Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các mô hình nuôi trồng thủy sản tại xí nghiệp Tam thiên mẫu - Pdf 14


PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù có ý nghĩa rất quan trọng
trong mọi nền kinh tế. Đối với nước ta, từ 1 một nền sản xuất nhỏ đi lên sản
xuất lớn xã hội chủ nghĩa, cùng một lúc phải thực hiện những nhiệm vụ to lớn
và cấp bách trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, thì
việc nâng caao hiệu quả kinh tế trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh ở tất
cả các ngành, các cấp, các đơn vị cơ sở kinh tế càng có ý nghĩa quan trọng.
Việc chuyển đổi nền kinh tế nước ta từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan
lieu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo ra những cơ hội mới và cả những thách thức
mới cho các doanh nghiệp. Với các nguồn lực càng khan hiếm, sự cạnh tranh
cũng trở nên gay gắt và khốc liệt đã làm cho nhiều doanh nghiệp thua lỗ, giải
thể . Nhưng cũng không ít các doanh nghiệp do nắm bắt được cơ hội, tổ chức
thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả đã trụ vững và
ngày càng phát triển. Chính vì vậy việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh càng trở nên có ý nghĩa sống còn đối với các doanh nghiệp.
Tam Thiên Mẫu là nơi có địa hình rộng lớn, có nhiều diện tích ao, hồ
và ruộng trũng. Tuy nhiên, loại hình ao hồ ở đây không đồng nhất, cơ cấu
nuôi thả đa dạng; người dân tuy đã nuôi cá nhiều năm nhưng chưa quen với
sản xuất hàng hóa nên kết quả và hiệu quả chưa cao, chưa thật sự phát huy hết
tiềm năng và thế mạnh sẵn có. Vì vậy, sự cần thiết khảo sát đánh giá hiệu quả
sản xuất của các mô hình NTTS tại Xí nghiệp ra sao? Nó chịu ảnh hưởng của
những yếu tố nào? và xu hướng phát triển trong những năm tới? Trên cơ sở
đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất của các mô hình NTTS tại Xí
nghiệp. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
1
1
“Nghiên cứu hiệu quả sản xuất kinh doanh của các mô hình nuôi trồng
thủy sản và đưa giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

các mô hình (bao gồm nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên, nhóm yếu tố về
kinh tế - xã hội), trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất
của các mô hình NTTS cho xí nghiệp.
- Địa điểm: Tại Xí nghiệp Tam Thiên Mẫu, xã Nghĩa Đạo, huyện
Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
- Thu thập nguồn tài liệu thứ cấp: trong 3 năm gần đây (Từ 2011 - 2013).
- Thời gian thực hiện đề tài: Từ ngày 17 / 02/ 2014 đến 16 / 03 / 2014.

3
3
PHẦN II
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TỔNG QUAN CỦA XÍ .
NGHIỆP TAM THIÊN MẪU
2.1 Khái Quát Về Xí Nghiệp Tam Thiên Mẫu
2.1.1. Giới Thiệu Về Xí Nghiệp
2.1.1.1. vị trí địa lý, địa hình
* Vị trí địa lý
Xí nghiệp Tam Thiên Mẫu nằm ở xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành,
tỉnh Bắc Ninh, cách Trung tâm Thành phố Hà Nội khoảng 40 km có vị trí địa
lý như sau:
- Phía Bắc giáp : xã Trạm Lộ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh;
- Phía Nam giáp: xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương;
- Phía Đông giáp : xã Quảng Phú, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh;
- Phía Tây giáp: xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Xí nghiệp Tam Thiên Mẫu thuộc Công ty TNHH Nhà nước Một thành
viên Đầu tư và PTNN Hà Nội tiền thân là Học viện Nông Lâm,thuộc Bộ
NN&PTNT, quản lý 318 ha đất tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ngày
26 tháng 10 năm 1963, Học viện Nông Lâm được chuyển giao cho Sở
NN&PTNT Hà Nội và đổi tên thành Xí nghiệp Tam Thiên Mẫu.
Xí nghiệp Tam Thiên Mẫu có vị trí tương đối thuận lợi về việc phát

