Bài dự thi “Nhận thức khoa học tư duy hệ thống và phần mềm KTXH- Ecopolicy”
Người thực hiện: Ban giám hiệu Trường tiểu học Hùng Vương- Hồng Bàng- Hải Phòng
1
PHẦN 1. HIỂU BIẾT VỀ KHOA HỌC TƯ DUY HỆ THỐNG
“Nhân loại đã thành công qua thời gian trong việc chinh phục thế giới vật lý và
trong việc phát triển tri thức khoa học bằng việc chấp thuận phương pháp phân tích để
hiểu vấn đề. Phương pháp này bao gồm việc bẻ vấn đề thành các cấu phận, nghiên cứu
từng phần cô lập và rồi rút ra kết luận về cái toàn thể. Loại tư duy tuyến tính và máy móc
này đang ngày một trở nên không hiệu quả khi đề cập tới các vấn đề hiện đại.” Đối với
khoảng hai thập kỷ qua, nhận thức của xã hội đã được mở rộng. Tuy nhiên, chúng ta đã
không bắt đầu phát triển một sự hiểu biết về làm thế nào tất cả mọi thứ trong thế giới của
chúng ta được kết nối với nhau. Mỗi can thiệp trong hệ thống mà chúng ta đang sống có
tác động phức tạp - phản hồi, thời gian chậm, hậu quả bị trì hoãn.
Cách tiếp cận tư duy hệ thống về cơ bản khác với cách tiếp cận phân tích truyền
thống. Phân tích truyền thống tập trung vào việc tách bạch từng mảnh mẩu của đối tượng
được nghiên cứu, trong thực tế từ phân tích bắt nguồn từ nghĩa gốc -chia thành các bộ
phận hợp thành. Ngược lại, tư duy hệ thống tập trung vào cách đối tượng được nghiên
cứu tương tác với các thành phần khác của hệ thống có chứa nó – hệ thống vốn là tập
hợp các phân tử tương tác để tạo ra hành vi. Điều này có nghĩa là thay vì cô lập những
phần ngày càng nhỏ hơn của hệ thống được nghiên cứu, thì tư duy hệ thống làm việc
bằng cách mở rộng góc nhìn của nó có tính tới số ngày càng lớn các ương tác xem như
vấn đề để cần được nghiên cứu.
Ngày nay tư duy hệ thống ngày càng trở nên phổ biến, dần thay thế cho lối tư duy
tuyến tính vốn đã tồn tại trong một thời gian dài. Tư duy hệ thống cung cấp một viễn
cảnh mới mạnh mẽ, một ngôn ngữ riêng và một tập các công cụ có thể dùng để đề cập tới
những vấn đề hóc búa nhất trong cuộc sống và công việc thường ngày.
Theo từ điển bách khoa vạn vật: hệ thống là “tập hợp các hiện tượng và sự kiện
phụ thuộc lẫn nhau và bằng phương pháp suy luận trí tuệ có thể xem xét tập hợp như một
thể thống nhất”, tuân theo 3 nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, các phần tử phụ thuộc lẫn nhau theo chức năng hoạt động của chúng; tác
hình của thực tại chứ không với bản thân thực tại. Tư duy theomô hình cũng chứa đựng
khả năng xây dựng mô hình. Mô hình phải được xây dựng, làm hợp lệ và phát triển thêm
nữa. Khả năng xây dựng mô hình và phân tích mô hình phụ thuộc một phần lớn vào công
cụ sẵn có để mô tả mô hình. Chọn một dạng biểu diễn thích hợp (như biểu đồ chu trình
nhân quả, biểu đồ kho là luồng, phương trình) là điểm mấu chốt của tư duy hệ thống.
Việc phát minh ra những công cụ mô tả mạnh, linh hoạt đã chuẩn hơn là một trong những
thành tựu chính của Jay Forrester. Với mục đích rèn luyện các dạng biểu diễn của cách
tiếp cận.
