụ gián tiếp 24
2.1.4. Đánh giá chung về hoạt động điều hành tỷ giá 2009: 27
2.2. Chính sách tỷ giá Việt Nam năm 2010 - 2011: 27
2.2.1. Tình hình kinh tế xã hội năm 2010 – 2011 27
2.2.2. Diễn biến tỷ giá năm 2010 – 2011 29
2.2.3. Các công cụ của chính sách tỷ giá năm 2010 - 2011 34
2.2.3.1. Công cụ Trực tiếp 34
2.2.3.2. Công cụ gián tiếp 36

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT NHTW

Ngân hàng trung ương

NHTM Ngân hàng thương mại
TGBQLNH

T


giá bình quân liên ngân hàng

TGHĐ

T


giá h

i đoái

XNK

Xu

t nh


trong thời gian gần đây. Chính vì vậy, nhóm em chọn đề tài nghiên cứu là : “Chính
sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong 5 năm trở lại đây” 2
CHƯƠNG I
LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TỶ GIÁ VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ
1. Tỷ giá và chính sách tỷ giá
1.1. Khái niệm về tỷ giá
Khối lượng thương mại quốc tế không ngừng tăng lên qua các năm làm cho
các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc lẫn nhau. Trong xu hướng toàn cầu hoá dần
xoá nhoà các đường biên giới quốc gia và làm cho các dòng tư bản lưu chuyển linh
hoạt hơn. Trong quá trình đó , mỗi quốc gia đều cố gắng đưa đồng nội tệ có thể
chuyển đổi và tìm kiếm một chính sách tỷ giá thích hợp.
Vậy tỷ giá bắt đầu xuất hiện khi có thương mại quốc tế. Nó là mức giá giữa
hai nước mà tại đó họ trao đổi với nhau
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tỷ giá tùy các cách tiếp cận. Dưới đây là
định nghĩa phổ biến nhất: tỷ giá là số đơn vị đồng tiền định giá trên một đơn vị
đồng tiền yết giá; đối với một quốc gia cụ thể thì tỷ giá là số đơn vị đồng nội tệ trên
một đơn vị ngoại tệ, nghĩa là đồng ngoại tệ đóng vai trò là đồng tiền yết giá còn
đồng nội tệ đóng vai trò là đồng tiền định giá. (Theo PGS.TS Nguyễn Văn Tiến-
gtrình Tài chính Quốc tế)
1.2. Phân loại
1.2.1 Theo tính chất thực tế
a) Tỷ giá danh nghĩa
-
Tỷ giá danh nghĩa song phương (Bilateral nominal exchange rate): là giá
cả hàng hóa của một đồng tiền được biểu thị thông qua một đồng tiền khác mà chưa
đề cập đến sức mua hàng hóa dịch vụ giữa chúng. Khi tỷ giá tăng, một đồng tiền yết
giá sẽ đổi được nhiều đồng tiền định giá hơn nên đồng tiền yết giá gọi là tăng giá và

r
=E *P
*
/P
Trong đó:
e
r :
là tỷ giá thực
E: là tỷ giá danh nghĩa
P
*
: mức giá cả ở nước ngoài bằng ngoại tệ
P: mức giá cả trong nước bằng nội tệ
Thực chất: tỷ giá thực thể hiện sự so sánh mức hàng hóa trong nước và ngướic
ngoài khi cả 2 đều tính bằng nội tệ.
-
Tỷ giá thực đa phương (real effective exchange rate- REER)
Là tỷ giá danh nghĩa đa phương đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong
nước với tất cả các nước còn lại. Do đó, nó phản ánh tương quan giữa nội tệ với tất
cả các đồng tiền còn lại.
1.2.2 Theo cơ chế điều hành
a) Tỷ giá chính thức:
Là tỷ giá do NHTW công bố, nó phản ánh chính thức về giá trị đối ngoại của
đồng nội tệ. Tỷ giá chính thức được dùng để tính thuế XNK và một số hoạt động
khác nữa liên quan. Ngoài ra, ở Việt Nam tỷ giá chính thức (tỷ giá bình quân liên