* Cơ sở hạ tầng của Xí nghiệp Tam Thiên Mẫu
- Xí nghiệp không có đường quốc lộ chạy qua, chất lượng đường bộ
của Xí nghiệp ở mức trung bình chưa thực sự đáp ứng nhu cầu phát triển kinh
tế xã hội như hiện nay.
- Xí nghiệp có 1 trạm phát thanh được đặt tại trụ sở chính của Xí
nghiệp, có 4 loa đặt ở 4 đơn vị để thông tin kịp thời các văn bản, Nghị quyết
5
5
của Đảng, Nhà nước và các ban ngành, của Xí nghiệp phục vụ cho nhu cầu
hàng ngày của người dân.
- Hệ thống điện: 100% các hộ gia đình trong Xí nghiệp sử dụng điện
dịch vụ trực tiếp quản lý và phân phối điện tới từng hộ với giá điện hợp lý.
Xí nghiệp có 2 trạm biến áp với 2 km đường điện cao thế và 5 km đường dây
hạ thế. Đây là điều kiện thuận lợi để đảm bảo cho nhu cầu sinh hoạt và sản
xuất của người dân.
- Hệ thống thủy lợi: Xí nghiệp có 3 trạm bơm, hệ thống kênh mương
dài 7 km nhưng hệ thống thủy lợi chưa được kiên cố hóa gây khó khăn trong
sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành NTTS nói riêng. Do đó trong thời
gian tới đồi hỏi Xí nghiệp phải đầu tư để hoàn thiện hệ thống kênh mương
tưới tiêu.
- Cơ sở vật chất: Hiện nay Xí nghiệp đang dần chuyển đổi phương thức
sản xuất từ lao động thủ công sang lao động máy móc nên số lượng đàn trâu
bò cầy kéo hâu như không còn, thay vào đó là các phương tiện LĐSX công
nghiệp như máy cày, máy cấy, máy gặt, máy tuốt lúa… phục vụ cho sản xuất
đạt hiệu quả cao hơn.
2.1.2 Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Của Xí Nghiệp
2.1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển
Thực hiện Nghị quyết 1961 của BCHTW Đảng về quy hoạch xây dựng
vành đai thực phẩm cho các Thành phố và các khu công nghiệp. Theo quyết
định phê duyệt của Thủ trướng Chính phủ (do Phó thủ tướng Phạm Hùng ký),

nghề kinh doanh chủ yếu:
- Trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản.
- Kinh doanh vật tự nông nghiệp, SXKD các loại giống cây trồng.
7
7
Phòng KHKT
Giám đốc
Phòng TCHC Phòng KTTV
Đội sản xuất số 1
P. Giám đốc
P. Giám đốc
Đội sản xuất số 2 Đội sản xuất số 3
Đội sản xuất số 4
Và cũng từ đây Công ty Tam Thiên Mẫu đã mang tên Xí nghiệp Tam
Thiên Mẫu thuộc Công ty TNHH Nhà nước Một thành viên đầu tư & PTNN Hà
Nội .
Sau khi sáp nhập, xí nghiệp Tam Thiên Mẫu đã luôn nhận được sự
quan tâm của công ty như triển khai kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm,
định hướng cho các ngành sản xuất (xí nghiệp đã mở liên doanh liên kết với
các hợp tác xã, huyện Thuận Thành để sản xuất lúa giống , chuyển giao kỹ
thuật, tập huấn công tác chuyên môn nghiệp vụ, tìm kiếm thị trường để tiêu
thụ sản phẩm cho cán bộ công nhân viên (CBCNV) công tác tổ chức quản lý.
Do đó hiệu quả sản xuất đã được nâng lên, đời sống của CBCNV ổn đinh, tốc
độ tăng trưởng hàng năm đạt từ 20-25%, thu nhập bình quân năm của người
lao độngtăng từ 20-27%
2.1.2.2. bộ máy quản lý của xí nghiệp
Sơ đồ 1.3: Bộ máy tổ chức quản lý Xí nghiệp Tam Thiên Mẫu
(Nguồn: Phòng tổ chức hành chính Xí nghiệp)
8
8