Bài dự thi “Nhận thức khoa học tư duy hệ thống và phần mềm KTXH- Ecopolicy”
Người thực hiện: Ban giám hiệu Trường tiểu học Hùng Vương- Hồng Bàng- Hải Phòng
3
Năng động hệ thống đã được chứng tỏ là thành công. Biểu đồ chu trình nhân quả
cho phép làm mô hình hóa định lượng, biểu đồ kho và luồng đã cho những hướng dẫn
chủ chốt về cấu trúc của mô hình mô phỏng định lượng.
b)Tư duy theo tương quan
Người phương Tây thường rất giỏi trong cách lập luận nhân quả. Các quan hệ nếu
– thì là những khối xây dựng cơ bản của tâm trí chúng ta và việc hiểu mọi điều. Nền tảng
của cách tư duy này là phác họa chính xác giữa nguyên nhân và hậu quả. Để giải thích
một hiện tượng chúng ta phải tìm “nguyên nhân” của nó (có lẽ là một). Người ta giả thiết
rằng nguyên nhăn này tồn tại và rằng hậu quả bao giờ cũng có thể được quan sát bất kỳ
khi nào nguyên nhân hợp thức. Những từ và cụm từ như “vì”, “do vậy”, “nếu – thì” ký
hiệu cho quan niệm tư duy như vậy trong ngôn ngữ hàng ngày. Điếu tương tự về toán học
là khái niệm hàm với một biến độc lập (= “nguyên nhân”) và một biến phụ thuộc (= “hậu
quả”). Tương phản với cách tư duy này trong mối quan hệ nhân quả, có thể được gọi là tư
duy chức năng hay tu duy tuyến tính – là tư duy theo tương quan.
Trong hệ thống có tương quan chúng ta không chỉ có các hậu quả trực tiếp mà cả
hậu quả gián tiếp nữa. Điều này có thể dẫn tới chu trình phản hồi. Chu trình phản hồi có
thể làm tăng cường (đương tính) hay làm cân bằng (âm tính). Chạy đua vũ trang giữa các
siêu cường là ví dụ về chu trình tăng cường. Mỹ nói: “Vì việc vũ trang của Liên Xô mà
Một trong những câu hỏi nền tảng và quan trọng nhất của việc lý hệ thống thực
hành là: cấu phần hệ thống nào là chủ đề cho việc thay đổi? Trong hệ thống xã hội
thường không thể thay đổi hành vi của người khác một cách trực tiếp được, người ta chỉ
có thể thay đổi hành vi của chính mình. Trong một hệ thống kinh tế người sản xuất
thường không điều khiển trực tiếp được thị trường. Các hoạt động thị trường thường là
các hoạt động của phía cung cấp để hấp dẫn phản ứng ham muốn của phía yêu cầu.
Tại sao tư duy hệ thống lại có giá trị? Bởi vì nó có thể giúp thiết kế khôn ngoan, kéo dài
giải pháp của vấn đề. Theo nghĩa đơn giản nhất, tư duy hệ thống cung cấp bức tranh
chính xác hơn về thực tế, để có thể sử dụng các lực tự nhiên của hệ thống đạt tới kết quả
mong muốn. Nó cũng động viên việc suy nghĩ về các vấn đề và giải pháp bằng con mắt
nhìn lâu dài – chẳng hạn, làm sao mạt giải pháp đặc biệt đang xem xét có thể tồn tại lâu
được? Và hậu quả có thể không được để ý tới là gì? Cuối cùng, tư duy hệ thống dựa trên
một số nguyên tắc phổ dụng, cơ bản có trong tất cả mọi phạm vi hoạt động của cuộc
sống.
Bài dự thi “Nhận thức khoa học tư duy hệ thống và phần mềm KTXH- Ecopolicy”
Người thực hiện: Ban giám hiệu Trường tiểu học Hùng Vương- Hồng Bàng- Hải Phòng
5
PHẦN 2. HIỂU BIẾT VỀ PHẦN MỀM TRẮC NGHIỆM KINH TẾ XÃ HỘI
ECOPOLICY:
Phần mềm trắc nghiệm kinh tế xã hội (ecopolicy ) được phát triển bởi Giáo sư,
Tiến sĩ Frederics Vester. Chương trình được xây dựng dựa trên trò chơi Ökolopoly ® của
Frederic Vesters, được tạo ra bởi Otto Maier Verlag Ravensburg. Phiên bản đầu tiên là
môi trường mô phỏng trò chơi Kybernetien từ năm 1976, trò chơi “Nghiên cứu sự phát
stress.
