Tiểu luận Tài chính quốc tế 1
Lớp cao học TCNH 19A Tiểu luận
CÔNG CỤ PHÁI SINH ĐỂ PHÒNG NGHỪA RỦI RO
TRONG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIÊT NAM
Tiểu luận Tài chính quốc tế 2
Lớp cao học TCNH 19A
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Khi nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ, các giao dịch thương mại không
chỉ đơn thuần trong nội bộ quốc gia mà giữa các quốc gia và với nhiều đồng tiền khác
nhau. Rủi ro tỷ giá, lãi suất, kinh tế, chính trị… khiến nhiều cá nhân cũng như doanh
nghiệp có nhu cầu bảo vệ giá trị tài sản của mình bằng cách chuyển một số rủi ro khó
kiểm soát đến nơi có thể chấp nhận mức rủi ro đó và quản lý được chúng. Trước tình
hình này, nhu cầu về giao dịch các sản phẩm phái sinh lại càng trở lên cấp thiết hơn.
Thông qua việc sử dụng các sản phẩm phái sinh như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương
lai, quyền chọn, hoán đổi… các rủi ro khó kiểm soát trong đó có rủi ro tỷ giá đã được
chuyển giao cho các công ty dịch vụ tài chính hoặc nhà đầu tư chấp nhận rủi ro.
Ngày nay, thị trường phái sinh thế giới đã có bước tiến mạnh mẽ, vươn lên trở
Lớp cao học TCNH 19A
Chương I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÒNG NGỪA RỦI RO TỶ GIÁ
BẰNG CÔNG CỤ PHÁI SINH
1. Rủi ro tỷ giá
1.1. Tỷ giá hối đoái
- Khái niệm: Tỷ giá hối đoái là cách so sánh hai đồng tiền của hai nước khác
nhau. Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính
bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam.
- Phân loại tỷ giá hối đoái:
Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại hối có thể chia thành tỷ giá mua vào và tỷ
giá bán ra. Căn cứ vào kỳ hạn thanh toán chia thành tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn.
Căn cứ giá trị của tỷ giá chia thành tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực. Căn cứ vào chính
sách điều hành tỷ giá chia thành tỷ giá chính thức, tỷ giá chợ đen, tỷ giá cố định, tỷ giá
thả nổi và tỷ giá thả nổi có điều tiết.
- Các yếu tố tác động đến tỷ giá hối đoái
Một số yếu tố có ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái như cung cầu ngoại tệ trên thị
trường, tỷ lệ lạm phát, lãi suất, tâm lý, chính sách tỷ giá,…Khi nhu cầu về ngoại tệ của
người Việt Nam tăng lên khiến cho giá ngoại tệ tăng so với VND, tỷ giá tăng và ngược
lại khi nguồn cung ngoại tệ giá, giá ngoại tệ giảm so với VND, tỷ giá giảm. Nước nào
có tỷ lệ lạm phát cao hơn thì đồng tiền của nước đó có sức mua thấp hơn, tỷ giá tăng và
ngược lại. Khi lãi suất VND tăng lên, VND lên giá và ngoại tệ xuống giá, tức lãi suất và
tỷ giá hối đoái có quan hệ ngược chiều.
1.2. Rủi ro tỷ giá
- Khái niệm: Rủi ro tỷ giá là sự không chắc chắn của một khoản thu nhập hay chi
phí bằng ngoại tệ trong tương lai do biến động của tỷ giá hối đoái.
- Ảnh hưởng của rủi ro tỷ giá đối với hoạt động xuất nhập khẩu:
Sự biến động của tỷ giá hối đoái có thể mang lại hai mặt tích cực hoặc tiêu cực
cho doanh nghiệp. Nếu tỷ giá biến động ngược chiều với mong muốn thì nó có thể gây
phái sinh như: Quyền mua cổ phần, Chứng quyền, Hợp đồng kỳ hạn, Hợp đồng hoán
đổi Đến nay, trên thị trường tài chính quốc tế, nghiệp vụ tài chính phái sinh đã phát
triển rất mạnh với các nghiệp vụ phái sinh rất đa dạng và thị trường phái sinh đóng vai
trò quan trọng trong hệ thống tài chính toàn cầu. Sở dĩ nó phát triển thành công như vậy,
là do sử dụng nghiệp vụ này đem lại lợi ích cho các thành viên thị trường.
