MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tiến hành CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân được Đảng và Nhà nước ta xác định
là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Muốn thực hiện
thành công sự nghiệp này trước hết cần xây dựng một CCKT, CCLĐ hợp lý. Do đó
CDCCLĐ là một trong những nội dung cơ bản của đường lối phát triển kinh tế do
Đảng và Nhà nước ta khởi xướng và lãnh đạo, nhằm đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH
đất nước và tạo điều kiện cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày
càng có hiệu quả.
Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, CCLĐ ở nước ta đã có sự chuyển
dịch theo hướng tích cực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững,
lạm phát được đẩy lùi… Tuy nhiên, quá trình CDCCLĐ ở nước ta diễn ra còn chậm,
chưa đáp ứng được nhu cầu đề ra. Chính vì vậy, để đạt được mục tiêu đưa nước ta cơ
bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 thì việc CDCCLĐ đóng vai trò
quan trọng cần được nghiên cứu.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận, thực tiễn của đất nước nói chung và của
huyện Phú Ninh nói riêng nên em đã chọn đề tài “Chuyển dịch cơ cấu lao động ở
huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
CDCCLĐ theo hướng CNH, HĐH cho đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu đề
cập và tiếp cận theo nhiều góc độ khác nhau. Nhưng trên địa bàn huyện Quảng Trạch
hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu nào về đề tài này dưới dạng luận văn khoa
học nhằm phân tích và đánh giá đúng thực trạng quá trình CDCCLĐ để từ đó đưa ra
các giải pháp mang tính thiết thực, thúc đẩy quá trình CDCCLĐ đáp ứng nhu cầu
CNH, HĐH của huyện.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích: làm rõ vị trí, vai trò, tiềm năng và thực trạng của CDCCLĐ ở huyện
Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình hiện nay. Trên cơ sở đó đề xuất các phương hướng,
giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình CDCCLĐ trên địa bàn huyện trong thời gian tới.
1
Nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về CDCCLĐ trong tiến trình
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về CDCCLĐ
Chương 2: Thực trạng CDCCLĐ trong tiến trình CNH, HĐH ở huyện Quảng
Trạch, tỉnh Quảng Bình
Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy CDCCLĐ theo
hướng CNH, HĐH ở huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ CƠ CẤU LAO ĐỘNG
VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG
1.1. Khái niệm về cơ cấu lao động
1.1.1. Khái niệm về cơ cấu lao động
LĐ bao giờ cũng là nguồn gốc của mọi của cải, là hoạt động có mục đích, có ý
thức của con người nhằm tạo ra của cải để phục vụ cho con người và xã hội. Ở mọi
lúc, mọi nơi người ta đều tìm cách sử dụng có hiệu quả và hợp lý nguồn LĐ.
CCLĐ là một phạm trù kinh tế tổng hợp, thể hiện tỷ lệ của từng bộ phận LĐ nào
đó chiếm trong tổng số, hoặc thể hiện sự so sánh của bộ phận LĐ này so với bộ phận
LĐ khác.
Hoặc, CCLĐ là một phạm trù kinh tế, phản ánh hình thức cấu tạo bên trong của
tổng thể lao động, sự tương quan giữa các bộ phận và mối quan hệ giữa các bộ phận
đó. Đặc trưng của CCLĐ là mối quan hệ tỷ lệ về mặt số lượng và chất lượng LĐ theo
các tiêu chí nhất định.
Cũng có quan niệm cho rằng: CCLĐ là tổng thể các mối quan hệ tương tác giữa
các bộ phận LĐ trong tổng nguồn LĐXH và được biểu hiện thông qua những tỷ lệ
nhất định
1.1.2 Vị trí của chuyển dịch cơ cấu lao động
1.1.2.1 Sự cần thiết của chuyển dịch cơ cấu lao động
CDCCLĐ là sự thay đổi tăng, giảm trong quan hệ tỷ lệ, cũng như xu hướng vận
động của từng bộ phận trong tổng số lao động, trong một không gian, khoảng thời gian
và theo một chiều hướng nhất định.
Trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước việc xác định chất lượng LĐ là vấn đề hết
CDCCKT và CDCCLĐ ở nông thôn. Bên cạnh đó, nông nghiệp cũng là nhân tố chính
đóng góp vào sự phát triển kinh tế và giảm nghèo đói ở nông thôn. Cách thức hiệu quả
nhất để đạt được hai mục tiêu này chỉ có thể là nâng cao năng suất LĐ nông nghiệp.
Thứ hai, năng suất và thu nhập trong công nghiệp và dịch vụ cao hơn nông
nghiệp nhằm thu hút LĐ từ ngành nông nghiệp sang các ngành này.
5
Đây là tiền đề cơ bản của sự PCLĐ xã hội. Năng suất và thu nhập là hai yếu tố
tiên quyết cho quá trình CDCCLĐ theo hướng CNH, HĐH và sản xuất hàng hóa lớn.
Các nhà khoa học cho rằng sự chênh lệch về thu nhập giữa LĐ ở các khu công nghiệp,
các nhà máy với thu nhập từ sản xuất nông nghiệp là lý do cơ bản của sự CDCCLĐ.
Ở nước ta, mặc dù GDP khu vực nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay tăng
nhanh nhưng tốc độ thu nhận lao động lai có xu hướng giảm dần. Nguyên nhân là do
năng suất lao động trong khu vực này thấp hơn nhiều so với khu vực công nghiệp và
dịch vụ. Khoảng cách về năng suất lao động giữa ngành nông nghiệp và các ngành
công nghiệp, dịch vụ càng lớn chứng tỏ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp hoạt
động hạn chế hơn nhiều so với các ngành kinh tế khác. Năng suất lao động, mức tăng
trưởng lĩnh vực nông nghiệp thấp hơn và tất yếu thu nhập của lao động cũng thấp hơn
nhiều so với lĩnh vực phi nông nghiệp và khoảng chênh lệch đó là ngày càng lớn.
1.1.2.2 Quan điểm của Đảng ta về chuyển dịch cơ cấu lao động
Trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, mối liên hệ biện chứng giữa quy mô và
CCKT, CCLĐ có ý nghĩa rất quan trọng. Chúng phản ảnh cả hai mặt số lượng và chất
lượng của sự phát triển trong một tổng thể thống nhất và chúng cần được nhận thức
theo bản chất vận động và phát triển để phục vụ việc hoạch định chính sách và chỉ đạo
thực hiện.
Từ quan điểm còn đơn giản về công nghiệp hóa
những năm 1960, khi tiến hành
công cuộc đổi mới, Đảng ta chủ trương bắt đầu từ đổi mới tư duy kinh tế, thật sự tôn
trọng các quy luật kinh tế khách quan. Thực tiễn trải qua các Đại hội Đảng, các quan
điểm về CDCCKT, CCLĐ ngày một hoàn thiện.
nhiên, CCLĐ thường được dùng phổ biến là: CCLĐ chia theo ngành kinh tế; CCLĐ
phân theo thành thị, nông thôn; CCLĐ chia theo giới tính, độ tuổi; CCLĐ chia theo
trình độ học vấn; CCLĐ chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật; CCLĐ chia theo loại
hình sở hữu.
Cơ cấu lao động chia theo nhóm ngành kinh tế:
Gắn với quá trình PCLĐ xã hội, nền sản xuất và LĐXH thường được phân chia
thành ba nhóm ngành lớn là: nông nghiệp (nông, lâm, ngư nghiệp), công nghiệp (công
nghiệp và xây dựng), dịch vụ (thương mại và du lịch, dịch vụ).
7
Theo xu hướng chung của toàn thế giới, tỷ trọng lực lượng LĐ trong nhóm ngành
nông nghiệp sẽ giảm mạnh và chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong GDP, trong khi đó tỷ
trọng LĐ trong nhóm ngành công nghiệp và dịch vụ sẽ tăng lên, đặc biệt là nhóm
ngành dịch vụ sẽ tăng với tốc độ cao nhất và chiếm tỷ trọng chi phối từ 60 – 70%
trong GDP quốc gia.
Cơ cấu lao động chia theo khu vực thành thị, nông thôn:
Quá trình tăng trưởng và phát triển của các ngành kinh tế tất yếu dẫn đến quá
trình phân hóa, tập trung hóa và chuyên môn hóa lao động. Cùng với quá trình CNH,
HĐH, các khu công nghiệp mới, các vùng chuyên canh nông nghiệp mới, các thành
phố thị trấn mới dần mọc lên và mở rộng phạm vi hoạt động, dẫn tới sự chuyển dịch
và thay đổi rõ rệt cơ cấu nguồn LĐ giữa các vùng, địa phương, khu vực… đặc biệt là
giữa thành thị và nông thôn.
Thường thì khu vực thành thị có nhiều nhà máy xí nghiệp, công ty, kinh tế - xã
hội phát triển nên cuộc sống cũng như cơ hội tìm kiếm việc làm lớn. Vì vậy, ở khu vực
thành thị thu hút được rất nhiều LĐ đến. Khu vực nông thôn thì ngược lại.
Cơ cấu lao động chia theo nhóm tuổi:
Ở mỗi độ tuổi khác nhau sức khỏe, trí lực khác nhau theo đó khả năng LĐ sẽ khác
nhau. Vì vậy, khi xem xét về khả năng và hiệu suất lao động, các chuyên gia đặc biệt
quan tâm đến lứa tuổi của các nhóm LĐ khác nhau, trong đó lực lượng LĐ trẻ (nằm
trong độ tuổi 15 – 34) trong lực lượng LĐ người ta phân ra các nhóm luôn được đánh
giá là lực lượng nòng cốt và kế cận có khả năng phát huy sức mạnh sáng tạo, làm tăng
phản ánh trình độ và là kết quả của sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất ngày càng phát triển tạo điều kiện cho quá trình PCLĐ một cách
sâu sắc và sự phát triển của PCLĐ đến lượt nó lại càng làm cho các mối quan hệ KT
càng củng cố, phát triển. Như vậy, sự thay đổi về số lượng và chất lượng của CCKT,
CCLĐ phản ánh trình độ phát triển của sức sản xuất xã hội và nó phản ánh kết quả quá
trình công nghiệp hoá đất nước.
Chính vì thế, ngày nay KT học phát triển xem CDCCLĐ là một trong những tiêu
chí phản ánh quan trọng của quá trình CDCCKT, mức độ phát triển của nền KT. Ở góc
phân tích KT vĩ mô, chỉ tiêu cơ cấu lực lượng LĐ đang làm việc trong nền KT là chỉ
tiêu phản ánh sát thực nhất mức độ thành công về mặt KT - XH của quá trình CNH,
9
HĐH. Bới vì công nghiệp hoá, hiểu theo nghĩa đầy đủ của nó, không chỉ đơn thuần là
sự gia tăng tỷ trọng giá trị của sản xuất công nghiệp, mà phải là quá trình CNH, HĐH
đời sống xã hội con người, trong đó cơ sở quan trọng nhất là số lượng LĐ đang làm
việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng lực lượng
LĐ đang làm việc trong nền KT. Tầm quan trọng của CDCCLĐ thậm chí còn được
một số KT gia xem như chỉ tiêu quyết định nhất để đánh giá mức độ thành công của
quá trình công nghiệp hoá trong nghiên cứu so sánh giữa các nền KT.
Quá trình CDCCLĐ là cơ sở để nâng cao năng suất LĐ, tạo ra giá trị mới ngày
càng dồi dào, khai thác hiệu quả tiềm năng của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ. Ở
nông thôn, đẩy mạnh PCLĐ xã hội chính là tiền đề để đưa KT nông thôn phát triển
theo hướng sản xuất hàng hoá lớn.
Và chúng ta cũng có thể hiểu CDCCLĐ có vai trò như sau:
- Quá trình CDCCLĐ càng sâu rộng càng tạo điều kiện cho người LĐ tích luỹ
kinh nghiệm và kỹ năng sản xuất, nâng cao trình độ chuyên môn và kiến thức của họ,
phát triển các công cụ LĐ.
- CDCCLĐ là một nhân tố quan trọng thúc đẩy việc hình thành và hoàn thiện
một CCKT hợp lý.
- CDCCLĐ giúp tiết kiệm chi phí và thời gian LĐ thúc đẩy công nghệ và nâng
cao tay nghề của người LĐ, là đòn bẩy tăng năng suất LĐ và thúc đẩy KT phát triển.
nào, vai trò quản lý của nhà nước luôn giữ một vị trí quan trọng. Ở từng giai đoạn khác
nhau, sự can thiệp của nhà nước thông qua các chính sách kinh tế vào các quá trình KT
- XH là khác nhau. Bằng các chính sách cụ thể, nhà nước đã tác động trực tiếp và gián
tiếp nhằm thúc đẩy quá trình CDCCLĐ. Một số chính sách ảnh hưởng mạnh mẽ đến
quá trình CDCCLĐ như: chính sách đất đai, chính sách tài chính tín dụng, chính sách
đầu tư, các chương trình dự án về phát triển hạ tầng nông thôn, xóa đói giảm nghèo…
Thông qua hệ thống chính sách này sẽ thúc đẩy quá trình PCLĐ, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực đồng thời đẩy nhanh tốc độ CDCCLĐ. Sự tác động đó của nhà nước
có thể mang lại kết quả tích cực hoặc tiêu cực, nhưng xét ở góc độ vĩ mô nó phải tạo ra
sự chuyển dịch mang tính khách quan, tiến bộ hơn.
Cơ sở hạ tầng của địa phương cũng có tác động rất lớn đến quá trình chuyển dịch
cơ cấu lao động. Những hộ gia đình được tiếp cận với các công trình hạ tầng nông thôn
11
sẽ có khả năng chuyển dịch LĐ lớn hơn những hộ không được tiếp cận. Những chính
sách thúc đẩy phát triển hạ tầng cơ sở nông thôn và cả những chính sách phát triển cơ sở
hạ tầng ở thành thị, đô thị hóa đều có tác động làm tăng khả năng CDCCLĐ.
Như vậy, yếu tố cơ sở hạ tầng nông thôn là một yếu tố “kéo” quan trọng thúc
đẩy CDCCLĐ.
Yếu tố công nghiệp hóa, đô thị hóa của địa phương cũng có tác động mạnh đến
CDCCLĐ.
Quá trình công nghiệp hóa gắn liền với sự phát triển của ngành công nghiệp đặc
biệt là các ngành có hàm lượng khoa học cao. Việc phát triển các ngành sản xuất cả về
số lượng và chất lượng là một biểu hiện của sự phát triển lực lượng sản xuất, phát triển
cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế làm cho CCKT thay đổi mạnh mẽ do sự biến
đổi của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Sự thay đổi CCKT tất yếu dẫn đến sự
thay đổi CCLĐ trong nền kinh tế.
Còn quá trình đô thị hóa một mặt làm giảm diện tích đất nông nghiệp, nhu cầu
LĐ nông nghiệp giảm dần; mặt khác, do sự phát triển về cơ sở hạ tầng, tâm lý người
LĐ và việc dư thừa LĐ nông nghiệp dẫn đến xu hướng phát triển các ngành công
nghiệp và dịch vụ. Từ đó, làm cho tỷ trọng LĐ của các ngành này không ngừng tăng
động xã hội. Từ đó, tạo tiền đề vật chất để di chuyển một bộ phận lao động nông
nghiệp sang các ngành nghề khác làm CDCCKT và CCLĐ ở nông thôn.
Trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sự phát triển của một quốc
gia phụ thuộc nhiều vào nguồn lực con người với trí tuệ và trình độ tay nghề là chủ
yếu thay vì chỉ dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên như trước đây. Đặc biệt sự phát
triển của nền kinh tế tri thức là giai đoạn mới của lực lượng sản xuất, chuyển từ việc
sử dụng nguồn lực vật chất sang nguồn lực trí tuệ và làm thay đổi bản tính của lao
động. Từ đó làm cho tỷ trọng LĐ trực tiếp sẽ giảm mạnh và LĐ được đào tạo chuyên
sâu, tỷ trọng LĐ gián tiếp và dịch vụ tăng lên.
Cuộc cách mạng lần thứ ba xuất hiện vào những năm 80 của thế kỷ XX hay là
cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã tạo tiền đề cho ngày nay thế giới bước vào
kỷ nguyên của “cuộc cách mạng công nghệ mới” với những biến đổi sâu sắc trong các
lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và con người với tri thức của mình sẽ ngày
càng đóng vai trò trung tâm của sự phát triển. Chính cuộc cách mạng khoa học công
13
nghệ đã đưa vai trò các yếu tố lợi thế so sánh truyền thống như: tài nguyên, vốn và
công nghệ xuống hàng thứ yếu so với thông tin và tri thức.
Nước ta tiến hành CNH, HĐH với điểm xuất phát thấp nên những yếu tố khoa
học và công nghệ có tác động mạnh mẽ đến việc đào tạo nguồn LĐ có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao. Chính vì thế, Đảng ta đã xác định chiến lược CNH, HĐH cần kết
hợp với những thành tựu khoa học công nghệ nhằm đào tạo nguồn LĐ có chất lượng
cao với cơ cấu hợp lý để đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước. Đảng ta khẳng
định : “phát triển mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động khoa học và công nghệ với
giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy
nhanh và phát triển kinh tế tri thức”.
1.3 Một số kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu lao động
1.3.1 Kinh nghiệm của thế giới
1.3.1.1 Trung Quốc
Trung Quốc là nước dẫn đầu thế giới về dân số và lao động. Vì vậy, sức ép tạo
việc làm và tăng thu nhập cho người LĐ luôn là một vấn đề nhức nhối và được chính
Trước các chính sách về việc làm và LĐ đã tạo cho Trung Quốc có được sự
chuyển dịch LĐ trong các ngành nghề, và tạo ra được đội ngũ LĐ có trình độ chuyên
môn cao phục vụ tốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
1.3.1.2 Các nước ASEAN
Sự phát triển của các nước ASEAN trong 30 năm qua là kết quả của quá trình tìm
tòi, thử nghiệm để cuối cùng tìm ra chiến lược phát triển và chính sách kinh tế vĩ mô
thích hợp với điều kiện trong và ngoài nước. Tuy mỗi nước có chiến lược phát triển
riêng nhưng mỗi quốc gia đều được dựa trên nền tảng là con người. Chính vì thế họ đã
có những chiến lược tận dụng tối đa nguồn LĐ của mình, định hướng một CCLĐ hợp
lý. Dưới đây là những kinh nghiệm chung trong lĩnh vực CDCCLĐ theo hướng CNH,
HĐH của các nước này.
+ Phát huy yếu tố con người - động lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Các nước
ASEAN thường xuyên quan tâm đào tạo để tạo ra được CCLĐ phục vụ tốt quá trình
CDCCKT. Điều này được thể hiện như ở Thái Lan, sự nghiệp đào tạo ngành nghề đã
trở thành một hệ thống phục vụ đắc lực cho nền kinh tế quốc dân. Ngoài hệ thống đào
tạo chính quy, chính phủ Thái Lan còn tổ chức ra nhiều trường kỹ thuật hỗn hợp để
15
đào tạo cho thanh thiếu niên theo những khoá học ngắn hạn, đồng thời thành lập ở các
địa phương những trung tâm đào tạo nghề.
Ở Singapo chủ yếu nhờ vào đội ngũ LĐ được trải qua quá trình đào tạo cẩn thận,
có tri thức chuyên môn và kỹ năng cao, mà Singapo từ những năm 60 đến đầu thập kỷ
80 đã giữ được tốc độ phát triển ở mức 9%. Singapo chú trọng hợp tác với các công ty
đa quốc gia hoặc chính phủ nước ngoài lập ra các trung tâm đào tạo nghề nghiệp, bồi
dưỡng đào tạo chuyên môn mà nền công nghiệp mới phát triển của nước này đòi hỏi.
+ Chuyển mạnh nền kinh tế từ hướng nội sang hướng ngoại, nông nghiệp sang
công nghiệp và xúc tiến dịch vụ qua các chính sách ưu tiên, coi đó là động lực phát
triển kinh tế giải quyết việc làm ở mỗi nước.
Cụ thể, các nước ASEAN đã kết hợp chặt chẽ việc phát triển nông nghiệp truyền
thống, đồng thời phát triển các ngành công nghiệp tận dụng nguồn LĐ dồi dào như
dệt, may mặc, nhưng vẫn phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật
năm 2006 đạt 31,5%, trong đó, có 20% qua đào tạo nghề (năm 2001 là 13,4%), đáp
ứng tốt hơn nhu cầu của nền kinh tế; góp phần tạo cơ hội việc làm cho người lao động,
thúc đẩy quá trình CDCCLĐ, CCKT theo hướng CNH, HĐH.
1.3.2.2 Kinh nghiệm của Tỉnh Vĩnh Phúc
Trong những năm gần đây tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt được nhiều thành tựu trong
CDCCLĐ. Những năm trước 1997 kinh tế còn nhiều khó khăn, mức tăng trưởng chậm,
phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp, thu ngân sách của tỉnh mới chỉ đạt trên dưới 100
tỷ đồng, GDP bình quân đầu người chỉ bằng 47,8% bình quân cả nước. Sau hơn 10
năm phát triển, Vĩnh Phúc đã trở thành một tỉnh công nghiệp với CCKT: công nghiệp
– xây dựng chiếm tỷ trọng: 57,9%, nông nghiệp chiếm 16,3%, thương mại – dịch vụ
chiếm 25,8%.
CDCCKT thường kéo theo CDCCLĐ, sự chuyển dịch LĐ của Vĩnh Phúc đã trải
qua nhiều giai đoạn: Từ năm 1997 – 2000: CCLĐ trong nông-lâm-ngư nghiệp là 79,3%,
công nghiệp –xây dựng 9,3 %, dịch vụ 11,4%; từ 2000 – 2005 tỷ lệ nông giảm xuống
còn 59,9%, công nghiệp-xây dựng tăng 17,4%, dịch vụ tăng 22,6%, từ năm 2005 – 2007
nông – lâm – ngư nghiệp tiếp tục giảm xuống 55%, công nghiệp – xây dựng tăng lên
21% và dịch vụ tăng lên 24%. Đến hết năm 2008 tỷ lệ này đã đạt mức: nông – ngư –
ngư nghiệp giảm xuống còn 52%, công nghiệp – xây dựng 21%, dịch vụ 27%.
17
Tỷ lệ thời gian có việc làm của LĐ trong độ tuổi ở nông thôn còn thấp. Theo con
số điều tra được từ chính những người nông dân Vĩnh Phúc thì trong một năm thời
gian sản xuất chỉ dùng đến 60% quỹ thời gian LĐ còn lại là 40 % nông nhàn. Một số
xã có làng nghề như Triệu Đề chuyên đan thúng mủng thì tuy thời gian nông nhàn
được người dân sử dụng vào đan nhưng hiệu quả chưa thực sự nhiều chưa mang lại thu
nhập cao cho người lao động. Hiện nay xu hướng CDCCLĐ của Vĩnh Phúc diễn ra
khá đa dạng, tuy nhiên chủ yếu là những xu hướng sau:
Chuyển một bộ phận LĐ có thu nhập thấp sang phát triển một số ngành nghề có
thu nhập cao như công nghiệp – xây dựng, thương mại – dịch vụ, chuyển LĐ cơ bắp
sang LĐ chất xám, chuyển LĐ ở những vùng đông LĐ không cân đối với tài nguyên
sang vùng ít lao động, nhiều tài nguyên, tăng nhanh LĐ ở thành thị sẽ làm thay đổi
khu công nghệ cao và một phần cho xuất khẩu lao động, đồng thời phổ cập nghề cho
số LĐ đại trà ở trình độ thấp.
1.3.2.4 Kinh nghiệm của một số huyện
* Huyện Núi Thành, Tỉnh Quảng Nam:
Năm 2008, thông qua các chương trình phát triển KT - XH toàn huyện đã tạo
việc làm cho 5.541 lao động. Trong đó, LĐ trong lĩnh vực nông - lâm - ngư là 1.190,
LĐ trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng là 2.881, LĐ trong lĩnh vực thương mại -
dịch vụ là 1.470, tạo việc làm thông qua các chương trình mục tiêu như chương trình
120 là 327 lao động, xuất khẩu LĐ đi các nước là 17 LĐ .
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của cả tỉnh, CCLĐ ở Núi Thành cũng đã có
sự chuyển biến theo hướng tích cực. Số LĐ trong công nghiệp - xây dựng; Thương
mại - dịch vụ ngày càng tăng, LĐ trong lĩnh vực nông - lâm - ngư ngày càng giảm.
Chất lượng LĐ được nâng lên, thể hiện rõ ở số LĐ thông qua đào tạo và đào tạo lại,
trình độ học vấn phổ thông của LĐ trong độ tuổi cũng ngày càng được nâng lên (dạy
nghề ngắn hạn năm 2008 là 3.723 lượt người, tăng 21,42% so với năm 2007; dạy nghề
dài hạn là 197 người, giảm 11% so với năm 2007). LĐ trên địa bàn Núi Thành cũng đã
đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nền kinh tế, góp phần tạo cơ hội việc làm cho người lao
động, thúc đẩy quá trình CDCCLĐ, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Để đạt
được kết quả đó thì huyện đã nỗ lực thực hiện các giải pháp sau:
- Giải pháp quan trọng và mang tính quyết định nhất đó là nâng cao chất lượng
nguồn LĐ thông qua đào tạo và dạy nghề. Việc phát triển dạy nghề trong doanh
19
nghiệp và gắn với doanh nghiệp được phát huy, các doanh nghiệp có sự liên kết với
các trường dạy nghề để đào tạo, kiểm tra, đánh giá trình độ, cấp bằng nghề, bậc nghề.
Thiết lập một hệ thống kết nối giữa Nhà nước (địa phương ) - Dạy nghề - Tư vấn, giới
thiệu việc làm - Doanh nghiệp. Bên cạnh đó, huyện đã ban hành chính sách khuyến
khích học nghề, ưu tiên cho hộ nghèo, hộ có LĐ trong vùng di dời giải toả, dân tộc
thiểu số, vùng núi và người tàn tật. Khuyến khích doanh nghiệp tham gia dạy nghề,
phát triển các ngành nghề truyền thống, thu hút LĐ trên địa bàn vào làm việc.
- Tạo nguồn lực để phát triển mạnh các vùng, ngành, lĩnh vực có khả năng thu
- Huyện còn thực hiện nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp cho LĐ nông nghiệp, nông thôn và gắn việc đào
tạo nghề với bố trí việc làm cho người lao động…
1.3.2.5 Bài học kinh nghiệm cho việc chuyển dịch cơ cấu lao động của huyện
Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
Qua việc nghiên cứu những kinh nghiệm CDCCLĐ trên thế giới và trong nước,
chúng ta có thể đúc kết lại thành một số bài học kinh nghiệm cho việc CDCCLĐ của
huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình như sau:
Một là, phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
và các làng nghề truyền thống nhằm giải quyết việc làm cho LĐ nhàn rỗi ở nông thôn,
đồng thời thu hút LĐ từ nông nghiệp sang các khu vực này.
Hai là, cần có những định hướng trong thu hút đầu tư và hướng đến ưu tiên đầu
tư phát triển những ngành sử dụng nhiều lao động.
Ba là, phải nhìn nhận đúng thực trạng của huyện để đưa ra những định hướng và
chiến lược phù hợp cho quá trình phát triển KT - XH.
Bốn là, phải đầu tư, đa dạng hóa các hình thức đào tạo nhằm nâng cao chất lượng
lao động. Ngoài ra, cần đẩy mạnh công tác xuất khẩu LĐ nhằm một mặt tạo nguồn thu
ngoại tệ phục vụ cho nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất, nâng cao sức thu hút LĐ từ nội
bộ nền kinh tế và giải quyết lượng LĐ dôi dư.
Tóm lại, nghiên cứu kinh nghiệm CDCCLĐ trên thế giới và trong nước sẽ giúp
cho huyện Quảng Trạch có những bài học kinh nghiệm trong việc đẩy mạnh CDCCLĐ
trên địa bàn huyện trong thời gian tới. Việc áp dụng các kinh nghiệm của cả nước nói
chung và các huyện nói riêng sẽ giúp cho huyện Quảng Trạch ngày càng phát triển.
21
Cụ thể hơn là tạo ra sự CDCCKT, tác động mạnh đến quá trình CDCCLĐ trong tiến
trình CNH, HĐH. Và để có được kết quả về tăng trưởng và phát triển kinh tế trong
thời gian tới thì một điều cần thiết là huyện cần có những tính toán hợp lý, có những
chiến lược phù hợp với thực trạng của huyện.
22
CHƯƠNG 2
thác. Ngoài ra còn có một trữ lượng lớn về Đá vôi và Đất sét có khả năng cung cấp
nguồn nguyên liệu cho sản xuất vật liệu xây dựng gạch và xi măng.
2.1.3 Đặc điểm kinh tế- xã hội
Trong những năm vừa qua, huyện Quảng Trạch đã nỗ lực tập trung mọi nguồn
lực trong nhân dân, khai thác các tiềm năng, thế mạnh nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Kinh tế huyện Quảng Trạch trong những năm gần đây có bước phát triển đáng
kể. Với việc khai thác có hiệu quả các lợi thế, tiềm năng và phát huy tối đa các nguồn
lực, những năm gần đây nền kinh tế của huyện đã có nhiều chuyển biến tích cực với
tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 8,2%/năm. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúng
hướng, các chương trình kinh tế trọng điểm, nhất là chương trình nuôi trồng và chế
biến thuỷ, hải sản đã phát huy hiệu quả, sản lượng nuôi trồng tăng bình quân hàng năm
từ 50-60%, tỷ lệ xuất khẩu đạt 40%. Cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng được nâng cấp,
xây dựng theo hướng kiên cố hoá.
Năm 2013 giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn huyện đã tăng 13,7%, trong đó, giá
trị sản xuất nông, lâm ngư nghiệp tăng 11,4%. Huyện đã chỉ đạo các địa phương và
nhấn dân đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng
hoá tăng cường công tác khuyến nông chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, giảm
dần diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây công nghiệp, cây ăn quả có năng
suất, hiệu quả kinh tế cao.Tổng sản lượng lương thực đạt 44.836tấn, tăng 8,5% so với
năm 2012. Chăn nuôi phát triển nhanh, đa dạng cả về số lượng lẫn chất lượng các đàn
gia súc, gia cầm. Trong lĩnh vực thuỷ sản, huyện đã thực hiện nhiều chính sách đổi
mới, hỗ trợ, khuyến khích nhân dân đầu tư cho nuôi trồng và chế biến thuỷ sản, sửa
chữa, đóng mới phương tiện phục vụ cho công tác đánh bắt xa bờ. Toàn Huyện đã đầu
tư đóng mới và sửa chữa được hơn 80 chiếc tàu, thuyền các loại, nâng tổng số tàu
thuyền lên 1.709 chiếc với tổng công suất 42.549 CV. Lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp phát triển khá với giá trị tổng sản lượng đạt trên 85tỷ đồng. Hệ thống cơ
sở hạ tầng được tăng cường củng cố, xây dựng với tổng số vốn đầu tư trong năm đạt
24
127,2 tỷ đồng. Hoạt động thương mại, dịch vụ không ngừng được mở rộng, hàng hoá,
25