5. Education - giáo dục: giáo dục là cách duy nhất để nâng cao chất lượng sống (6).
Tuy nhiên đầu tư điểm cộng vào giáo dục sẽ lâu và không thu được kết quả ngay.
6. Quality of life - chất lượng sống: đây cũng là chỉ số quan trọng của 1 đất nước.
Chỉ khi có chất lượng sống tốt thì lòng tin vào chính phủ (1) mới tăng. Chất lượng
sống cũng bị giảm nếu dân số (8) quá đông.
7. Growth rate - tỉ lệ sinh. Tỉ lệ sinh tăng cao sẽ kéo theo dân số tăng cao và giảm
chất lượng sống.
8. Population - dân số. Dân số tăng sẽ tạo ra nhiều sản phẩm và được cộng nhiều
điểm Activity points hơn, tuy nhiên dân số quá đông sẽ ảnh hưởng đến chất lượng
sống.
Chúng tương tác với nhau bằng cách nào
Hãy nhìn vào sơ đồ dưới đây. Bạn có thể thấy nó bằng cách bấm vào Functions
Tuy nhiên mũi tên ấy chỉ nói lên 1 phần. Khi bạn bấm vào từng mũi tên để xem biểu
đồ. Biểu đồ ấy chính là mức độ tăng giảm ít nhiều của từng lĩnh vực.
Bài dự thi “Nhận thức khoa học tư duy hệ thống và phần mềm KTXH- Ecopolicy”
Người thực hiện: Ban giám hiệu Trường tiểu học Hùng Vương- Hồng Bàng- Hải Phòng
7
Hãy cố gắng để các chỉ số đều xanh như thế này:
Kết quả chơi
Bạn sẽ thua cuộc nếu bất kì chỉ số nào bị đèn đỏ. Khi đó sẽ có biểu tình. Sau khi
trải qua 12 rounds (12 năm) đất nước vẫn bình yên, bạn sẽ giành được chiến thắng kèm
theo số điểm.
Bài dự thi “Nhận thức khoa học tư duy hệ thống và phần mềm KTXH- Ecopolicy”
Người thực hiện: Ban giám hiệu Trường tiểu học Hùng Vương- Hồng Bàng- Hải Phòng
8
nhận thức của người dân về giáo dục
Bài dự thi “Nhận thức khoa học tư duy hệ thống và phần mềm KTXH- Ecopolicy”
Người thực hiện: Ban giám hiệu Trường tiểu học Hùng Vương- Hồng Bàng- Hải Phòng
10
- Nhà trường đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục. Nhà trường xây dựng mô
hình lớp học chất lượng cao với đầy đủ trang thiết bị hiện đại phục vụ cho học tập như
lớp học có mắc điều hòa, có màn hình ti -vi, có máy tính kết nối internet phục vụ cho học
tập.
- Bên cạnh đó nhà trường đặc biệt quan tâm đến công tác bồi dưỡng chất lượng
đội ngũ. Như cử cán bộ giáo viên đi học bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, tin học,
ngoại ngữ. tham gia thi giáo viên dạy giỏi các cấp.
- Ngoài ra nhà trường còn đặc biệt quan tâm đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi coi
việc đào tạo bồi dưỡng học sinh giỏi là nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường và là
nhiệm vụ của tất cả các giáo viên trong nhà trường. Nhà trường tổ chức thi chọn học
sinh giỏi, cử giáo viên có năng lực dạy các đội tuyển học sinh giỏi
- Nhà trường chú trọng đến chất lượng giáo dục toàn diện. bằng việc đổi mới
phương pháp giảng dạy, đổi mới cách kiểm tra đánh giá học sinh … nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện
B. Điểm đòn bảy (Giải pháp lâu dài ) :
- Tiếp tục duy trì chất lượng giáo dục toàn diện, mũi nhọn học sinh giỏi….
- Tiếp tục khẳng định thương hiệu của nhà trường, tăng cường xã hội hóa giáo dục
- Tham mưu với các cấp lãnh đạo đẩy mạnh tiến độ xây dựng trường chuẩn.
5. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
- Chất lượng giáo dục toàn diện được duy trì tốt – Năm học 2012- 2013:
Giỏi Khá Trung bình Yếu
60% 32 % 8 % 0 %
- Công tác học sinh giỏi không ngừng phát triển, số giải năm sau cao hơn năm
trước. Cụ thể: