1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Trương Thị Hoa
LOẠI HÌNH CÁC NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN
TRUYỀN KÌ VIỆT NAM QUA BA TÁC PHẨM
TIÊU BIỂU: THÁNH TÔNG DI THẢO, TRUYỀN
KÌ MẠN LỤC, LAN TRÌ KIẾN VĂN LỤC. LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: VHVN – 08 - 010
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐOÀN THỊ THU VÂN.
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011 MỤC LỤC
1TMỤC LỤC1T 3
1TPHẦN DẪN NHẬP1T 1
1T1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:1T 1
1T2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:1T 2
1T3.LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ:1T 2
1T1.3.1.2. Tình trạng văn bản Truyền kì mạn lục:1T 24
1T1.3.1.3. Tình trạng văn bản Lan Trì kiến văn lục:1T 26
1T1.3.2. Vấn đề niên đại và tác giả của Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục.1T 27
1T1.3.2.1. Ý kiến của các nhà nghiên cứu trước đây:1T 27
1T1.3.2.2. Ý kiến của tác giả luận văn :1T 37
1T1.3.3. Cuộc đời và sự nghiệp các tác giả :1T 40
1T1.3.3.1.Lê Thánh Tông : (1442 – 1497).1T 40
1T1.3.3.2. Nguyễn Dữ :1T 44
1T1.3.3.3. Vũ Trinh1T 45
1T1.4 Vấn đề nhân vật trong tác phẩm văn học :1T 47
1T1.4.1. Khái niệm nhân vật :1T 47
1T1.4.2. Các kiểu loại nhân vật :1T 47
1T1.4.2.1. Từ góc độ nội dung, tư tưởng :1T 47
1T1.4.2.2. Từ góc độ kết cấu – cốt truyện :1T 48
1T1.4.2.3. Từ góc độ thể loại :1T 49
1T1.4.2.4 Từ góc độ chất lượng nghệ thuật :1T 49
1T1.4.2.5 Từ góc độ cấu trúc nhân vật :1T 49
1T1.4.3. Các phương thức, phương tiện và biện pháp xây dựng nhân vật :1T 50
1T1.4.3.1.Chi tiết nghệ thuật :1T 50
1TCHƯƠNG 2: PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM CÁC NHÂN VẬT TRONG THÁNH
TÔNG DI THẢO, TRUYỀN KÌ MẠN LỤC, LAN TRÌ KIẾN VĂN LỤC.
1T 52
1T2.1. Loại hình các nhân vật siêu nhiên và tôn giáo:1T 52
1T2.1.1. Khái quát chung:1T 52
1T2.1.2. Loại hình các nhân vật thần tiên, đạo sĩ:1T 53
1T2.1.2.1. Loại hình các nhân vật thần tiên:1T 53
1T2.1.2.2. Loại hình các nhân vật đạo sĩ:1T 57
1T2.1.2.3. Thái độ đối với Đạo giáo của các tác giáo:1T 59
1T2.1.3. Loại hình các nhân vật nhà sư:1T 61
1TCHƯƠNG 3: VAI TRÒ VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LOẠI HÌNH CÁC NHÂN VẬT
TRONG THÁNH TÔNG DI THẢO, TRUYỀN KÌ MẠN LỤC VÀ LAN TRÌ KIẾN
VĂN LỤC.