4
ngân hàng) còn là cơ sở để các NHTM xác định tỷ giá kinh doanh trong biên độ cho
phép.
b) Tỷ giá chợ đen:

hưởng đến cả cung và cầu ngoại tệ theo hướng tăng giá ngoại tệ, tác động cộng gộp
làm cho tỷ giá hối đoái tăng nhanh hơn. Trên thị trưòng tiền tệ, lạm phát làm đồng
tiền mất giá, người dân sẽ chuyển sang nắm giữ các tài sản nước ngoài nhiều hơn,
cầu ngoại tệ gia tăng đẩy tỷ giá hối đoái tăng. Trong trường hợp các quốc gia đều có
lạm phát thì những tác động trên sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát tương đối giữa các
quốc gia. Quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát cao hơn, đồng nội tệ quốc gia đó sẽ mất giá
một cách tương đối và tỷ giá hối đoái tăng.
b) Giá thế giới của hàng hóa xuất nhập khẩu:
Giá thế giới của hàng hóa xuất khẩu tăng hoặc giá thế giới của hàng hóa nhập
khẩu giảm đều có tác động thúc đẩy xuất khẩu hạn chế nhập khẩu, tác động tích cực
đến cán cân thương mại, khiến cho tỷ giá giảm và làm đồng nội tệ lên giá. Và ngược
lại.
c) Thu nhập thực của người cư trú và người không cư trú:
Nếu thu nhập thực của người cư trú tăng tương đối so với người không cư trú
thì kích thích tăng nhập khẩu ròng, làm tăng cầu ngoại tệ khiến tỷ giá tăng, tức nội
tệ giảm gia. Và ngược lại.
d) Thuế quan và hạn ngạch trong nước hay nước ngoài:
Nếu một quốc gia làm tăng mức thuế quan hoặc áp dụng hạn ngạch đối với
hàng nhập khẩu có tác dụng làm giảm cầu ngoại tệ, khiến tỷ giá giảm, tức nội tệ
tăng giá. Và ngược lại. Các chính sách liên quan đến thuế quan và hạn ngạch của
nhà nước là những yếu tố phải hoạch định trong dài hạn, không thể dễ dàng thay đổi
do đó nó có tác động dài hạn đến nền kinh tế.
e) Năng suất lao động:
Nếu năng suất lao động của một nước tăng nhanh hơn nước khác sẽ làm cho
mức giá cả hàng hóa của nước này có xu hướng giảm có tác dụng làm cho đồng tiền
nước này lên giá.
f) Tâm lí:
Tâm lí sẽ ảnh hưởng đến thói quen tiêu dùng của người dân và đó là yếu tố
khó thay đổi trong thời gian ngắn. Nếu người dân của một nước mà ưa thích dùng



7
Ngày nay, thế giới đang sống trong một môi trường đầy biến động về kinh tế,
chính trị và xã hội, thiên tai Mỗi cú sốc diễn ra, nó ngay lập tức tác động đến tỷ
giá. Các cú sốc xuất hiện với tần suất càng lớn thì tỷ giá biến động càng nhanh và
mạnh. Có thể thấy, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho một loạt đồng
tiền của các nước mất giá, thậm chí chỉ cần một tin đồn hay một cuộc bạo lực hay
biểu tình ở một quốc gia nào đó ngay lập tức có những cú sốc tác động đến tỷ giá.
Hay khi giá vàng tăng, các doanh nghiệp sẽ gom USD để mua vàng khiến cho USD
tăng giá mạnh, gây sức ép rất lớn lên tỷ giá.
b) Sự can thiệp của ngân hàng trung ương trên Forex
Khi ngân hàng trung ương mua ngoại tệ trên Forex làm tăng cầu ngoại tệ trên
Forex, khiến cho tỷ giá tăng và ngược lại khi ngân hàng trung ương bán ngoại tệ
làm cho tỷ giá giảm. Đây được coi là một công cụ hữu hiệu giúp ngân hàng trung
ương có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối một cách hiệu quả nhanh nhất để
điều chỉnh tỷ giá theo các mục tiêu của mình.
1.4. Vai trò của tỷ giá hối đoái đối với nền kinh tế
1.4.1. Tỷ giá hối đoái có tác động tới cán cân thương mại quốc
Khi tỷ giá tăng, hạ giá đồng nội tệ, kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu,
làm thặng dư cán cân thương mại, tăng ngoại tệ chảy vào trong nước làm giảm áp
lực tỷ giá. Khi tỷ giá giảm thì ngược lại sẽ làm tăng giá đồng nội tệ, hạn chế xuất
khẩu, giảm lượng ngoại tệ chảy vào trong nước, thâm hụt cán cân thương mại. Mà
cán cân thương mại là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành cán cân vãng
lai và cán cân thanh toán quốc tế. Việc thâm hụt hay thặng dư cán cân thanh toán
quốc tế sẽ có ảnh hưởng lớn đến các yếu tố kinh tế vĩ mô, tác dụng thúc đẩy hoặc
hạn chế tăng trưởng kinh tế.
1.4.2. Tỷ giá hối đoái tác động tới lạm phát
Tỷ giá tác động tới lạm phát thông qua hai con đường. Thứ nhất là hàng hóa
xuất khẩu và hàng tiêu dùng trong nước. Sự phá giá đồng nội tệ có thể làm gia tăng
giá của hàng xuất khẩu hay hàng tiêu dùng trong nước có đầu vào nhập khẩu. Điều

