ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
PHẠM THỊ MAI HƯƠNG
NGÔN NGỮ HỘI THOẠI
CỦA CÁC NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN KIỀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
4. Phương pháp nghiên cứu 6
5. Nguồn tư liệu 6
6. Những đóng góp của luận văn 6
7. Cấu trúc luận văn 8
Chương 1. 9
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 9
1.2. Một số vấn đề lí thuyết liên quan đến đối tượng nghiên cứu
của luận văn 11
1.2.1. Hội thoại 11
1.2.2. Quy tắc hội thoại 13
1.2.3. Cấu trúc hội thoại 19
1.2.4. Động từ nói năng 25
1.2.5. Lập luận trong hội thoại 28
1.2.6. Chiến lược giao tiếp 31
Chương 2.
Truyện Kiều 36
2.1. Vài nét về ngôn ngữ hội thoại trong Truyện Kiều 36
2.2. Lập luận trong hội thoại Truyện Kiều 37
3
2.2.1. Đặc điểm cấu tạo của lập luận trong hội thoại Truyện Kiều 37
2.2.2. Cách thức lập luận trong hội thoại của các nhân vật trong Truyện Kiều
và cơ sở tạo nên tính thuyết phục của lập luận 39
2.3. Chiến lược giao tiếp của các nhân vật trong Truyện Kiều 56
Chương 3. sát các nhóm t ch hành nói nng
Truyện Kiều 61
3.1. Đặc điểm các nhóm động từ chỉ hành động nói năng
trong Truyện Kiều 61
ý nghĩa then chốt. Ngôn ngữ hội thoại chính vì vậy trở thành đối tượng quan tâm
đặc biệt của ngữ dụng học.
Trong tác phẩm văn học, ngôn ngữ nhân vật nói chung và ngôn ngữ hội
thoại của nhân vật nói riêng giữ vai trò quan trọng trong việc góp phần khắc họa
tính cách nhân vật, thúc đẩy sự phát triển của tính cách và tình tiết cốt truyện
cũng như thể hiện ý đồ nghệ thuật và nội dung của tác giả.
Xét trong tiến trình lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ học, việc nghiên cứu
ngôn ngữ hội thoại là một mảng đề tài lớn từ trước đến nay đã được nhiều nhà
ngôn ngữ học trên thế giới và trong nước đề cập. Tuy nhiên, những công trình đi
sâu vào ngôn ngữ hội thoại trong tiếng Việt và đặc biệt là trong tác phẩm văn
học chưa nhiều, chủ yếu về lí thuyết. Từ thực tiễn đó, trong luận văn này chúng
5
tôi vận dụng lí thuyết hội thoại để tập trung nghiên cứu đề tài Ngôn ngữ hội
thoại của các nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.
Mặt khác, vị trí và tầm vóc Truyện Kiều trong nền văn học Việt Nam
cũng là lí do khiến chúng tôi chọn tác phẩm này là đối tượng nghiên cứu của
luận văn. Truyện Kiều là kiệt tác của nền văn học nước ta. Có rất nhiều yếu tố
góp phần làm nên thành công của Truyện Kiều nhưng một trong những nhân tố
hàng đầu có thể kể đến là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ bậc thầy của Nguyễn Du,
trong đó có ngôn ngữ hội thoại của các nhân vật. Việc xây dựng thành công ngôn
ngữ hội thoại của nhân vật của Nguyễn Du đã tạo cho tác phẩm của ông một sự
đa thanh, giàu giọng điệu, bộc lộ và phát huy tối đa khả năng thể hiện phong
phú, đa dạng của câu thơ lục bát Việt Nam.
2. Đối tượng nghiên cứu
Hội thoại là một dạng hoạt động ngôn ngữ tồn tại dưới hai dạng: Lời ăn
tiếng nói thể hiện trong đời sống sinh hoạt hàng ngày và lời trao đáp của các
nhân vật hội thoại đã được chủ thể tác giả tái tạo lại và thể hiện trong tác phẩm
văn học. Hội thoại trong tác phẩm văn học có thể gồm dạng song thoại, tam thoại
và đa thoại. Trong giới hạn đề tài này, chúng tôi chỉ đi sâu khảo sát ngôn ngữ hội
người, nhiều nhà xuất bản đứng ra khảo đính, chú thích, xuất bản Truyện Kiều,
tuy nhiên giữa các văn bản đó vẫn có sự khác biệt về một số câu, chữ. Song để
tìm được một văn bản gần nguyên tác và được sự đồng thuận của mọi người là
7
việc vô cùng khó khăn. Trong số các văn bản Truyện Kiều đã được xuất bản, bản
Truyện Kiều của Nhà xuất bản Giáo dục (1996) do Giáo sư Nguyễn Thạch Giang
khảo đính và chú giải, đã được xuất bản đến lần thứ mười hai có độ tin cậy khá
cao về câu chữ. Chính vì vậy, trong luận văn này chúng tôi chọn bản này làm tư
liệu để khảo sát, thống kê ngôn ngữ hội thoại của các nhân vật.