2.2. Các công cụ tài chính phái sinh
CCTCPS bao gồm 04 loại: Hợp đồng kỳ hạn (Forward), Hợp đồng tương lai
(Future), Quyền chọn (Option) và Hoán đổi (Swaps). Hình thức và điểm khác biệt giữa
các CCTCPS cụ thể như sau:
- Hợp đồng kỳ hạn: Hợp đồng kỳ hạn là thoả thuận mua hoặc bán một tài sản
(hàng hoá hoặc tài sản tài chính) tại một thời điểm trong tương lai với một giá đã thoả
thuận ngày hôm nay. Hàng hoá ở đây có thể là nông sản, các đồng tiền, cho tới chứng
khoán. Theo hợp đồng này thì chỉ có hai bên tham gia vào việc ký kết, giá cả do hai bên
tự thoả thuận với nhau. Giá hàng hoá đó trên thị trường giao ngay vào thời điểm giao
nhận hàng hoá có thể tăng lên hoặc giảm xuống so với mức giá đã ký kết trong hợp
đồng. Khi đó, một trong hai bên sẽ bị thiệt hại do đã cam kết một mức giá thấp hơn (bên
bán) hoặc cao hơn (bên mua) theo giá thị trường. Như vậy bằng việc tham gia vào một
hợp đồng kỳ hạn, cả hai bên đều giới hạn được rủi ro tiềm năng cũng như hạn chế lợi
nhuận tiềm năng của mình. Khi có thay đổi giá cả trên thị trường giao ngay, rủi ro thanh
toán sẽ tăng lên khi một trong hai bên không thực hiện hợp đồng. Ngoài ra, vì mức giá
đặt ra mang tính cá nhân và chủ quan nên rất có thể không chính xác.
- Hợp đồng tương lai (hợp đồng giao sau): Đây cũng là một hợp đồng giữa hai
bên, người mua và người bán, để mua bán tài sản vào một ngày trong tương lai với giá
Tiểu luận Tài chính quốc tế 5
Lớp cao học TCNH 19A
đã thoả thuận ngày hôm nay. Hợp đồng giao sau có những điểm giống với hợp đồng kỳ
hạn, đều được ấn định rõ loại hàng hóa, số lượng, chất lượng, giá tương lai, ngày giao
hàng và địa điểm giao hàng. Cả hai đều là một trò chơi có tổng bằng 0, khoản lời của
khoán hầu hết thực hiện theo kiểu Mỹ.
- Hoán đổi:
Là một hợp đồng trong đó hai bên đồng ý hoán đổi dòng tiền trong một khoảng
thời gian xác định. Có 4 loại hoán đổi là hoán đổi tiền tệ, hoán đổi lãi suất, hoán đổi
chứng khoán và hoán đổi hàng hoá. Và cũng giống như hợp đồng kỳ hạn, các hoán đổi
cũng gánh chịu những rủi ro nếu một bên bị vỡ nợ. Hoán đổi được xem như là kết hợp
giữa các hợp đồng kỳ hạn, là cải tiến tài chính mới nhất nhưng về thực chất không phức
Tiểu luận Tài chính quốc tế 6
Lớp cao học TCNH 19A
tạp hơn một danh mục các hợp đồng kỳ hạn và rủi ro tín dụng hiện diện trong hoán đổi
cũng có phần thấp hơn so với rủi ro tín dụng của hợp đồng kỳ hạn có cùng kỳ hạn.
2.3. Vai trò của việc sử dụng công cụ tài chính phái sinh
- Quản trị rủi ro: Thị trường sản phẩm phái sinh cho phép những người muốn
làm giảm rủi ro của mình chuyển giao rủi ro cho những người sẵn sàng chấp nhận nó,
đó là những nhà đầu cơ. Vì vậy, thị trường này rất có hiệu quả trong việc phân phối lại
rủi ro giữa các nhà đầu tư, không có ai cần phải chấp nhận một mức rủi ro không phù
hợp với bản thân mình. Cũng vì thế mà họ sẵn sàng cung cấp nhiều vốn hơn cho thị
trường tài chính, điều này tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển, phát huy khả năng
huy động vốn và giảm chi phí sử dụng vốn. Bên cạnh đó, thị trường các sản phẩm phái
sinh cũng là một công cụ hiệu quả cho hoạt động đầu cơ. Bởi ngưòi muốn phòng ngừa
rủi ro phải tìm được một người khác có nhu cầu đối lập hoàn toàn với mình, tức là rủi ro
của người muốn phòng ngừa rủi ro phải được hấp thụ bởi các nhà đầu cơ. Tại sao các
giao dịch này lại có thể được thực hiện, khi mà thực tế rõ ràng là khi một bên có lợi thì
tất yếu bên còn lại sẽ không thể tránh khỏi những thiệt hại? Bởi mỗi nhà đầu tư có khả
năng chấp nhận rủi ro cũng khác nhau. Tuy nhiên, ai cũng có mong muốn là giữ cho các
khoản đầu tư của mình ở một mức rủi ro có thể chấp nhận được. Và thế là họ gặp nhau
và tiến hành việc chuyển giao một phần rủi ro của mình cho đối tác.
Thị trường phái sinh không dẫn vốn trong nền kinh tế vào những âm mưu đầu cơ
lời và rủi ro có thể được điều chỉnh ở bất cứ mức độ nào như mong muốn.
Thứ ba: Các giao dịch bán khống được thực hiện dễ dàng hơn. Ngoài ra, các nhà
đầu tư có thể tìm kiếm được những khoản lợi nhuận đáng kể từ chênh lệch giá, chênh
lệch lãi suất. Tất cả các chủ thể tham gia thị trường đều có thể tìm thấy lợi nhuận.
Thị trường phái sinh giúp các tín hiệu thị trường khó bị bóp méo. Vì thế, các nhà
đầu cơ với ý định thao túng thị trường cũng có những khó khăn nhất định. Chính vì thế,
đặt bên cạnh thị trường giao ngay, sự hiệu quả của thị trường phái sinh giúp nâng cao
tính lành mạnh cho thị trường đó.
3. Sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tỷ giá
3.1. Phòng ngừa rủi ro tỷ giá bằng việc sử dụng hợp đồng kỳ hạn
Ví dụ: Tình hình giá cà phê trên thị trường Việt Nam thường bất ổn và dao động
tùy thuộc vào tình hình thời tiết và giá cả cà phê trên thị trường thế giới. Để tránh tình
trạng bất ổn, vào đầu vụ, công ty A chuyên xuất khẩu cà phê có thể thương lượng và ký
kết hợp đồng mua cà phê nhân xô kỳ hạn 6 tháng với nông dân B với số lượng 20 tấn cà
phê, nhân xô giá mua 47 triệu đồng/tấn. Lúc đó A là người mua và B là người bán trong
hợp đồng kỳ hạn. Sau 6 tháng B có trách nhiệm phải bán cho A 20 tấn cà phê nhân xô,
giá thỏa thuận trước là 47 triệu đồng/tấn và A bắt buộc phải mua 20 tấn cà phê nhân xô
của B với giá đó, dù giá cà phê nhân xô trên thị trường sau ba tháng là bao nhiêu đi nữa.
3.2. Phòng ngừa rủi ro tỷ giá bằng việc sử dụng hợp đồng tương lai
Để tránh những rủi ro khi thực hiện hợp đồng mua bán trong tương lai, do người
mua, hoặc người bán tháo lui khỏi hợp đồng vì sự biến động giá trên thị trường bất lợi
cho mình, hoặc do đến thời điểm thanh toán, người mua không có khả năng tài chính,
văn phòng chứng khoán phải đưa ra những quy định về yều cầu dự trữ tối thiểu đối với
người ký hợp đồng tương lai với nhà môi giới. Khoản tiền dự trữ này được giữ tại một
tài khoản của người đầu tư mở tại văn phòng chứng khoán.
3.3. Phòng ngừa rủi ro tỷ giá bằng việc sử dụng hợp đồng quyền chọn
Ví dụ: Ngày 01/06/2011, công ty A ký hợp đồng quyền chọn mua cà phê nhân
xô với công ty B 20 tấn cà phê nhân xô với giá thực hiện 47 triệu đồng/tấn, giá quyền 9
triệu đồng. Nếu vào ngày đáo hạn 01/08/2011, giá cà phê nhân xô là 50 triệu đồng/tấn,
thì người mua quyền thực hiện quyền và mua 20 tấn cà phê nhân xô với giá 47 triệu
TỶ GIÁ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CÀ PHÊ VIỆT NAM
1. Thực trạng sử dụng công cụ tài chính phái sinh ở Việt Nam
Mặc dù thị trường phái sinh (TTPS) thế giới có lịch sử phát triển lâu đời và hiện
đã phát triển lên một trình độ cao nhưng tại Việt Nam, TTPS vẫn được coi là một thị
trường rất mới. TTPS tiền tệ và hàng hóa đã hình thành được một thời gian nhưng chưa
phát triển. TTPS chứng khoán chưa có quy định pháp lý hướng dẫn nên chưa được phép
triển khai. Một thực tế là các tài sản cơ sở là tiền tệ, hàng hóa, chứng khoán được quản
lý bởi các cơ quan quản lý nhà nước khác nhau nên TTPS bị chia tách theo các tài sản
cơ sở này. TTPS được chia ra gồm 3 thị trường: Thị trường phái sinh tiền tệ, thị trường
phái sinh hàng hóa, thị trường phái sinh chứng khoán.
TTPS tiền tệ ra đời sớm nhất tại Việt Nam. Đây là thị trường có nhiều biến động
khó lường vì các giao dịch tiền tệ liên quan đến mọi hoạt động của nền kinh tế từ mua
bán hàng hóa, thanh toán, đầu tư kinh doanh… Các sản phẩm phái sinh tiền tệ được
giao dịch trên thị trường phi tập trung giữa các ngân hàng với nhau hoặc giữa các ngân
hàng với các tổ chức tài chính, doanh nghiệp, cá nhân… Các sản phẩm phái sinh chủ
yếu trên thị trường tiền tệ gồm có: hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi và các hợp
đồng quyền chọn trên lãi suất và ngoại tệ, chưa có hợp đồng tương lai vì chưa có thị
trường tập trung.
Thị trường phái sinh hàng hóa: Khác với các công cụ phái sinh tiền tệ, các công cụ
phái sinh hàng hóa về cơ bản được giao dịch trên các sàn giao dịch tại một địa điểm tập
trung. Tuy nhiên, các sàn giao dịch trong nước hiện có chưa hội tụ đủ tiêu chuẩn là một
Sở Giao dịch hàng hóa tập trung đúng nghĩa, đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế về hệ
thống giao dịch, hệ thống thanh toán, hệ thống giám định… Đa phần các sản phẩm phái
sinh hàng hóa được niêm yết và giao dịch như Hợp đồng thương lượng cà phê (Robusta
và Arabica), cao su (RSS3) và thép (HRC)… hiện được niêm yết trên HNX vẫn chỉ dừng
Tiểu luận Tài chính quốc tế 9
Lớp cao học TCNH 19A
ở mức độ thăm dò, sự tham gia của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và nhà đầu tư còn
hiện giao dịch quyền chọn lãi suất. Bên cạnh quyền chọn lãi suất, quyền chọn ngoại tệ
cũng được nhiều ngân hàng cung cấp, điển hình là BIDV, Eximbank, ACB,
Techcombank, Agribank, Citibank, Vietcombank, ICB, và ngân hàng Hồng Kông bank
chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh.
Nhìn chung, mức độ phát triển của các công cụ tài chính phái sinh ở nước ta vẫn
còn rất hạn chế. Hiện nay việc thực hiện các hợp đồng phái sinh của khách hàng Việt
Nam chủ yếu thực hiện qua môi giới nước ngoài và tham gia các thị trường ở nước
ngoài. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa biết hoặc chưa quen sử dụng các công cụ
phái sinh để phòng ngừa rủi ro. Mặt khác, các hợp đồng phái sinh khá phức tạp nên
Tiểu luận Tài chính quốc tế 10
Lớp cao học TCNH 19A
doanh nghiệp ngại sử dụng. Hàng lanh pháp lý cho thị trường phái sinh ở Việt Nam hầu
như chưa có.
Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ đặt các doanh nghiệp Việt Nam trước những rủi ro rất
lớn, đặc biệt hoạt động xuất nhập khẩu trong bối cảnh các thị trường tài chính luôn dao
động mạnh. Sẽ đến lúc nhu cầu tự thân của doanh nghiệp là phải dùng công cụ tài chính
phái sinh để phòng ngừa rủi ro và bảo hiểm hoạt động sản xuất - kinh doanh. Để làm
được điều đó đòi hỏi sự phối hợp của Chính phủ, các Ngân hàng và các doanh nghiệp
để đẩy mạnh hơn nữa việc sử dụng các công cụ này tại Việt Nam.
2. Sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tỷ giá tại doanh nghiệp
cà phê Việt Nam
Các hợp đồng và nghiệp vụ phái sinh liên quan đến hoạt động kinh doanh cà phê
được giao dịch chủ yếu trên thị trường phái sinh hàng hóa (thị trường cà phê phái sinh).
2.1. Quá trình hình thành và hoạt động của thị trường cà phê phái sinh
Ở Việt Nam hiện nay có 02 sàn giao dịch hàng hóa là Trung tâm Giao dịch Cà
phê Buôn Ma Thuột (BCEC) và Sở giao dịch hàng hóa Việt Nam (VNX). Tuy nhiên,
Sở giao dịch hàng hóa Việt Nam (VNX) đã xin tạm ngừng hoạt động gần 1 năm nay,
còn sàn Info vừa nhận được quyết định thành lập vào tháng 5/2013 và đang xin phép gia
Hợp đồng cà phê tương lai là hợp đồng ràng buộc được tiêu chuẩn hóa để giao hoặc
nhận một khối lượng và loại cà phê riêng biệt tại một thời điểm xác định trong tương lai
với một mức giá đã được thống nhất. Người mua hợp đồng có nghĩa vụ nhận hàng cà
phê theo các điều khoản hợp đồng vào một ngày xác định, trong khi người bán có nghĩa
vụ giao cà phê.
Đa số hợp đồng cà phê tương lai không bao giờ dẫn đến việc giao hoặc nhận
hàng cà phê thực. Thay vào đó, người nắm giữ hợp đồng thanh khoản trạng thái của
mình bằng các thực hiện các giao dịch bù trừ trong thị trường. Người mua bán hợp đồng
họ đã mua và người bán mua lại hợp đồng, loại bỏ các nghĩa vụ giao hàng.
- Ký quỹ cho hợp đồng cà phê tương lai: Để đảm bảo thực hiện hợp đồng, sở
giao dịch yêu cầu người tham gia thị trường thanh toán tiền ký quỹ ban đầu và phát sinh.
Tiền ký quỹ ban đầu là tiền nạp cọc để đảm bảo người tham gia thị trường sẽ thực hiện
các nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng của mình.
- Đòn bẫy: Điểm hấp dẫn của giao dịch cà phê tương lai đối với nhà đầu tư là đòn
bẫy. Vì các giao dịch tương lai không yêu cầu thanh toán trước đầy đủ (chỉ cần tiền ký
quỹ mà thôi) nên người mua hợp đồng cà phê tương lai có thể thu được khoản lời lớn
nhờ cam kết đòn bẫy. Giả sử một nhà đầu tư có thể mua hợp đồng cà phê arabica tương
lai (mỗi hợp đồng là 37.500 lb) với số tiền ký quỹ là 3.000 USD. Nếu nhà đầu tư mua
một hợp đồng với mức giá 150 cents/lb (tốn 56.250 USD cho hợp đồng) và bán hợp
đồng khi giá cà phê arabica chạm mức 165 cents/lb, thì nhà đầu tư đó sẽ thu lời 5.625
USD (15 cents x 37.500 lb = 5.625 USD) - một kết quả bằng 187,5% so với mức ký
quỹ ban đầu khi trạng thái được thanh khoản.
Đó chính là đòn bẫy, nó có thể là công cụ đầu tư quyền năng. Tất nhiên đòn bẫy
có cả mặt trái của nó. Nếu giá cà phê dao động ngược hướng kỳ vọng thì nhà đầu tư có
thể mất toàn bộ số tiền ký quỹ và nhiều hơn thế nữa nếu không tuân thủ quy tắc và kỷ
luật giao dịch thông thường.
Hiện tại các hợp đồng phái sinh đối với cà phê được giao dịch tại 2 sàn lớn trên
thế giới là sàn ICE ở New York và sàn Liffe NYSE ở London.
2.2. Đánh giá
Hiện nay, cả nước chỉ có trên dưới 100 doanh nghiệp sử dụng các công cụ phái
lợi cho mình tới 51 USD/tấn. Và xuất khẩu với khối lượng càng nhiều, lãi sẽ càng lớn.
Trên thế giới, có nhiều doanh nghiệp sử dụng loại hợp đồng này và giá ghi trong
hợp đồng tương lai là giá tham chiếu cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa thực. Vì
thế, không thể nói rằng không tham gia hợp đồng tương lai thì không bị ảnh hưởng gì.
Doanh nghiệp, dù đứng ngoài cuộc chơi, vẫn sẽ bị tác động khi giá các hợp đồng tương
lai biến động. Do đó, cần chủ động tiếp cận công cụ này để nắm bắt thông tin thị trường.
Ở Singapore, 90% người dân có hiểu biết về thị trường chứng khoán, 50% người
dân biết về hợp đồng tương lai. Do vậy, doanh nghiệp rất ưa chuộng công cụ này. Theo
ông, ngân hàng luôn có vai trò quan trọng trong việc giúp doanh nghiệp hiểu biết và sử
dụng hợp đồng tương lai qua việc cung cấp thông tin chuyên sâu về các ngành hàng, các
loại hàng hóa cũng như tư vấn cho doanh nghiệp.
2.3. Triển vọng của việc sử dụng công cụ tài chính phái sinh để phòng ngừa
rủi ro tỷ giá ở các doanh nghiệp cà phê Việt Nam
Trong năm 2011, thị trường cà phê tương lai Liffe ở London đã chính thức cho
phép doanh nghiệp và cá nhân tại Việt Nam được mở kho và gửi mẫu sang Trung tâm
Kiểm tra chất lượng tại London, giúp rút ngắn thời gian giao hàng, nhận tiền khi các
doanh nghiệp Việt Nam muốn bán sản phẩm cà phê ra thị trường thế giới.
Việt Nam là nước sản xuất đầu tiên được Liffe đưa ra quyết định này. Không chỉ
riêng Liffe, Sở Giao dịch hàng hóa Singapore (SICOM), sàn Tocom (Nhật) cũng đã có
những hoạt động tiếp thị nhằm thu hút doanh nghiệp và nhà đầu tư (NĐT) tham gia.
Tiểu luận Tài chính quốc tế 13
Lớp cao học TCNH 19A
Điều này cho thấy thị trường hàng hóa của Việt Nam, nhất là những mặt hàng xuất khẩu
chủ lực được các sở giao dịch hàng hóa lớn trên thế giới chú ý. Đối tượng tham gia tiềm
năng không chỉ là các doanh nghiệp, các nhà đầu tư mà còn có những người nông dân,
giúp họ tránh khỏi tình trạng "đơợc mùa mất giá, được giá mất mùa". Đây có thể là một
bước đi tiến bộ trong hoạt động sản xuất nông sản của người nông dân tại Việt Nam,
giúp họ giảm được nỗi lo về biến động về giá trong nền kinh tế hiện nay.
hàng hóa cần phải sản xuất hoặc tiêu thụ. Việc điều hành tốt hoạt động của sàn giao dịch
cà phê sẽ góp phần nâng cao vai trò, cũng như chức năng của sàn, nhằm phát triển hệ
thống sở giao dịch nội địa.
Tiểu luận Tài chính quốc tế 14
Lớp cao học TCNH 19A
Chương 3
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÔNG CỤ PHÁI SINH TẠI
CÁC DOANH NGHIỆP CÀ PHÊ
1. Quy định về giới hạn và giá mua
Nhà nước đứng ra đảm bảo mức giá sàn mà vẫn tạo cơ hội tìm kiếm lợi nhuận khi
giá tăng, vẫn đúng “luật chơi” thị trường chứ không dùng cách can thiệp thị trường theo
kiểu bình ổn giá hay tạm trữ - đó là mua quyền chọn bán.
Mua quyền chọn bán (put option) nghĩa là người mua có quyền bán hoặc không
bán một hợp đồng kỳ hạn vào một ngày trong tương lai với giá cố định vào hôm nay. Cụ
thể: giả sử 1.600 USD/tấn cà phê là mức giá sàn mà Nhà nước đảm bảo.
Vào ngày 24-6-2013, quyền chọn trên hợp đồng kỳ hạn tháng 9 đang giao dịch tại
NYSE Liffe với giá thực hiện 1.600 USD/tấn, có phí quyền chọn là 26 USD/tấn (tương
đương 546.936 đồng/tấn). Nếu Nhà nước đồng ý mua quyền chọn bán cho tất cả sản
lượng cà phê sản xuất tại Việt Nam, khoảng 1,5 triệu tấn, thì chỉ cần chi ra 39 triệu USD
là nông dân có thể an tâm rằng cà phê sẽ được bán không dưới mức 33.658 đồng/kg mà
không cần thực hiện tạm trữ gì cả.
Một lựa chọn khác, tùy theo khả năng và sở thích của mỗi người mà họ mong
muốn mức giá đảm bảo khác nhau. Khi đó, nông dân sẽ thanh toán thêm một khoản
chênh lệch để đạt được mức giá đảm bảo mong muốn.
Ví dụ, một người mong muốn được đảm bảo với mức giá 36.813 đồng/kg (tương
đương 1.750 USD/tấn), với mức giá này thì phí quyền chọn là 79 USD/tấn, do Nhà nước
hỗ trợ 26 USD/tấn theo mặt bằng chung nên chỉ cần thanh toán thêm 53 USD/tấn, hoặc
hàng sẽ cân nhắc lại quyết định cho vay dựa trên cà phê lưu kho đã được “bảo vệ” này so
với việc cho vay dựa trên cà phê không có sự phòng ngừa rủi ro nào trước đây. Có thể mở
rộng cách thức này một cách bài bản hơn như Guatemala đã thực hiện.
Năm 1994, Liên hiệp Nông dân trồng cà phê quốc gia (National Coffee Growers’
Federation - Anacafé) đã giới thiệu hệ thống nhằm nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng
ngân hàng thương mại và những hộ nông dân thường dựa vào chương trình này để vay
ngân hàng.
Theo đó, sử dụng các công cụ quản trị rủi ro là điều kiện tiên quyết để tham gia
chương trình tín dụng. Vì vậy rủi ro cho ngân hàng giảm đáng kể, cho phép họ cung cấp
tín dụng cho nông dân trồng cà phê với lãi suất thấp hơn (theo ước tính của Anacafé, tiết
kiệm được tiền lãi cho nông dân hơn 10% giá trị khoản vay - khoảng 2 triệu USD mỗi
năm) (Rutten và Youssef, 2007).
Như vậy, hai mặt của một vấn đề: quản trị rủi ro giá và cung cấp tín dụng có mối
quan hệ khắng khít.
2. Về vốn và thế chấp trong giao dịch công cụ tài chính phái sinh
Kể từ vụ sụp đổ của công ty Enron, các nhà kinh tế đã bắt đầu thảo luận để
đặt ra những quy định về thế chấp tài sản trên các hợp đồng phái sinh. Khi một công
ty có những khó khăn về mặt tài chính hoặc thậm chí đang còn hoạt động rất tốt vẫn
phải đưa ra những khoản thế chấp hay các mức duy trì đặt cọc cao để chắc chắn công
công ty sẽ tuân thủ hợp đồng mỗi khi có những biến động cao trong giá. Mức duy trì
có thể là một khoản tối thiểu mà khi tài khoản ký quỹ giảm xuống một mức nào đó,
thì cách tham gia hợp đồng bổ sung vào.
Trong điều kiện Việt Nam, mức tài khoản ký quỹ và mức duy trì ắt phải là rất
cao, có thể lên tới 30% hợp đồng (so với mức 5% trên các thị trường thế giới). Đối
với các nhà môi giới trên các hợp đồng phái sinh yêu cầu đầu tiên là phải có đủ vốn,
mặc dù họ chỉ là những ngân hàng hoặc các công ty không trực tiếp tham gia vào các
giao dịch phái sinh. Yêu cầu về vốn rất quan trọng, vì chúng giúp cho hệ thống các
ngân hàng Việt Nam giảm bớt những nguy cơ về động cơ sẵn sàng chấp nhận rủi ro
để tránh tình trạng mất khả năng thanh toán của nhà môi giới.
3. Yêu cầu bắt buộc về tái phòng ngừa rủi ro trên thị trường quốc tế
5. Yêu cầu về đăng ký và lập các Báo cáo tài chính
Đây là một chuẩn mực bắt buộc nhằm làm tăng tính minh bạch cho tất cả
thành viên tham gia thị trường. Tất cả các thành viên tham gia thị trường phái sinh
phải hiểu hết về nhau trước khi tiến hành các giao dịch với nhau Chẳng hạn như một
ngân hàng Việt nam đồng ý thực hiện một hợp đồng tương lai 1000 lượng vàng với
người mua tương lai. Trong trường hợp này người mua tương lai cần phải có những
thông tin rằng hiện nay ngân hàng Việt Nam hiện đang ký quỹ là bao nhiêu tại một
ngân hàng nước ngoài để mua vàng thế giới bán lại cho ngươi từ trong nước. Nói
cách khác, trong cuộc chơi này trong cuộc chơi này ai cũng phải có thông tin lẫn
nhau, để cuộc chơi tăng thêm phần minh bạch và có lợi cho thị trường giao dịch.
6. Hoàn thiện những quy định tài chính kế toán liên quan, nâng cao tính
thanh khoản của sản phẩm phái sinh
Tiểu luận Tài chính quốc tế 17
Lớp cao học TCNH 19A
Hiện nay, các công cụ phái sinh chưa có thị trường giao dịch chính. Các hợp
đồng kỳ hạn và tương lai phải giao dịch trên có sàn nước ngoài như London hay
NewYork. Còn lại là giao dịch qua quầy, nhiều bất lợi đối với tính thanh khoản cũng
như các loại rủi ro tín dụng. Các hợp đồng quyền chọn và hoán đổi được giao dịch
trên thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ. Nói chung, hiện tại chúng vẫn còn
thiếu nhiều cơ chế tạo ra các hành lang đảm bảo các hoạt động được trôi chảy. Tuy
nhiên, đi đôi với việc phát triển thị trường là việc nâng cao chất lượng hàng hoá cho
thị trường. Hàng hoá ở đây chính là các công cụ tài chính phái sinh, từ các công cụ
thuần nhất tới các công cụ lai tạp. Và vấn đề không chỉ nằm ở chỗ đa dạng hoá các
sản phẩm, đáp ứng các nhu cầu của thị trường. Cần chú ý tới chất lượng hàng hoá. Ở
đây, chính là tính hợp pháp, tính thanh khoản, khả năng thích ứng với các loại rủi ro
của các công cụ tài chính phái sinh. Do vậy cần hoàn thiện các đặc trưng kỹ thuật
của các công cụ tài chính phái sinh, đáp ứng nhu cầu và mức độ phát triển của thị
trường.
Các doanh nghiệp cà phê ngày càng khẳng định vị thế và tiềm năng to lớn, đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng như quốc tế. Chính nhờ mặt hàng nông sản đầy
tiềm năng này mà Việt Nam đang ngày càng khẳng định thương hiệu và vị trí trên
thương trường quốc tế. Để tham gia vào được môi trường cạnh tranh toàn cầu vốn khốc
liệt và luôn kèm với rất nhiều rủi ro, mỗi DN cần tự trang bị cho mình những kiến thức
tài chính và những kĩ năng quản trị tốt nhất thông qua học hỏi kinh nghiệm từ các DN
nước ngoài.
Bên cạnh những nỗ lực từ bản thân DN, nhà nước đã cùng tham gia để đảm bảo
quyền lợi bằng các biện pháp vĩ mô như hình thành chợ đầu mối và sàn giao dịch mặt
hàng cà phê.
Mặc dù chúng ta đã có một định hướng cụ thể để thiết lập một chương trình phòng
ngừa và quản trị rủi ro giá cả cụ thể nhưng vẫn còn nhiều yếu tố cần xem xét để từng
bước hoàn thiện hơn nữa thị trường các sản phẩm phái sinh với mục đích phòng ngừa
rủi ro biến động hàng hóa cà phê. Đây là một thách thức rất lớn khi các DN Việt Nam
phải đối mặt với cạnh tranh từ các quốc gia đã có bề dày kinh nghiệm về quản trị rủi ro
bằng các công cụ phái sinh.
Tiều luận đã đưa ra được các ưu thế khi sử dụng các công cụ tài chính phaí sinh
đặc biệt trong việc sử dụng sàn giao dịch cà phê. Tuy nhiên để giữ vững vì trí xuất khẩu
đứng nhất nhì như hiện nay thì chúng ta cần phát triển và mở rộng hơn nữa sản phẩm
này để bảo vệ các DN cà phê Việt Nam và thiết lập được một chương trình phòng ngừa
rủi ro hiệu quả.
http://www.taichinhvietnam.com/vietnamfinancial/
http://www.saga.vn/
Tiểu luận Tài chính quốc tế 20
Lớp cao học TCNH 19A
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 2. SỬ DỤNG CÔNG CỤ TÀI CHÍNH PHÁI SINH ĐỀ PHÒN G NGỪA
RỦI RO TỶ GIÁ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CÀ PHÊ VIỆT NAM 7
1. Thực trạng sử dụng công cụ tài chính phái sinh ở Việt Nam 7
2. Sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tỷ giá tại doanh nghiệp cà phê
Việt Nam 9
2.1. Quá trình hình thành và hoạt động của thị trường cà phê phái sinh 9
2.2. Đánh giá 10
2.3. Triển vọng của việc sử dụng công cụ tài chính phái sinh để phòng ngừa rủi
ro tỷ giá ở các doanh nghiệp cà phê Việt Nam 11
Chương 3. GIẢI PHÁP NÂ NG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÔNG CỤ PHÁI
SINH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CÀ PHÊ VIỆT NAM 13
1.
Quy định về giới hạn và giá mua 13
2.
Về vốn và thế chấp trong giao dịch công cụ tài chính phái sinh 14
3.
Yêu cầu bắt buộc về tái phòng ngừa rủi ro trên thị trường quốc tế 14