- Các tổ, đội sản xuất: thực hiện các kế hoạch tác nghiệp, quản lý công
nhân tổ chức sản xuất nnm theo định hướng chung của Xí nghiệp.
Với cơ cấu tổ chức như trên, XN Tam Thiên Mẫu luôn đảm bảo sự
thống nhất chặt chẽ, mệnh lệnh cấp trên đưa xuống được rõ ràng, nhanh
chóng, không bị chồng chéo trách nhiệm giữa các bộ phận, phòng ban.
2.2. Chức Năng Và Nhiệm vụ của Xí Nghiệp
Nhiệm vụ sản xuất chính của nông trường là sản xuất thịt lợn, rau quả,
thực phẩm cung cấp cho thành phố Hà Nội
Trong thời kì bao cấp ,nông trường đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được
giao, được nhà nước thưởng nhiều huân chương.
Bước vào thời kỳ đổi mới, với cơ chế kinh tế thị trường, nông trường
Tam Thiên Mẫu nay đã chuyển thành công ty Tam Thiên Mẫu với cơ chế
quản lý kinh doanh độc lập, chức năng của công ty hiện nay là sản xuất giống
(cây, con) nông nghiệp, sản xuất lương thực, thực phẩm, chăn nuôi gia súc gia
cầm, thuỷ sản để cung cấp cho thành phố Hà Nội và các tỉnh vùng đồng bằng
Sông Hồng.
• Nhiệm vụ của xí nghiệp
- Sản xuất cây, con phục vụ phát triển nông nghiệp của thành phố Hà
Nội và các tỉnh lân cận, sản xuất lợn giống hướng lạc, cá giống, giống
cây trồng, lúa lai F1, lúa nguyên chủng.
- Sản xuất cây lương thực ( lúa), thực phầm ( rau sạch, rau an toàn ),
phát triển chăn nuôi (lợn thịt hướng nạc), phát triển nuôi trồng thuỷ sản
(cá, tôm càng xanh)
- Phát triển nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, áp dụng công nghệ
cao vào sản xuất cây, con giống và phát triển sản xuất trồng trọt, chăn
nuôi thuỷ sản.
- Trên cơ sở đó thực hiện dịch vụ chuyển giao tiến bộ khoa học, công
nghệ cao vào sản xuất nong nghiệp cho các địa phương.
10
10

vào mọi khâu, mọi bộ phận trong quá trình sản xuất kinh doanh. Từ đây ta
có thể chia hiệu quả thành hai loại: hiệu quả sản xuất kinh doanh (hiệu quả
kinh tế) và hiệu quả kinh tế - xã hội. Hiệu quả trực tiếp của doanh nghiệp là
hiệu quả kinh tế, còn hiệu quả của ngành hiệu quả của nền Kinh tế Quốc
dân là hiệu quả kinh tế - xã hội.
Cả hai hiệu quả này đều có vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước. Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp bảo đảm bù
đắp chi phí đã bỏ ra và vừa có tích lũy để tiếp tục quá trình tái sản xuất mở
rộng. Còn hiệu quả kinh tế - xã hội đem lại lợi Ých cho xã hội và nền Kinh
tế Quốc dân, nó thể hiện qua việc tăng thu ngân sách cho Nhà nước, tạo
thêm công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống của người
lao động và tái phân phối lợi tức xã hội.
3.1.1.2. Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Từ trước đến nay các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác
nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ hữu Ých của sản phẩm sản
xuất tức là giá trị sử dụng của nó (hoặc là doanh thu và nhất là lợi nhuận
12
12
thu được sau quá trình kinh doanh). Khái niệm này lẫn lộn giữa hiệu quả và
mục tiêu kinh doanh.
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh là sự tăng trưởng kinh tế phản ánh
nhịp độ tăng của các chỉ tiêu kinh tế. Cách hiểu này chỉ là phiến diện, chỉ
đúng trên mức độ biến động theo thời gian.
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ tiết kiệm chi phí và mức
tăng kết quả. Đây là biểu hiện của bản chất chứ không phải là khái niệm về
hiệu quả kinh tế
Từ các khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh trên ta có thể
đưa ra một số khái niệm ngắn gọn như sau: hiệu quả sản xuất kinh doanh là
một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động,

doanh tốt nhất, các mặt hàng sản xuất có hiệu quả hơn.
. 3.1.3. Ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu Hiệu Qủa Sản Xuất Kinh Doanh
Của Xí Nghiệp Và Các Mô Hình NTTS
Hiệu quả kinh doanh là một trong các công cụ hữu hiệu để các nhà
quản trị thực hiện các chức năng của mình. Việc xem xét và tính toán hiệu
14
14
quả kinh doanh không những chỉ cho biết việc sản xuất đạt ở trình độ nào
mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích, tìm ra các nhân tố để đưa ra
các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả và giảm chi
phí kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả. Với tư cách là một công cụ đánh
giá và phân tích kinh tế, phạm trù hiệu quả không chỉ được sử dụng ở giác
độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng tổng hợp đầu vào trong phạm
vi toàn doanh nghiệp mà còn sử dụng để đánh giá trình độ sử dụng từng
yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp cũng như ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp.
Ngoài ra, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn là sự biểu hiện của việc
lùa chọn phương án sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp phải tự lùa chọn
phương án sản xuất kinh doanh cho mình phù hợp với trình độ của doanh
nghiệp. Để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp buộc phải
sử dụng tối ưu nguồn lực sẵn có. Nhưng việc sử dụng nguồn lực đó như thế
nào để có hiệu quả lại là một bài toán mà nhà quản trị phải lùa chọn cách
giải. Chính vì vậy, ta có thể nói rằng hiệu quả sản xuất kinh doanh không
chỉ là công cụ hữu hiện để các nhà quản trị thực hiện các chức năng quản
trị của mình mà còn là thước đo trình độ của nhà quản trị.
Ngoài chức năng trên của hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp còn do vai trò quan trọng của nó trong cơ chế thị trường.
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là cơ sở cơ bản để đảm bảo
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Sự tồn tại của doanh
nghiệp được xác định bởi sự có mặt của doanh nghiệp trên thị trường, mà

các doanh nghiệp phải tự tìm tòi, đầu tư tạo nên sự tiến bộ trong
kinh
doanh. Chấp nhận cơ chế thị trường là chấp nhận sự cạnh tranh. Song khi
thị trường ngày càng phát triển thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày
càng gay gắt và khốc liệt hơn. Sự cạnh tranh lúc này không còn là sự cạnh
tranh về mặt hàng mà cạnh tranh về mặt chất lượng, giá cả và các yếu tố
khác. Trong khi mục tiêu chung của các doanh nghiệp đều là phát triển thì
cạnh tranh là yếu tố làm cho các doanh nghiệp mạnh lên nhưng ngược lại
cũng có thể là cho các doanh nghiệp không tồn tại được trên thị trường. Để
đạt được mục tiêu là tồn tại và phát triển mở rộng thì doanh nghiệp phải
chiến thắng trong cạnh tranh trên thị trường. Do đó doanh nghiệp phải có
hàng hóa dịch vụ chất lượng tốt, giá cả hợp lý. Mặt khác hiệu quả lao động
là đồng nghĩa với việc giảm giá thành, tăng khối lượng hàng hóa bán, chất
lượng không ngừng được cải thiện nâng cao
Thứ ba, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là nhân tố cơ bản
tạo ra sự thắng lợi cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động trên
thị trường. Muốn tạo ra sự thắng lợi trong cạnh tranh đòi hỏi các doanh
nghiệp phải không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình. Chính sự
nâng cao hiệu quả kinh doanh là con đường nâng cao sức cạnh tranh và khả
năng tồn tại, phát triển của mỗi doanh nghiệp.
- Nghiên cứu HQSX của các mô hình kinh tế nói chung, các mô hình
NTTS nói riêng là việc sử dụng các chỉ tiêu thống kê để phân tích, đánh giá,
so sánh nhằm tìm ra mô hình có hiệu quả kinh tế cao nhất.
17
17
- Mặt khác, việc nghiên cứu này cũng giúp tổng hợp được KQSX bình
quân của các mô hình, tính toán được các chỉ tiêu về HQSX như thu nhập hỗn
hợp trên một đồng vốn đầu tư và trên một công lao động để đưa ra được mô
hình có hiệu quả nhất. Từ đó đinh hướng, khuyến khích hộ nông dân dần
chuyển sang sản xuất ở mô hình đó sao cho phù hợp với điều kiện của gia

đó, đi đôi với việc phân bổ và phát triển ngành NTTS thì cần giải quyết tốt
khâu tiêu thụ, bảo quản và chế biến sản phẩm của ngành.
3.1.5. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Hiệu Quả Sản Xuất Kinh Doanh Của Các
Mô Hình NTTS
Việc nghiên cứu các yêu tố anh hưởng đến hiệu quả sản xuất
kinh doanh nhằm mục đích thấy được sự ảnh hưởng có tính tích
cực và có tính tiêu cực của các nhân tố đó, xây dựng các chiến lược cho
doanh nghiệp nhằm tận dụng những thuận lợi và có biện pháp
khắc phục những khó khăn để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
3.1.5.1 Những yếu tố về điều kiện tự nhiên
Yếu tố tự nhiên là yếu tố ảnh hưởng lớn đên phát triển mô hình NTTS
ven biển vì đây là ngành đòi hỏi môi trường khắt khe. Khi nguồn nước, khí
hậu, môi trường đột ngột thay đổi sau các diện biến thời tiết như bão, gió
mùa Đông Bắc, mưa phùn, sương mù nếu không có biện pháp xử lý kịp thời
sẽ ảnh hưởng rất xấu tới kết quả sản xuất của người dân, thậm chí có khi dẫn
tới mất trắng.
Mặt khác, đối tượng sản xuất của ngành NTTS là sinh vật cho nên sự
phát triển của các loài thủy sản nuôi phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự
nhiên như: Nhiệt độ, độ pH, các loại muối hòa tan (độ cứng, độ kiềm, độ
mặn), các khí hòa tan (O
2
, CO
2
, N
2
), độ trong của ao nuôi và đáy ao Vì vậy
mà người NTTS cần quan tâm, theo dõi và có các biện pháp xử lý kịp thời để
tạo ra môi trường thuận lợi cho thủy sinh vật, hạn chế dịch bệnh nhằm nâng
cao HQSX trong NTTS.
19

cá, tôm trong NTTS. Cá trắm cỏ khi sử dụng một loại thức ăn, trong điều kiện
đủ oxy thì hệ số chuyển hóa thức ăn là 28, nhưng nếu ao nuôi thiếu oxy kéo
dài thị hệ số này lên tới 125. Khi ao, đầm nuôi thiếu oxy thì cá, tôm sẽ nổi
liên tục, nếu oxy giảm thấp và kéo dài có thể làm cá, tôm bị chết do ngạt.
* Màu nước và độ trong của nước
- Màu nước: Nước nguyên chất không có màu. Màu của nước thiên
nhiên được tạo bởi màu sắc của các vật chất trong khối nước đó. Trong các
ao, đầm nuôi thủy sản màu của nước thường có màu xanh do sự có mặt của
tảo. Tảo là nguồn thức ăn quan trọng cho nhiều loài cá, tôm. Tảo có chứa chất
20
20
diệp lục nên chúng có khả năng tạo oxy trong nước. Do vậy, màu nước có
một ý nghĩa quan trọng trong NTTS.
- Độ trong: Trong ao, đầm NTTS độ trong của nước thể hiện chủ yếu ở
mật độ của tảo. Vì vậy, độ trong có quan hệ mật thiết với màu nước.
* Độ pH nước
Độ pH là đại lượng đặc trưng cho nồng độ ion H
+
có trong môi trường
nước, nó là chỉ số độ axít hay độ kiềm của nước và gắn liền với chế độ khí
của vùng nước.
pH nước có ảnh hưởng lớn đến đời sống của sinh vật thủy sản, pH nước
khi quá cao hay quá thấp sẽ làm thay đổi độ thẩm thấu của màng tế bào làm
rối loạn quá trình trao đổi muối – nước giữa cơ thể sinh vật thủy sản với môi
trường bên ngoài. Sinh vật thủy sản chỉ có thể tồn tại trong nước có khoảng
pH nước xác định. pH nước có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của phôi,
quá trình dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh sản của cá, tôm. Cá sống trong môi
trường có pH nước thấp sẽ chậm phát dục, nếu pH nước quá thấp sẽ không đẻ
hoặc đẻ rất ít. Giới hạn pH thích hợp trong ao nuôi là 6,5 – 8,5
3.1.5.2 Những yếu tố về kỹ thuật

trồng theo đúng yêu cầu của quy trình kỹ thuật. Điều này chỉ có thể thực hiện
được khi người nuôi trồng đủ vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật NTTS
đồng bộ và có chất lượng tốt. Vì vậy để duy trì được hoạt động sản xuất kinh
doanh, nâng cao được hiệu quả kinh tế trong các ngành sản xuất nói chung và
ngành NTTS nói riêng thì yếu tố vốn không thể thiếu được trong mỗi hoạt
động sản xuất kinh doanh của ngành.
* Lao động
Số lượng và chất lượng lao động là nhân tố hàng đầu ảnh hưởng đến
quá trình phát triển NTTS. Lao động trong NTTS đòi hỏi phải am hiểu về kỹ
thuật nuôi trồng, có kinh nghiệm và kỹ năng quản lý nuôi trồng theo những
hình thức và quy mô nhất định. Do đặc điểm của NTTS chủ yếu là đơn vị
22
22
kinh tế hộ, trang trại, doanh nghiệp tư nhân và tập thể nên lao động trong
NTTS rất đa dạng và thường gắn với nông nghiệp, nông thôn. Vì vậy công tác
đào tạo, huấn luyện phát triển nguồn lao động cho NTTS là vấn đề đặc biệt
cần quan tâm.
* Thị trường
NTTS là một ngành sản xuất vật chất. Nó tồn tại và phát triển phụ
thuộc rất lớn vào yếu tố thị trường. Thị trường ở đây bao gồm cả thị trường
đầu vào cho sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra, tuy nhiên đối với
NTTS thị trường tiêu thụ đóng vai trò quyết định. Sản phẩm của ngành NTTS
được tiêu thụ ở hai thị trường: Thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu.
- Đối với thị trường trong nước: Đối tượng chủ yếu là các nhà máy chế
biến, các nhà hàng, khách sạn và một bộ phận tầng lớp dân cư, do đó, số
lượng tiêu thụ còn ít. Tuy nhiên, theo dự báo cho thấy thị trường nội địa ngày
càng rộng lớn và hấp dẫn do người dân có thu nhập cao, đời sống ngày càng
đi lên, người tiêu dùng dùng nhiều sản phẩm thủy sản hơn là từ thịt gia cầm,
gia súc bởi tính ưu việt của sản phẩm thủy sản. Vì vây, nếu biết tận dụng cơ
hội và phát huy tối đa lợi thế của mình, ngành NTTS sẽ chiếm lĩnh thị trường

việc phát triển NTTS của Xí nghiệp có thay đổi. Công nhân ở đây đã mạnh
dạn đầu tư NTTS ao hồ và 1 số hộ chuyển đổi từ chân ruộng trũng mà cấy lúa
hiệu quả thấp sang mô hình cá – lúa đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với
chỉ cấy lúa 2 vụ/1 năm.
Trong 1 vài năm trở lại đây, thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong sản xuất nông nghiệp. Một số chính sách khuyến khích phát
triển NTTS của Thành phố Hà Nội nói chung, đã tạo bước tích cực trong
NTTS. Bước đầu một số hộ đã dám đầu tư lớn vào NTTS, nhiều hộ vay vốn
100% nhưng phần lớn vẫn mang tính tự phát. Sản phẩm của NTTS ở đây chủ
yếu là các loài cá rô, cá trắm, mè, trôi, các loài đặc sản như: Trắm đen, cá
24
24
chuối, tôm càng xanh… không đáng kể. Phương thức tiêu thụ là xuất biến
tươi sống không có cơ sở chế biến.
3.2.1.1. Các hình thức NTTS chủ yếu ở Xí nghiệp Tam Thiên Mẫu
Xí nghiệp Tam Thiên Mẫu có rất nhiều tiềm năng và cơ hội để phát
triển ngành NTTS. Tiềm năng về tự nhiên và nguồn lao động khá dồi dào,
tiềm năng về địa hình rộng lớn
Xí nghiệp Tam Thiên Mẫu nằm ở phía Đông Nam của thành phố Bắc
Ninh có các ao hồ xen lẫn các chân ruộng trũng, có dải đồng bằng khá rộng.
Với những đặc điểm trên, các mô hình NTTS phát triển khá đa dạng.
Bảng 2.1 Các mô hình NTTS ở Xí nghiệp Tam Thiên Mẫu
Chỉ tiêu
Ao hồ Ruộng trũng
Chuyên

Cá - vịt
Cá -
chuồng trại
Cá - lúa

trôi
Tôm
càng
xanh
(Nguồn: Phòng Kế hoạch kỹ thuật)
3.2.1.2.Hệ thống thị trường tiêu thụ sản phẩm
Hiện nay, do quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, đời sống nhân dân
đòi hỏi ngày càng cao, thu nhập bình quân tăng lên đáng kể, nhu cầu về các
sản phẩm thiết yếu cũng dần dần thay đổi. Do vậy nhu cầu về các sản phẩm
nông sản ngày càng tăng, đặc biệt là nhu cầu về các sản phẩm thủy sản. Hơn
25
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status