6. Những đóng góp của luận văn
Trong thực tiễn nghiên cứu ngữ dụng học hiện nay, việc nghiên cứu ngôn
ngữ hội thoại của nhân vật trong tác phẩm văn học, đặc biệt là truyện thơ vẫn
chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống. Vì vậy, thông qua đề tài này chúng
tôi hi vọng sẽ góp phần nhỏ trong việc khám phá địa hạt nhiều mới mẻ và đầy
hứa hẹn này.
Thông qua việc khảo sát các nhóm động từ chỉ hoạt động nói năng trong
Truyện Kiều, luận văn bước đầu đã phân loại được các nhóm động từ nói năng,
cụ thể là hành động nói năng trong lời thoại của các nhân vật trong Truyện Kiều.
Kết quả ấy cung cấp thêm cứ liệu cho một hướng nghiên cứu mới về các nhóm
hành động qua lời thoại nhân vật, cần được nghiên cứu một cách dài hơi hơn ở
những công trình lớn hơn.
Mặt khác, việc nghiên cứu các phép lập luận và chiến lược giao tiếp qua
lời thoại của các nhân vật trong Truyện Kiều còn góp phần chứng minh tính đúng
đắn và hiệu quả thực tế của lí thuyết lập luận và lí thuyết hội thoại khi vận dụng
trong đời sống văn học. Từ đó có thể mở rộng ra vận dụng những tri thức về lí
thuyết hội thoại và lí thuyết lập luận trong hội thoại của cuộc sống giao tiếp
thường nhật, trong diễn đạt cũng như trong ứng xử với những vai giao tiếp khác
nhau trong xã hội sao cho đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất.
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trước đây, hội thoại là đối tượng nghiên cứu của xã hội học, xã hội ngôn
ngữ học, dân tộc ngôn ngữ học Mĩ. Đến năm 1970, hội thoại chính thức trở thành
đối tượng nghiên cứu của một phân ngành ngôn ngữ học Mĩ, phân ngành phân
tích hội thoại (conversation analysis). Từ đó đến nay, ngôn ngữ hội thoại, ngôn
ngữ lời nói đã được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu: N. Chomsky,
J.Austin, J. Fillmore, H.P. Grice, S.C. Dik trong đó H.P.Grice là tác giả có
những đóng góp lớn đối với việc nghiên cứu lí thuyết hội thoại hơn cả. Trong tác
phẩm Logic and conversation ông đã nghiên cứu nguyên lí cộng tác hội thoại,
tương tác hội thoại, lôgic với hội thoại cũng như phân chia các phương diện liên
kết hội thoại. Chính những lí thuyết này cùng với những nghiên cứu về hội thoại
của các tác giả khác đã đặt cơ sở lí thuyết cho những nghiên cứu về hội thoại của
các nhà Việt ngữ học.
Ở Việt Nam, có thể kể đến Đỗ Hữu Châu với Đại cương ngôn ngữ học.
Tập 2: Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục, 2001; Cơ sở ngữ dụng học, Nxb Đại học
Sư phạm, 2003; Nguyễn Đức Dân với Ngữ dụng học, Tập 1, Nxb Giáo dục,
1998; Cao Xuân Hạo với Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Tập 1, Nxb Khoa học Xã
hội; Đỗ Thị Kim Liên với Ngữ nghĩa lời hội thoại, Nxb Giáo dục, 1999; Giáo
10
trình Ngữ dụng học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005; Nguyễn Thị Quy với
Vị từ hành động và các tham tố của nó, Nxb Khoa học Xã hội, 1995 v.v và một
số tác giả khác như Hoàng Phê, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Văn Hiệp, Lê
Đông đã công bố những công trình có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn
đề hội thoại. Trong đó đáng chú ý nhất là hai công trình ([4], [29]) đề cập một
cách hệ thống các vấn đề có tính chất cập nhật của lí thuyết hội thoại: sự quy
chiếu và chỉ xuất khi nói, lập luận, quy tắc hội thoại, ý nghĩa tường minh, nghĩa
minh những nét khu biệt của thiên tài Nguyễn Du cũng như những nét đặc sắc
của kiệt tác Truyện Kiều.
Ngôn ngữ hội thoại của các nhân vật trong Truyện Kiều nhìn chung chỉ
mới được khảo sát ở mức độ nhỏ lẻ, có vẻ thiếu hệ thống, số lượng các công
trình đi sâu nghiên cứu còn rất hạn chế [27], [28], [30], [31], [32]. Trong hai
công trình của GS.TS. Đỗ Thị Kim Liên ([26], [29]) về ngôn ngữ hội thoại, ngôn
ngữ hội thoại của các nhân vật trong Truyện Kiều chỉ xuất hiện với tư cách là
dẫn chứng. Chính vì vậy, ngôn ngữ hội thoại trong Truyện Kiều - một trong
những thành công về nghệ thuật của Nguyễn Du vẫn là một lĩnh vực còn để ngỏ,
đòi hỏi những khảo sát có hệ thống và toàn diện.
1.2. Một số vấn đề lí thuyết liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận văn
1.2.1. Hội thoại
Trong giới Việt ngữ học hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hội
thoại (conversation). Hầu hết các tác giả đều định nghĩa về hội thoại một cách sơ
12
bộ, có tính chất giả thiết để làm việc, chủ yếu tìm thấy ở các sách nêu vấn đề có
tính chất đại cương hay một số chuyên luận.
Tác giả Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo quan niệm: “Hội thoại là hoạt động
giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội
dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra” (Tiếng Việt 12, Ban Khoa
học Xã hội, Nxb Giáo dục, 1995, tr.3-4).
Nguyễn Đức Dân cho rằng: “Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói, bên
kia nghe và phản hồi trở lại. Lúc đó vai trò của hai bên thay đổi. Bên nghe lại
trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe. Đó là hội thoại” [7; 76].
Tác giả Hồ Lê đưa ra quan niệm hội thoại gắn với hành vi phát ngôn như
sau: ″Phát ngôn hội thoại là kết quả của một hành vi phát ngôn được kích thích
bởi một sự kiện hiện thực kể cả hội thoại hoặc một xung đột tâm lí của người
phát ngôn, có liên quan đến những người có khả năng trực tiếp tham gia hội
thoại, nó tác động vào anh ta khiến anh ta phải dùng lời nói của mình để phản
Nguyên tắc thương lượng: Khi tham gia hội thoại, các nhân vật nhiều khi
phải có câu mở đầu có tính thăm dò nhằm đi đến một sự thoả thuận chung về đề
tài, nội dung cuộc thoại, về số lượng người tham gia tạo điều kiện cho cuộc thoại
thành công.
Ví dụ:
[ ] – Hay bây giờ em định thế này Song anh có cho phép em mới
dám nói
14
Rồi Dế Choắt loanh quanh, băn khoăn. Tôi phải bảo:
- Anh đã nghĩ thương em như thế thì hay là anh đào giúp cho em một cái
ngách sang bên nhà anh phòng khi tắt lửa tối đèn có đứa nào đến bắt nạt thì em
chạy sang
(Ngữ văn 8.T1, Nxb Giáo dục, H., 2007, tr.109)
Trong ví dụ trên, việc thương lượng của Dế Choắt nhằm dò tìm thái độ
của Dế Mèn để còn liệu ứng xử cho phù hợp, tránh làm phật lòng Dế Mèn.
Nguyên tắc luân phiên lượt lời: Trong hội thoại, các nhân vật tham gia
phải có sự luân phiên lượt lời thích hợp. Lượt lời là lời của nhân vật tham gia
hội thoại hướng tới người nghe, được bắt đầu từ khi mở thoại đến kết thoại.
Tương tự, lượt lời của nhân vật khác cũng vậy. Sự luân phiên lượt lời được thể
hiện qua hành vi trao lời và đáp lời.
Trong hội thoại, để cuộc thoại đạt được đích mong muốn, lượt lời, nói
cách khác là hành vi trao lời và đáp lời giữa người nói và người nghe phải có sự
tương tác thích hợp. Các nhân vật tham gia hội thoại phải có sự phối hợp về từ
ngữ, cách nói, cách ứng xử sao cho phù hợp với nội dung cuộc thoại. Lượt lời
của các nhân vật phải tạo nên sự kế tục, nối tiếp nhau, thúc đẩy cuộc thoại tiến
triển theo hướng tích cực.
Ví dụ:
- Chuỗi ngọc này có phải của tiệm ông không ạ?
- Phải.
- Sao anh lại bắt chim? - Thằng bé nhất hỏi.
16
- Vì chúng nó hót hay lắm.
- Không nên bắt, cứ để cho chúng muốn bay đi đâu thì bay.
- Được, mình sẽ không bắt nữa!
- Nhưng anh hãy bắt cho em một con đã.
- Em muốn chim gì?
- Chim gì hót vui vui ấy. Để nhốt vào lồng.
- Thế thì chim bạch yến nhé?
- Mèo nó bắt mất - Thằng thứ hai nói – Mà bố cũng chẳng cho nuôi.
Thằng anh lớn tán thành:
- Đúng đấy, bố chẳng cho nuôi đâu
(Ngữ văn 9.T1, Nxb Giáo dục, H., 2007, tr.229)
Trong cuộc thoại trên, các lượt lời đều xoay quanh trò chơi bắt chim của
các đứa bé hàng xóm.
Về hình thức, trong cuộc thoại, thông thường giữa lời trao và lời đáp của
các nhân vật tham gia có thể có các phương tiện liên kết như: đại từ liên kết (ấy,
thế, vậy, đó ), quan hệ từ liên kết hoặc trợ từ (nhưng, và, vì ), dùng phép tĩnh
lược, phép lặp, từ tình thái (dạ, vâng ).
Chẳng hạn, trong ví dụ vừa trích dẫn ở trên, giữa các câu trao và câu đáp
của các nhân vật tham gia hội thoại đều có sự liên kết về mặt hình thức. Các
nhân vật đã sử dụng đại từ liên kết (thế), quan hệ từ liên kết (nhưng, vì), phép lặp
(lặp câu bố chẳng cho nuôi đâu). Chính nhờ vậy, cuộc thoại trên trở nên trôi
chảy, mạch lạc.
Về hành động nói năng, lời trao và lời đáp có sự liên kết thích ứng với
nhau. Chẳng hạn, có câu hỏi thì phải có câu trả lời, câu đề nghị thì phải có câu
đáp ứng hoặc từ chối v.v
17
- Mùa màng quê mình độ này thế nào?
- Vẫn như mọi khi.
- Cụ ở nhà có khoẻ không?
- Bình thường.
- Chắc khi chú Hà tôi đi học Hương đã nghỉ hè rồi?
- Không rõ lắm.
- Nghe nói thầy Chởi đi học ở Hà Nội?
- Tôi cũng không được biết.
(Thời xa vắng, Lê Lựu, Nxb Văn học, H., 1998)
Trong cuộc thoại trên, mặc dù lời trao của người nói đã được đáp lại
nhưng lời đáp mang tính gượng ép, nhạt nhẽo, thiếu sự hưởng ứng. Vì vậy, cuộc
thoại đã thất bại.
Theo H.P.Grice, nguyên tắc cộng tác (cooperative principle) gồm các
phương châm sau:
Phương châm về chất: nên nói những điều mình tin là đúng và có bằng
chứng xác thực.
Phương châm về lượng: khi tham gia hội thoại, cần nói cho có nội dung,
nội dung của lời nói phải đáp ứng cuộc thoại, không thiếu, không thừa.
Phương châm về cách thức: nên nói một cách rõ ràng, mạch lạc, ngắn gọn,
có trật tự, dễ hiểu, tránh nói mập mờ, tối nghĩa.
Phương châm về quan hệ: cần nói sao cho thích hợp với cuộc thoại, tránh
nói lạc đề.
19
Ví dụ:
Cô giáo viết lên bảng một câu ghép: “Mặc dù tên cướp rất hung hăng,
gian xảo nhưng cuối cùng hắn vẫn phải đưa hai tay vào còng số 8”. Rồi cô hỏi:
- Em nào cho cô biết chủ ngữ của câu trên ở đâu?
Hùng nhanh nhảu:
- Thưa cô, chủ ngữ đang ở trong nhà giam ạ.
- Ông có khoẻ không, hai cô?
- Ông không khoẻ lắm, chị ạ. - Phượng đáp, chưa hết mừng rỡ - Gặp chị ở ngoài
đường không chắc em đã nhận ra được đâu. Hôm cưới em, chị mặc áo vét như cán bộ kia.
Luận đi cạnh Hoài, nghiêng nghiêng đầu:
- Thì chị vẫn là chủ nhiệm chứ, chị Hoài?
Người phụ nữ cười:
- Vẫn, nhưng tôi chuyển sang làm chủ nhiệm hợp tác xã đan dệt thảm ngô
rồi. Đấy, cái bãi soi hồi chú về chơi, đi thuyền ra, xem chọi trâu ấy, giờ bạt ngàn
là ngô. À, cô Phượng chuyển được công tác về dưới này rồi nhỉ. Thôi thế cũng
mừng. Rồi lo cho bà, cho cháu về dần cô ạ.
Phượng nắm tay chị Hoài:
- Sao chị biết em chuyển công tác về dưới này?
- Ông viết thư cho tôi. Ông kể hết. Cả chuyện cậu Cừ. Thế nên tôi mới sốt
ruột, phải lên ngay. Sợ ông buồn.
(Mùa lá rụng trong vườn - Ma Văn Kháng -
Ngữ văn 12 nâng cao.T2 - Nxb Giáo dục, 2008, tr.102)
21
Trong cuộc thoại trên, có 4 nhân vật tham gia: Hoài, Lí, Luận, Phượng.
Cuộc thoại diễn ra ở nhà ông Bằng, trong buổi cúng tất niên chiều ba mươi Tết.
Cuộc thoại xoay quanh những đổi thay của các thành viên trong gia đình ông
Bằng sau nhiều năm gặp lại.
Đoạn thoại là đơn vị gồm một số cặp trao lời, đáp lời có sự liên kết chặt
chẽ với nhau về chủ đề và mục đích. Đoạn thoại thường gồm các phần: mở thoại,
thân thoại và kết thoại.
Phần mở thoại thường là phần có tính đưa đẩy, thăm dò, thương lượng về
đề tài, về số lượng, về thái độ Trong phần này, người nói thường sử dụng lời
chào, lời giới thiệu mang tính nghi thức nhằm tạo lập quan hệ, hướng người nghe
tham gia cuộc thoại.
Ví dụ:
Lời tạm biệt:
- Thôi tôi về nhé!
- Vâng mời bác lại nhà!
Lời chúc:
- Cậu đi may mắn nhé!
- Cậu ở lại mạnh khoẻ đấy!
Cặp thoại là đơn vị cấu thành đoạn thoại. Cặp thoại gồm đơn vị dẫn nhập
và hành vi hồi đáp. Cặp thoại là những lời ứng đáp thể hiện sự tương tác qua lại
giữa người nói và người nghe. Nói cách khác, đó là hai phát ngôn có quan hệ
trực tiếp với nhau, chẳng hạn: hỏi - trả lời, chào – chào, trao - nhận, đề nghị -
23
đáp ứng, xin lỗi - chấp nhận xin lỗi, nhận định - bác bỏ Các thành viên của cặp
thoại có thể đứng kế cận hoặc bị gián cách, tức là bị các cặp thoại khác chen vào.
Ví dụ:
Câu trao là một câu hỏi, câu đáp là câu trả lời:
- Vậy chớ ông bắt bằng gì?
- Tôi bắt bằng hai tay không.
(Bắt sấu rừng U Minh Hạ trích Hương rừng Cà Mau,
Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1986)
Câu trao là câu đề nghị, câu đáp là câu chấp nhận:
- Gia đình già có một việc oan uổng muốn kêu quan, nhờ cậu viết giúp cho
lá đơn, có được không?
Cao Bá Quát vui vẻ trả lời:
- Tưởng việc gì khó, chứ việc ấy cháu xin sẵn lòng.
(Tiếng Việt 4.T1 – Nxb Giáo dục, H., 2006)
Câu trao là câu nhận định, câu đáp là câu bác bỏ:
- Chà, quả bí kia to thật!
Anh bạn có tính hay nói khoác, cười mà bảo rằng:
- Thế thì đã lấy gì làm to. Tôi đã từng thấy những quả bí to hơn nhiều.
Tham thoại lớn hơn lượt lời:
- Có chuyện gì thế?
- Có gì đâu! Bác làm việc vất vả lắm phải không?
(Theo Truyện cười dân gian Việt Nam)