1T 113
1T3.1. Vai trò của loại hình các nhân vật trong Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn
lục:1T 113
1T3.1.1. Loại hình các nhân vật trong tác phẩm thể hiện được hiện thực xã hội đương thời:1T 113
1T3.1.1.1. Một xã hội với cuộc sống ấm no hạnh phúc.1T 113
1T3.1.1.2. Một xã hội đầy những biến động loạn ly:1T 115
1T3.1.1.3. Một xã hội với những con người mang trong mình bản chất xấu xa, suy đồi đạo đức.1T 117
1T3.1.2. Loại hình các nhân vật trong tác phẩm thể hiện sự xuất hiện của chủ nghĩa nhân đạo trong văn
học1T 121
1T3.1.2.1. Niềm tin đối với con người trong xã hội.1T 122
1T3.1.2.2. Cái nhìn trân trọng đối với người phụ nữ.1T 126
1T3.1.2.3. Sự quan tâm đến con người ở chiều sâu tâm lý:1T 128
1T3.1.3. Loại hình các nhân vật làm nên sức hấp dẫn cho tác phẩm:1T 130
1T3.1.3.1. Loại hình các nhân vật siêu nhiên tôn giáo gợi lên một thế giới ly kì đồng thời gửi gắm
những quan niệm nhân sinh, đạo lý sâu sắc.1T 130
1T3.1.3.2. Loại hình các nhân vật con vật, đồ vật giáo dục con người những bài học ở đời.1T 132
1T3.1.4. Loại hình các nhân vật có vai trò làm rõ đặc trưng của thể loại truyền kì:1T 134
1T3.1.4.1. Nhân vật được xây dựng với yếu tố “kì”.1T 134
1T3.1.4.2. Nhân vật là người phát ngôn cho ý đồ tác giả.1T 141
1T3.2. Đóng góp của loại hình các nhân vật đối với thể loại truyền kì và văn học trung đại Việt Nam:1T 142
1T3.2.1. Xây dựng một hệ thống nhân vật đa dạng.1T 143
1T3.2.2. Lấy số phận nhân vật làm đối tượng chính trong sáng tác của mình.1T 144
1T3.2.3. Xây dựng thành công những nhân vật có đời sống nội tâm rõ rệt.1T 146
1T3.2.4. Xây dựng thành công nhân vật là hiện thân của nhà văn:1T 150
1TKẾT LUẬN1T 153
1TTÀI LIỆU THAM KHẢO1T 155
nghệ thuật xây dựng nhân vật đã góp phần làm nên giá trị của các tác phẩm. Thế nhưng chưa có
công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về loại hình nhân vật trong ba tác phẩm. Chính vì vậy việc
tìm hiểu loại hình nhân vật trong ba tập truyện là một việc làm hết sức cần thiết. Điều đó sẽ giúp
người đọc có một cái nhìn đầy đủ hơn, toàn diện hơn về tác phẩm. Đồng thời cũng cho thấy được
vai trò, vị trí của loại hình các nhân vật trong thể loại truyền kì nói riêng và văn xuôi tự sự trung đại
nói chung. Đó cũng là nguyên nhân chính khiến người viết quyết định chọn đề tài: “Loại hình các
nhân vật trong truyện truyền kì Việt Nam qua ba tác phẩm tiêu biểu Thánh Tông di thảo,
Truyền kì mạn lục, Lan Trì kiến văn lục”.
2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Trước nay các nhà nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào việc đánh giá những giá trị nội dung và nghệ
thuật của những tác phẩm truyền kì. Ngoài ra khi đề cập đến hình thức của thể loại này, các tác giả
chủ yếu đi vào tìm hiểu từng tác phẩm riêng lẻ, chứ chưa có cái nhìn toàn diện, cụ thể. Chính vì vậy
trên cơ sở tìm hiểu mối liên hệ giữa các nước trong khu vực của thể loại truyền kì, chúng tôi tiến
hành khảo sát loại hình các nhân vật trong ba tác phẩm tiêu biểu: Thánh Tông di thảo, Truyền kì
mạn lục, Lan Trì kiến văn lục. Dưới đây chúng tôi xin điểm qua những mục tiêu mà luận văn đã đặt
ra. Đó là:
- Trên cơ sở tiếp xúc tác phẩm, chúng tôi tiến hành nhóm họp những loại hình nhân vật có những
điểm chung lại với nhau. Từ đó đi sâu vào khảo sát từng loại hình nhân vật.
- Từ chỗ tìm ra những điểm chung của loại hình các nhân vật, bài viết đi vào khảo sát đặc trưng
riêng của từng loại hình. Đó cũng là cách để chúng tôi đi vào phân tích từng loại hình nhân vật.
- Dựa vào việc phân tích từng loại hình nhân vật, chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu những đóng
góp của chúng. Luận văn của chúng tôi không nhằm chỉ ra những đóng góp của từng tác phẩm riêng
lẻ hay của thể loại truyền kì nói chung mà chỉ tìm hiểu những đóng góp của loại hình các nhân vật
trong ba tác phẩm Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục, Lan Trì kiến văn lục đối với thể loại
truyền kì nói riêng và văn xuôi trung đại nói chung.
3.LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ:
Căn cứ vào tình hình tư liệu hiện nay, có thể khẳng định rằng loại hình nhân vật trong Thánh
Tông di thảo, Truyền kì mạn lục, Lan Trì kiến văn lục là một vấn đề chưa được nhiều nhà nghiên
cứu quan tâm, xem xét một cách đầy đủ. Mà nếu có cũng chỉ là những bài nghiên cứu về từng tác
- “Lời giới thiệu về thể loại kí” của Nguyễn Đăng Na, trích trong “Văn xuôi tự sự Việt Nam thời
trung đại”, tập 2, Nxb giáo dục, 1999: tác giả đã dựa vào bản dịch của Thánh Tông di thảo, xuất bản
năm 1963 và cho rằng nhan đề của sách chứng tỏ sách do người đời sau sưu tập.
Trên đây là một số bài nghiên cứu xoay quanh vấn đề văn bản và tác giả của Thánh Tông di
thảo. Ngoài ra còn một số bài nghiên cứu về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Về phương diện
này có thể kể đến một số công trình sau:
- “Yếu tố hư ảo trong Thánh Tông di thảo” của Lê Nhật Ký, trích trong “Hoàng đế Lê Thánh
Tông: nhà chính trị tài năng, nhà văn hóa lỗi lạc”, Nguyễn Huệ Chi, Nxb Khoa học xã hội, 1998:
tác giả đã khẳng định yếu tố kì ảo có một vai trò quan trọng và khẳng định yếu tố kì ảo trong Thánh
Tông di thảo được sử dụng một cách linh hoạt và đem đến cho tác phẩm những giá trị nhất định.
- “Thánh Tông di thảo – bước đột khởi trong tiến trình phát triển của thể loại truyện ngắn Việt
Nam trung cổ” của Vũ Thanh, trích trong “Hoàng đế Lê Thánh Tông: nhà chính trị tài năng, nhà
văn hóa lỗi lạc”, Nguyễn Huệ Chi, Nxb Khoa học xã hội, 1998: tác giả đã khẳng định vị trí của
Thánh Tông di thảo trong toàn bộ sự phát triển của truyện ngắn trung đại Việt Nam: “Thánh Tông di
thảo là một bước tiến mới trong xu hướng ngày càng mở rộng khả năng sáng tạo nghệ thuật, từng
bước tiến tới thoát khỏi ảnh hưởng thụ động của lối ghi chép đơn thuần những đền tích gia phả
trong các đền, chùa (kiểu Việt điện u linh, Thiền uyển tập anh) và những sáng tác dân gian có sẵn
(kiểu Lĩnh Nam chích quái) và là sự bắt đầu của lối tư duy kiểu mới của người sáng tác thật sự
mang bản sắc của nghệ thuật sáng tạo”[15,tr. 422]
- “Những bài kí trong Thánh Tông di thảo” của Phạm Ngọc Lan, trích trong “Hoàng đế Lê
Thánh Tông: nhà chính trị tài năng, nhà văn hóa lỗi lạc”, Nguyễn Huệ Chi, Nxb Khoa học xã hội,
1998: trong bài nghiên cứu này, tác giả đã đi đến nhận định về sáu bài ký: “Với tính chất có cốt
truyện, thể văn bay bướm của bút ký, cảm hứng trữ tình và giọng điệu tự sự hào hoa, các bài ký đã
đem đến cho người đọc một chất thơ đặc biệt khó quên”.[15,tr. 447]
2. Truyền kì mạn lục:
Khác với Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục chủ yếu là những băn khoăn xuất phát từ cách
gọi đúng tên tác giả, về thời gian sống và sáng tác của Nguyễn Dữ, sách hoàn thành vào năm nào?
Đó là những băn khoăn đã được giải đáp ở một số công trình. Có thể kể đến là:
- Trong các bài viết “Nguyễn Dữ hay Nguyễn Tự ?” Nguyễn Nam, Tạp chí Hán Nôm số 2 –
Hùng, Tạp chí Văn học số 2/1987: “Hai mươi truyện của Truyền kì mạn lục không phải được phản
ánh một cách nhất quán và đồng bộ. Chúng có những mâu thuẫn và phức tạp nhiều khi khó mà lý
giải được một cách rành rẽ, thậm chí có thể ở một truyện cụ thể. Chắc chắn chúng không thể được
sáng tác cùng một lúc, mà trong một thời gian kéo dài, trong khi đó bản thân tư tưởng, thế giới
quan của Nguyễn Dữ cũng biểu hiện sự vận động đầy phức tạp và không loại trừ khả năng có
những mâu thuẫn nhất định. Nhưng về cơ bản có thể nói các mâu thuẫn, xung đột của nhiều thuyện
được triển khai khá thống nhất, tần số lặp lại các mô thức nghệ thuật trong mối thể hiện các xung
đột ở một loạt các tác phẩm viết về người phụ nữ, người trí thức hay các lực lượng thống trị đã làm
cơ sở đáng tin cậy cho việc xác định khuynh hướng sáng tác của nó”.[45, tr.15]
Bên cạnh đó, một trong những vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm bàn luận khi nói về
Truyền kì mạn lục, đó là mối quan hệ giữa Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ với Tiễn đăng tân
thoại của Cù Hựu – một tác giả Trung Quốc đời nhà Minh. Đó là những bài:
-Trong các bài viết “Những vấn đề khác nhau liên quan đến Truyền kì mạn lục”, Kawamoto
Kurive, Ngân Xuyên dịch từ bản thảo tiếng Pháp, Tạp chí Văn học số 6/1996; “Nghiên cứu so sánh
một tiểu thuyết truyền kì trong Kim ngao tân thoại, Truyền kì mạn lục và Tiễn đăng tân thoại” của
Toàn Huệ Khanh, Tạp chí Văn học số 2/2005; “Thử so sánh Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu với
Kim ngao tân thoại của Kim Thời Tập, Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ và Ca tỳ tử của Asai Rey”
Boisriftin do Phạm Tú Châu dịch, Tạp chí Văn học số 12/2006; “Tiễn đăng tân thoại và Truyền kì
mạn lục” của K.I.Golugina, đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 3/ 2004; “Ca tỳ tử (Otogiboko) và Vũ
nguyệt vật ngữ (Ugetsumonogatan) với Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Thị Oanh, trên Tạp chí Hán
Nôm số 4/1995; “Quá trình truyền nhập và lưu hành Tiễn đăng tân thoại ở Việt Nam” của Nguyễn
Nam, Tạp chí Văn học số 5/2001; “Lược đồ quan hệ tiểu thuyết Hán Nôm Việt Nam và tiểu thuyết
cổ các nước trong khu vực” của Trần Nghĩa, Tạp chí Hán Nôm số 2/1998; “Đề tài tình yêu trong
Kim ngao tân thoại của Hàn Quốc (So sánh với Truyền kì mạn lục của Việt Nam)” của KimSeona,
Tạp chí Văn học số 10/1995 và “Vế mối quan hệ giữa Tiễn đăng tân thoại và Truyền kì mạn lục”,
Phạm Tú Châu, Tạp chí Văn học số 3/1987; “So sánh chuyện tình giữa người và hồn ma trong Tiễn
đăng tân thoại và Truyền kì mạn lục” của Đinh Thị Khang, Tạp chí Nghiên cứu văn học số 4 năm
2007: các tác giả đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa “Tiễn đăng tân thoại” và “Truyền kì mạn lục”, đó
là “Truyền kì mạn lục” đã chịu ảnh hưởng của “Tiễn đăng tân thoại”. Hầu hết các nhà nghiên cứu
- “Các loại truyện từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII” trích trong “Lịch sử văn học Việt Nam sơ giản”,
Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong, Nxb Khoa học Xã hội, 1963.
- “Văn tự sự, truyện kí thế kỉ XV” trích trong “Văn học Việt Nam: thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ
XVIII”, Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương, Nxb Giáo dục, 1997.
- Thơ văn Lê Thánh Tông, Nxb Khoa học Xã hội, 1986.
- “Nghiên cứu văn bản và đánh giá thể loại truyền kì viết bằng chữ Hán ở Việt Nam thời trung
đại”, Phạm Văn Thắm, Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Ngữ văn, Hà Nội, 1996.
- “Mấy vấn đề thi pháp học trung đại Việt Nam”, Trần Đình Sử, Nxb Giáo dục, 1999.
- Lời giới thiệu trong “Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại”, Nguyễn Đăng Na, Nxb Giáo
dục,1999.
- “Những biến đổi của yếu tố kì và thực trong truyện ngắn truyền kỳ Việt Nam”, Vũ Thanh, Tạp
chí văn học số 6/1994.
- “Cái kì trong tiểu thuyết truyền kì”, Đinh Phan Cẩm Vân, Tạp chí Văn học số 10/2000.
- “Quan niệm về Thần và việc văn bản hóa truyền thuyết trong truyện văn xuôi trung đại”, Trần
Thị An, Tạp chí văn học, số 3/2003.
- “Tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam danh mục và phân loại”, Trần Nghĩa, Tạp chí Hán Nôm, số
3/1997.
- “Tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, nội dung và nghệ thuật”, Trần Nghĩa, Tạp chí Hán Nôm số
4/1997.
- “Ảnh hưởng của Đạo giáo đối với tiểu thuyết chữ Hán ở Việt Nam”, Trần Nghĩa, Tạp chí Hán
Nôm, số 4/1999.
- “Từ điển văn học Việt Nam”, Lại Nguyên Ân, Bùi Trọng Cường, Nxb Giáo dục, 1995.
- “Từ điển văn học” (bộ mới), Đỗ Đức Hiểu chủ biên, Nxb Thế giới, 2003.
- “Tìm hiểu truyện Hoa quốc kì duyên” Nguyễn Nam, Tạp chí văn học số 2/1996.
- “Thể loại truyện kì ảo Việt Nam thời trung đại – quá trình nảy sinh và phát triển đến đỉnh
điểm”, Vũ Thanh trích trong “Văn học Việt Nam – thế kỉ X đến XIX, những vấn đề lí luận và lịch
sử”, Trần Ngọc Vương (chủ biên), NXB Giáo dục, 2007.
- “Thi pháp truyện ngắn trung đại Việt Nam”, Trần Nho Thìn, chuyên luận trích trong “Truyện
ngắn Việt Nam – lịch sử - thi pháp – chân dung”, của Phan Cự Đệ, NXB Giáo dục, 2007.
Truyện người hành khất giàu
Truyện chồng dê
Truyện hai nữ thần
Người trần ở Thủy Phủ.
Phả ký sơn quân
Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc.
Bức thư con muỗi
Truyện một giấc mộng
Duyên lạ ở Hoa Quốc
Phụ chép 2.
Phụ chép 1.
Truyện tinh chuột
Trận cười ở núi Vũ Môn
Một dòng chữ lấy được gái thần
Truyện lạ nhà thuyền chài
3.2. Truyền kì mạn lục: Người viết tiến hành tìm hiểu truyện ở văn bản:
“Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ” , bản dịch của Trúc Khê, Ngô Văn Triện, (231 trang) NXb
Văn nghệ Hội nghiên cứu giảng dạy văn học tp. Hồ Chí Minh – 1988, gồm 20 truyện:
Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang.
Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi Thiên Tào.
Câu chuyện ở đền ở Hạng Vương
Chuyện yêu quái ở Xương Giang.
Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu.
Câu chuyện đối đáp của người tiều phu núi Na.
Chuyện cây gạo.
Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Trào.
Chuyện gã Trà Đồng giáng sinh
Chuyện nàng Túy Tiêu.
Chuyện kì ngộ ở Trại Tây.
Thầy tướng
Đẻ lạ
Thần đền Chiêu Trưng
Sống lại
Hang núi giữa biển.
Gái biến thành trai
Người khổng lồ
Thằng trộm.
Gấu hổ chọi nhau
Câu chuyện tình ở Thanh Trì.
Con giải
Ca kĩ họ Nguyễn
Ma cổ thụ
Cá thần
Liên Hồ quận quân
Khỉ
Con hổ nhân đức
Con hổ hào hiệp
Nguyễn Trật.
Bà đồng
Tháp Báo Ân
Phu nhân Lan quận công.
Trạng nguyên họ Nguyễn.
Nhớ kiếp trước
Núi trên biển
Thượng thư họ Đỗ.
Đá nổi
Thần giữ của.
Mộng lạ.
Ma trơi
tất cả những điều này đều được đề cập đến trong một số giáo trình, tài liệu. Điển hình như trong “Từ
điển tiếng Việt” có viết về truyền kì: “có tính chất những truyện kì lạ lưu truyền lại” (1087). Trong
“Từ điển văn học” giải thích: “Truyền kì là một thể loại tự sự ngắn cổ điển của văn học Trung Quốc
thịnh hành ở đời Đường” (447); hoặc “truyện ngắn đời Đường”; hoặc ký khúc đời Minh Thanh,
hoặc truyện thần kì”. (141).
1.1.2.Khái niệm truyện truyền kì trung đại Việt Nam:
- Truyện truyền kì trung đại Việt Nam ảnh hưởng nhiều từ truyện truyền kì Trung Quốc đời
Đường. Và theo các nhà nghiên cứu đây cũng là thời kỳ đánh dấu sự chín muồi của thể loại tự sự.
Theo đó, hai chữ truyền kì bao hàm mấy nghĩa sau: Một là: có ý chuộng lạ; hai là: đặc điểm của
truyền kì là chứa đựng nhiểu thể, có thể nhận thấy tài viết sử, tài làm thơ, tài nghị luận trong tác
phẩm truyền kì.
- Truyện truyền kì trung đại Việt Nam ngay từ khi ra đời cho đến khi phát triển đến đỉnh điểm,
đã trải qua một quá trình dài học tập để có thể tự hoàn thiện mình. Từ những tác phẩm đầu tiên còn
âm hưởng của văn học dân gian, cho đến lúc thoát khỏi những ảnh hưởng thụ động của nó, thể loại
này đã làm nên những thành công nhất định.
1.1.3.Mối quan hệ giữa truyện truyền kì Việt Nam với truyện truyền kì ở vùng văn hóa
Đông Á:
Chúng ta không thể phủ nhận một điều rằng: truyện truyền kì Việt Nam vốn có nguồn gốc từ
truyện truyền kì Trung Quốc và có mối quan hệ với các nước khu vực chữ Hán. Tuy vậy, truyện
truyền kì Việt Nam cũng có một quá trình hình thành và phát triển nội sinh gắn với nền văn hóa dân
gian và văn xuôi lịch sử. Đồng thời trong suốt quá trình hoàn thiện mình, thể loại này vẫn tiếp tục
chịu ảnh hưởng giao lưu với các nước trong khu vực, với Trung Quốc và các nước vùng văn hóa
Đông Á. Dưới đây người viết xin đi vào trình bày sơ lược về đặc điểm của thể loại truyền kì ở các
nước lân cận. Trên cơ sở đó để thấy được mối quan hệ giữa truyện truyền kì Việt Nam với truyện
truyền kì các nước trong khu vực văn hóa Đông Á.
1.1.3.1.Truyện truyền kì ở Trung Quốc:
- Theo các nhà nghiên cứu, truyền kì là thể loại văn xuôi nghệ thuật xuất hiện khá sớm trong
văn học cổ điển Trung Quốc. Và theo quan điểm hiện nay, truyện truyền kì được xem là hình thức
đầu tiên của truyện ngắn. Hiện nay có ba quan điểm khác nhau tranh luận về nguồn gốc của thể loại
+ Truyện truyền kì Trung Quốc ở thời Tống đã cho thấy yếu tố ma quỷ thần quái là đặc điểm cơ
bản của truyền kì.
+ Đi sâu khắc họa hình tượng nhân vật ở cả hai phương diện nội dung và hình thức là đặc trưng
cơ bản cho thể loại truyền kì khi nói về nghệ thuật của nó.
1.1.3.2.Truyện truyền kì Triều Tiên:
Như chúng ta đã biết Triều Tiên thời trung cổ thuộc khối đồng văn. Đây cũng là đất nước có sự
tương đồng về văn hóa với Việt Nam và các nước khu vực Viễn Đông.
- Thời gian và hình thức ra đời của truyện truyền kì Triều Tiên: theo một số nhà nghiên cứu thì
từ thế kỷ XV, trong đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội Triều Tiên có những biến đổi đáng kể do sự
cải cách của triều đại phong kiến đương thời. Và văn học Triều Tiên thế kỷ XV cũng đánh dấu bước
chuyển đáng chú ý.
- Hình thức ra đời: Ngay từ khi ra đời văn xuôi tự sự Triều Tiên chia làm hai dạng rõ rệt. Một
dựa trên truyện tiếu lâm trong văn học dân gian, một dựa vào nguồn thần thoại, cổ tích, truyền
thuyết. Nguồn thứ hai này tạo nên thể loại truyền kì. Nói đến thể loại này, các nhà nghiên cứu nhắc
ngay đến Kim Ngao tân thoại của Kim Si Seup (Kim Thời Tập), tác phẩm truyền kì xuất hiện khá
sớm vào thế kỷ XV và chịu ảnh hưởng sâu sắc Tiễn đăng tân thoại.
1.1.3.3.Truyện truyền kì Nhật Bản:
- Ở Nhật Bản, từ cuối thế kỷ XII đã xuất hiện thể loại truyền kể được kể bởi những nghệ sĩ lãng
tử dưới hình thức trường ca sử thi. Từ đầu thế kỷ XIV và đến thế kỷ XVI văn học Nhật Bản đã thực
sự tồn tại một loại văn xuôi nghệ thuật khác rất xa với dòng chảy tư tưởng chung của thời đại này.
Đó là truyện ngắn, trong đó một số có nguồn gốc phônclo với những cốt truyện cổ tích, một số khác
lấy các cốt truyện từ văn học cổ điển Nhật Bản, từ những Phật thoại và cuối cùng là từ văn học
Trung Quốc. Tới thế kỷ XVI nhiều truyện trong số đó – khoảng gần ba trăm truyện – được ghi chép
và được xuất bản bằng các văn bản khắc ván. Đó là hình thức ban đầu của truyện ngắn Nhật Bản.
- Con đường hình thành truyện truyền kì Nhật Bản theo ba bước. Điểm này không giống với
Việt Nam và Triều Tiên. Nó mang đặc thù của văn học xứ sở hoa anh đào. Tức cuồi thế kỷ XVI,
truyền kì Cù Hựu đã được biết đến ở Nhật Bản. Trước hết các tác giả người Nhật làm quen với Cù
Hựu trong nguyên bản chữ Hán, kế tiếp là dịch những truyện tiêu biểu rồi phóng tác theo Cù Hựu và
cuối cùng là ứng dụng, sáng tạo ra truyện truyền kì người Nhật. Kết cấu truyện chủ yếu vẫn theo lối
tuyến tính nhưng được triển khai trong sự đa dạng của chủ đề, đề tài, nhân vật. Đặc biệt là truyện
thần, nhà sư làm đối tượng phản ánh chủ yếu thì ở giai đoạn sau, các tác phẩm lại chủ yếu đề cập
đến con người đời thường, đặc biệt là những con người dưới đáy xã hội. Con người có đủ sức mạnh
và trí tuệ để làm chủ hoàn cảnh, cuộc sống. Không chỉ vậy, thể loại truyền kì giai đoạn này còn đề
cập đến những nội dung rất thực tế. Nó gắn liền với hiện thực cuộc sống đương thời. Không phải chỉ
là chuyện của ma quái, thần linh mà đó còn là câu chuyện về một mối tình, một thoáng nhớ người
yêu, một khát khao hạnh phúc ở đời và hơn hết còn là mong ước được gắn bó với mảnh đất quê
hương, với xứ sở thân thương nhất. Tất cả những điều ấy rất thực tế, xuất phát từ chính cuộc sống
hằng ngày. Điều này cho thấy sự cách tân trong tư duy nghệ thuật của các nhà văn.
*Phương thức phản ánh: để phù hợp với những nội dung ấy, các tác giả truyền kì cũng làm
mới nghệ thuật cho đứa con tinh thần của mình.
- Cốt truyện: mượn cốt truyện từ văn học dân gian nhưng được viết với một tư tưởng và mục
đích khác hẳn. Những cốt truyện từ trong những tác phẩm của Lí Tế Xuyên và Trần Thế Pháp đã
được thay đổi khi đến tay Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ. Ở đây cốt truyện cũ chỉ là một biện pháp
để nhà văn vin vào đó thể hiện những điều mình muốn gửi gắm. Lúc này tất cả đã được khoác lên
mình những sáng tạo mới. Điều này thể hiện những bước tiến quan trọng của thể loại truyện truyền
kì Việt Nam thời trung đại cũng như những biến đổi rõ nét trong tư duy nghệ thuật của nhà văn.
- Nhân vật: Càng về sau, truyện truyền kì càng có những cách thể hiện mới, đặc biệt là nhân
vật người kể chuyện. Lúc này người kể chuyện đã mang tính cá thể, đồng thời còn có sự tham gia
của nhà văn như một nhân vật trong tác phẩm. Ở giai đoạn của Lý Tế Xuyên nhân vật còn là nguyên
mẫu trong văn học dân gian. Qua thời Lê Thánh Tông, Nguyễn Dữ, kiểu nhân vật mới bắt đầu xuất
hiện. Nhà văn đồng nhất với nhân vật. Điểm này được thể nghiệm thành công ở tác giả của Thánh
Tông di thảo. Đó là sự xuất hiện của nhân vật thứ ba, hiện thân của nhà văn. Đó cũng chính là bước
tiến mới của thể loại, chấm dứt lối ảnh hưởng thụ động, một chiều từ văn học dân gian. Lúc này
nhân vật không đơn giản chỉ được miêu tả ở bên ngoài nữa mà đã được bước sâu vào lãnh địa bên
trong của tâm hồn, được khai thác đời sống nội tâm, khắc họa tính cách. Khi nói về đóng góp này,
các nhà nghiên cứu thường gắn nó với tên tuổi của Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ: “Chú trọng
đến việc phản ánh những xung đột bình thường trong đời sống gia đình, cũng như việc đi sâu khắc
họa nội tâm nhân vật đã xác định được vị trí người mở đường cho loại truyện ngắn thế sự trong lịch
sử văn học dân tộc của Nguyễn Dữ và khiến cho truyện của ông trở nên gần gũi với văn xuôi hiện
thời trung đại, nhằm hướng đến khẳng định mình trong thế độc lập. Lúc này các nhân vật lịch sử đã
có thêm những yếu tố mới, những khía cạnh mới về nhân cách, về cuộc sống. Ngoài ra không khí
lịch sử trong tác phẩm cũng mang tư tưởng của tác giả. Đặc biệt là ở phần cuối tác phẩm, tác giả
hoặc một ai đó đã viết lời bình cho tác phẩm. Đây là một bước tiến quan trọng của thể loại, giúp thể
loại dần thoát khỏi những ảnh hưởng của văn xuôi lịch sử.
- Giải phóng khỏi những ảnh hưởng của văn xuôi lịch sử, các tác giả truyền kì đã đạt được
những thành công nhất định.
+ Một là: truyện truyền kì với những câu chuyện thoát khỏi những ảnh hưởng thụ động của văn
học dân gian, đã làm xuất hiện trong văn xuôi dân tộc những tác phẩm thuần túy văn học.
+ Hai là: giải phóng khỏi ảnh hưởng của văn xuôi lịch sử chính là để tạo không gian cho nhà văn
sáng tạo cốt truyện và để tìm kiếm kết cấu mới cho tác phẩm của mình.
1.1.4.4. Mối quan hệ giữa hai yếu tố kì và thực trong truyện truyền kì trung đại Việt Nam
*Sự thể hiện yếu tố thực trong thể loại truyền kì Việt Nam:
- Một khi yếu tố thực được gia tăng thì đồng thời với nó cái “kì” bắt đầu bộc lộ
cái thế yếu và có thể bị thất thế. Nhờ vào đó mà con người trần tục đã khẳng định được tài trí và
uy quyền của mình trước những thế lực siêu nhiên. Nếu các tác phẩm của giai đoạn trước sức mạnh
siêu phàm của thần linh luôn giúp đỡ con người trong việc chiến thắng kẻ thù, thì đến lúc này cái kì
lạ được diễn ra chính là nhờ vào kết quả những hành động bình thường của người trần tục.
- Một trong những nguyên nhân giúp thấy rõ yếu tố thực trong các tác phẩm truyền kì là các tác
giả đã lấy đề tài, cảm hứng từ những sự kiện có thật trong lịch sử, có thật trong thực tế đời sống. Và
khi đề cập đến sự thật lịch sử, các tác giả cũng đi sâu vào khai thác những mặt hạn chế của chế độ
phong kiến đương thời, cũng như những hình ảnh con người bình thường trong xã hội với những
khát vọng rất đỗi bình dị. Chính điểm này đã giúp cho thể loại truyền kì sản sinh ra những tác phẩm
mang hơi thở của cuộc sống.
*Sự thể hiện yếu tố “kì” trong thể loại truyền kì trung đại Việt Nam:
٭ Khái niệm “kì”: “kì” ở đây có nghĩa là kì lạ, kì ảo. Yếu tố kì ảo được sử dụng rộng rãi trong
nhiều tác phẩm văn xuôi tự sự trung đại. Và “yếu tố kì ảo đã đóng một vai trò quan trọng trong việc
tổ chức cũng như tạo cho tác phẩm cái vẻ riêng, hấp dẫn, có một sức mê hoặc kì lạ” [14,tr. 449].
٭Yếu tố “kì” trong truyện truyền kì trung đại Việt Nam phát triển từ thụ động đến ý thức:
cổ.” [15,tr. 25). Chính vì vậy cái “kì” có một vai trò rất quan trọng trong truyện truyền kì. Nó góp
phần tạo nên thành công và sức hấp dẫn cho tác phẩm.
Như vậy có thể thấy rằng truyện truyền kì Việt Nam đã có mối quan hệ thân thiết với truyền kì
các nước trong khu vực. Tuy có sự ảnh hưởng ít nhiều từ những tác phẩm của các nước lân cận
song nhìn chung cũng mang những đặc trưng rất riêng của Việt Nam. Điều này được tạo nên bởi
nguồn văn học dân gian phong phú và tinh thần, lý tưởng của con người Việt. Chính vì vậy với kho
tàng truyện truyền kì mà văn học để lại, chúng ta có thể viết vào lịch sử văn học nước nhà những
tinh thần mới của dân tộc Việt Nam bên cạnh tinh thần chung của thời đại.
1.2. Bối cảnh thời đại của Đại Việt từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII:
1.2.1.Bối cảnh Đại Việt thế kỷ XV:
1.2.1.1.Sự suy vong của nhà Trần, sự xâm lược của giặc Minh và cuộc kháng chiến chống
quân Minh:
- Đến cuối thế kỉ XIV, nhà nước phong kiến trải qua một cuộc khủng hoảng lớn. Hồ Quý
Li có những cải cách táo bạo nhưng thực chất vẫn duy trì đặc quyền của quý tộc quan liêu mà
không mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân. Vì vậy đến năm 1400, khi Hồ Quý Li cướp ngôi nhà