hạn nhất định. Chính sách tỷ giá cần hướng tới sự tự chủ trong hoạch định, đấu
tranh với hiện tượng đầu cơ tích trữ, nâng cao uy tín nội tệ. Việc can thiệp dẫn đến
những biến động tỷ giá trên thị trường còn tùy thuộc vào tầm nhìn, đánh giá của các

9
nhà điều hành chính sách khi đánh giá các biến số, các mục tiêu của nền kinh tế.
Khi sử dụng công cụ tỷ giá trong quản lý vĩ mô, các nhà hoạch định chính sách các
nước đều phải xem xét hai vấn đề khi quyết định cơ chế điều hành tỷ giá: ổn định,
điều chỉnh từng bước hay phá giá, đó là xem xét tác động chính sách tỷ giá trên hai
khía cạnh vĩ mô và vi mô. Xét về khía cạnh vĩ mô, một chính sách tỷ giá cần phải
được nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc thiết lập một cái neo rõ ràng và đáng
tin cậy nhằm ổn định mức giá trong nước và ổn định thị trường tài chính. Về khía
cạnh vi mô, chính sách tỷ giá cần phải được nhấn mạnh tầm quan trọng của việc
duy trì khả năng cạnh tranh quốc tế, gắn với các biến số về tăng trưởng kinh tế.
Tóm lại: Tùy mỗi quốc gia mà mục tiêu của chính sách tỷ giá có thể khác nhau
nhưng phải phù hợp với mục tiêu của chính sách kinh tế nói chung, thông thường,
mục tiêu này bao gồm: ổn định giá cả; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công ăn việc
làm; cân bằng cán cân vãng lai.
1.5.2. Chế độ tỷ giá
Về mặt thuật ngữ, chế độ tỷ giá còn có các tên gọi khác nhau như: cơ chế tỷ
giá, cấu trúc tỷ giá. Việc lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái và ảnh hưởng của nó lên
hoạt động của nền kinh tế chắc chắn là một trong những đề tài gây nhiều tranh cãi
trong chính sách kinh tế vĩ mô. Có hai quan điểm đối nghịch nhau như sau:
Một số nhà nghiên cứu cho rằng không có sự liên hệ giữa việc chọn lựa tỷ giá
hối đoái và hoạt động của nền kinh tế. Chẳng hạn công trình nghiên cứu của Baxter
và Stockman(1989), Flood và Rose (1995) và Gosh et al (1997), kết luận của họ cho
thấy việc lựa chọn tỷ giá ảnh hưởng tương đối nhỏ đến hoạt động của nền kinh tế.
Tuy nhiên, những nghiên cứu này dựa trên phân loại chính thức tỷ giá hối đoái của
IM F (de jure classification), nên được đánh giá là chưa chuẩn xác bởi vì sự khác
nhau giữa lời nói và hành vi. Do đó, kết quả có thể thay đổi nếu sử dụng cách phân

nó không giúp đạt được mức lạm phát thấp hoặc tăng trưởng cao một cách rõ ràng.
Trong khi đó, tỷ giá linh hoạt hoàn toàn cũng không thể áp dụng ở các nước này, do
lo ngại rằng dao động lớn trong tỷ giá hối đoái có thể gây ra thiệt hại cho nền kinh
tế. Ở các nước phát triển, thả nổi hoàn toàn sẽ cho mức phát triển nhanh hơn các
loại tỷ giá khác mà không phải chịu lạm phát cao. Mặc dù, giá trị của tỷ giá hối đoái
linh hoạt gia tăng với sự trưởng thành về tài chính, thì ưu thế của bất kỳ loại tỷ giá
nào cũng sẽ được tăng cường bởi quản lý kinh tế vĩ mô nhất quán của các quốc gia. 11

Bảng 1.1: Tỷ giá hối đoái tác động đến hoạt động của nền kinh tế
T
ỷ gi
á
hối đoái
L
ạm phát

Phát tri
ển

Tính
không ổn
định
Kh
ủng hoảng

Cố định Làm tăng niềm tin
vào chính sách tiền

các dòng vốn
không ổn định.
Làm tăng nguy
cơ khủng hoảng
trong bộ phận
ngân hàng.
Thả nổi Làm giảm nhập
khẩu, làm tăng sự
trưởng thành của bộ
phận tài chính và thể
chế
Làm tăng tốc độ
phát triển do hấp
thụ được các cú
sốc và ít bị chệch
hướng bởi các cú
sốc.
Làm tăng
tính bất ổn
của tỷ giá
hối đoái
thực.
Làm giảm rủi ro
về tiền tệ và
ngân hàng.
Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết: Nằm giữa hai thái cực trên. Quan điểm của
các nhà kinh tế trường phái chính hiện đại coi trọng cả vai trò kinh tế của Chính phủ
và quy luật “bàn tay vô hình”. Tỷ giá được hình thành trên cơ sở thị trường theo
quy luật cung cầu, cơ quan điều hành chính sách tiền tệ chỉ tác động lên tỷ giá bằng
các công cụ mang tính thị trường tác động lên thị trường ngoại hối.

có các nghiệp vụ phái sinh giúp loại trừ rủi ro hối đoái nhưng chi phí để thực hiện
các kỹ thuật hạn chế rủi ro hối đoái trên thị trường chỉ được xem như có hiệu quả
đối với các giao dịch có giá trị lớn. Nền kinh tế nhỏ, với giá trị các giao dịch là
không lớn, thì một mức độ tương đối ổn định của tỷ giá hối đoái vẫn được xem là
tốt hơn. Nhưng nếu tỷ trọng tổng giao dịch ngoại thương đối với nền kinh tế là đáng
kể thì nên có một chế độ tỷ giá linh hoạt để hạn chế ảnh hưởng từ các cơn sốc bên
ngoài.

13

-
Mức độ giao lưu vốn và liên kết giữa lãi suất trong nước với lãi suất quốc
tế: Nếu mức độ giao lưu vốn và liên kết lãi suất trong nước và lãi suất quốc tế là
càng lớn thì tỷ giá hối đoái cố định sẽ làm cho lãi suất trong nước sẽ phụ thuộc bởi
sự biến động của lãi suất trên thị trường thế giới và ngược lại
1.5.2.2. Tỷ giá hối đoái với chính sách tài chính - tiền tệ:
Chính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết lượng tiền cung ứng còn chính
sách tài chính thì tập trung vào cơ cấu thu chi ngân sách.
Tỷ giá hối đoái cố định sẽ tạo nên một sự ràng buộc chặt chẽ đối với chính
sách tiền tệ và làm mất tính chủ động cao của chính sách tiền tệ, từ đó tạo nên một
kỷ luật tài chính tốt hơn. Trong tỷ giá thả nổi, ngân hàng trung ương không có trách
nhiệm duy trì tỷ giá hối đoái nên tính tự chủ trong chính sách tiền tệ sẽ cao hơn.
Tuy nhiên, chính sách tài chính, tiền tệ có thể vận động ngược chiều nhau. Ví dụ,
một chính sách tiền tệ thắt chặt chống lạm phát có thể bị vô hiệu hóa nếu bộ tài
chính lại mở rộng đầu tư công.
Như vậy đối với các nước đang phát triển khi mà hệ thống các công cụ tài
chính, chính sách còn yếu kém và sự phối hợp giữa các bộ, ngành còn khó khăn thì
nên có một chế độ tỷ giá tương đối cố định nhằm tạo một mốc neo danh nghĩa cho
việc phối hợp các chính sách.
Chính sách tiền tệ là một chính sách lớn, cần phải đi trước, cũng như tính kỷ

những biện pháp quản lý hành chính trong việc can thiệp.
 Việt Nam đang theo chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết. Cụ thể:
-
Yếu tố thả nổi: NHNN chỉ “thông báo” tỷ giá giao dịch bình quân liên
ngân hàng do cung cầu thị trường liên ngân hàng quyết định. Các NHTM xác định
tỷ giá kinh doanh trên cơ sở TGBQLNH
-
Yếu tố điều tiết của nhà nước: NHNN là người độc quyền điều hành, độc
quyền tính toán, độc quyền thông báo nên trong chừng mực nhất định thì mức
TGBQLNH chưa thoát ly khỏi ý chí chủ quan trong điều hành tỷ giá của NHNN.
Ngoài ra NHNN còn sử dụng hệ thống công cụ (trực tiếp, gián tiếp) dưới đây
để tác động lên tỷ giá.
1.5.3. Công cụ của chính sách tỷ giá
1.5.3.1. Nhóm công cụ tác động trực tiếp lên tỷ giá
(1) Thị trường ngoại hối

15

Trong điều kiện tình hình giá cả thị trường luôn không ổn định, thậm chí hay
xảy ra những biến động lớn, các nước thường sử dụng quỹ dự trữ bình ổn hối đoái
như là một trong những công cụ để điều chỉnh tỷ giá hối đoái.
Nguồn vốn để hình thành quỹ dự trữ bình ổn hối đoái thường là:
-
Phát hành trái phiếu kho bạc bằng đồng tiền quốc gia (như Anh, Hà Lan).
Khi ngoại tệ vào nhiều thì sử dụng vốn từ quỹ này để mua nhằm hạn chế mức độ
mất giá của ngoại tệ. Ngược lại, trong trường hợp vốn chạy ra nước ngoài, quỹ này
sẽ tung ngoại tệ ra bán và tiếp tục mua các trái phiếu đã phát hành để ngăn chặn giá
ngoại tệ tăng lên.
-
Sử dụng vàng để lập quỹ dự trữ bình ổn hối đoái (như Pháp, M ỹ, Thụy Sĩ).

giảm áp lực phải phá giá đồng nội tệ.
(4) Một số quy định khác
Quy định hạn chế đối tượng được mua ngoại tệ, quy định hạn chế mục đích sử
dụng ngoại tệ, quy định hạn chế số lượng mua ngoại tệ, quy định hạn chế thời điểm
được mua ngoại tệ. Tất cả các quy định này đều nhằm mục đích giảm cầu ngoại tệ,
hạn chế đầu cơ và tác động giữ cho tỷ giá ổn định.
Do xu thế tự do hóa thương mại và tự do hóa tài chính, các biện pháp can thiệp
hành chính ngày càng trở nên không phù hợp. Chính vì vậy, xu thế trên tế giới là
ngày càng hạn chế can thiệp hành chính và chuyển sang sử dụng các công cụ thị
trường.
1.5.3.2. Nhóm công cụ tác động gián tiếp lên tỷ giá
(1) Lãi suất tái chiết khấu
Đây là phương pháp thường được sử dụng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên
thị trường. Với phương pháp này, khi tỷ giá hối đoái đạt đến mức “báo động” cần
phải can thiệp thì NHTW nâng cao lãi suất tái chiết khấu.
Do lãi suất tái chiết khấu tăng, lãi suất cho vay trên thị trường cũng tăng lên.
Kết quả là vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ dồn vào để thu lãi suất cao.
Nhờ thế mà sự căng thẳng về nhu cầu ngoại tệ sẽ bớt đi, làm cho tỷ giá không có cơ
hội để tăng nữa. Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái giảm đến mức “báo động” thì NHTW
hạ thấp lãi suất tái chiết khấu, làm cho lãi suất cho vay trên thị trường giảm, vốn
ngắn hạn chạy ra nước ngoài làm cho cung ngoại tệ giảm và tỷ giá hối đoái không
có cơ hội giảm.

17

Phương pháp này cũng có hạn chế nhất định, vì lãi suất và tỷ giá chỉ có mối
tác động qua lại lẫn nhau chớ không phải là mối quan hệ nhân quả. Đồng thời, điều
kiện cần thiết để sử dụng lãi suất tái chiết khấu như một công cụ để tác động, can
thiệp vào tỷ giá là phải có một thị trường vốn đủ mạnh, tự do và linh hoạt; tài khoản
vốn đã được mở cửa.

Tùy mục tiêu tỷ giá hối đoái nói riêng và mục tiêu kinh tế nói chung trong
từng thời kỳ nhất định mà Chính phủ sử dụng các công cụ điều hành tỷ giá hối đoái
khác nhau. Chương 2 dưới đây sẽ tìm hiểu thực trạng việc sử dụng các công cụ
trong điều hành chính sách tỷ giá của Việt Nam trong 5 năm trở lại đây. 19

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ TẠI VIỆT NAM

2. Biến động tỷ giá trong 5 năm gần đây
Trước khi đi sâu tìm hiểu thực trạng chính sách tỷ giá của Việt Nam, hãy điểm
qua một vài nét nổi bật trong biến động tỷ giá từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO
để hình dung được bối cảnh kinh tế lúc đó.
Đầu năm 2007, trạng thái cung ngoại tệ lớn hơn cầu nên tỷ giá mua bán
USD/VND của NHTM luôn ở mức sát sàn. Khủng hoảng tín dụng Mỹ bắt nguồn từ
thị trường cho vay thế chấp dưới tiêu chuẩn làm USD mất giá mạnh trên thị trường
quốc tế, FED liên tục cắt giảm lãi suất USD, vốn đầu tư nước ngoài và kiều hối tăng
mạnh, tỷ giá USD/VND ổn định, chênh lệch cao giữa lãi suất USD và VND đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status