1
VAI TRÒ CỦA NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRONG
TRUYỆN KIỀU(
1
)
Ths. Lê Thị Hồng Minh(
2
)
1. Khái niệm về ngôn ngữ nhân vật:
Lời văn của một tác phẩm văn học thường được cấu tạo bởi hai thành phần: ngôn
ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả.
Ngôn ngữ nhân vật tồn tại dưới hai hình thức: đối thoại và độc thoại.
Đối thoại là hoạt động giao tiếp căn bản sử dụng hình thức nói năng giữa người
này với người khác. Nó thường gồm hai yếu tố đặc trưng: trao lời và đáp lời, có sự tương
tác qua lại, bởi giao tiếp luôn luôn có mục đích. Tùy năng lực sử dụng ngôn ngữ (ngữ
năng) của mỗi người và điều kiện giao tiếp cụ thể mà sự tương tác của ngôn ngữ đối thoại có
cường độ mạnh-yếu và có phạm vi ảnh hưởng về không gian (rộng-hẹp), thời gian (ngắn-
dài), số lượng đối tượng (ít-nhiều) khác nhau. Nhiều khi, lời nói có tác động khôn lường.
Độc thoại là một dạng đặc biệt của ngôn ngữ nhân vật, là hình thức nói với chính
mình. Độc thoại có dạng nói thành lời gọi là nói một mình, nhưng phổ biến hơn là dạng ý
nghĩ - tư duy bằng ngôn ngữ thầm.
Ngôn ngữ thầm không bộc lộ ra nên người khác không thể biết hoặc khó lòng biết
được. Nhưng nó tác động tới chính bản thân chủ thể dòng độc thoại, nhiều khi trở thành
động lực có tính chất quyết định đối với cử chỉ, thái độ, lời nói, việc làm biểu hiện ra
bên ngoài. Do đó, nó có một nội lực rất lớn, đồng thời cũng là một bí ẩn kỳ diệu của con
người. 1
giọng nói, điệu nghĩ của nhà văn, trong ngôn ngữ tác giả, có lời lẽ, tình cảm của nhân vật.
2. Vai trò ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm tự sự và kịch
2.1. Ở thể tự sự, qua quan sát, chọn lựa, vận dụng các phương tiện lời nói, nhà
văn tái hiện ngôn ngữ nhân vật, đặc biệt là ngôn ngữ đối thoại trong tính quy định của
thời đại, môi trường, tầng lớp xuất thân, trình độ học vấn, ngành nghề, tâm lý, lứa tuổi, cá
tính, tâm trạng sao cho sinh động, tự nhiên như lời nói thật ngoài đời. Mỗi nhân vật
được xây dựng với một lối nói, một kiểu phát ngôn có đặc trưng riêng, thể hiện qua
trường từ vựng, kiểu câu, ngữ điệu để lời trực tiếp của họ trở thành một hiện tượng
ngôn ngữ độc đáo, có tính chất cá tính hóa nhân vật. Và nói như Lỗ Tấn: “Nó có thể làm
cho người ta từ lời ăn tiếng nói mà thấy được người” [6, tr. 232].
3
Văn học cổ nhìn chung ít chú ý khắc họa lời nói nhân vật, mà thường uốn nhân vật
nói theo điệu của tác giả hoặc theo cách tác giả muốn, tác giả nghĩ: Đọc Truyền kỳ mạn
lục của Nguyễn Dữ(
3
), một tác phẩm ra đời thế kỷ XVI, ta thấy lời Dương thị trong
Chuyện đối tụng ở Long cung, lời thiếu phụ trong Chuyện người con gái Nam Xương có
cùng một sắc thái, giọng điệu với sư già Pháp Vân trong Chuyện nghiệp oan của Đào
thị… Rõ ràng, văn chương cổ thời kỳ này chưa chú ý đến sắc thái riêng của mỗi giọng
nói, đến khả năng tự bộc lộ của ngôn ngữ nhân vật.
Văn học hiện đại ngày càng coi trọng việc biểu hiện ngôn ngữ đối thoại và độc
thoại. Trong nhiều trường hợp, lời nhân vật càng giống khẩu ngữ tự nhiên càng có giá trị
tạo hình. Không chỉ nội dung mà cả bản thân hình thức lời nói vừa giúp nhân vật tự bộc
lộ, vừa góp phần phản ánh hiện thực cuộc sống bên ngoài nhân vật. Thậm chí các nhà văn
hiện thực - như Banzắc trong bộ Tấn trò đời chẳng hạn - đã coi việc cá tính hóa ngôn ngữ
nhân vật là một nguyên tắc nghệ thuật để khắc họa tính cách xã hội, lịch sử của nhân vật.
Bàn về thi pháp tiểu thuyết, M.Bakhtin đã nhấn mạnh vai trò của đối thoại: “Đối thoại
là bản chất của ý thức, bản chất của cuộc sống con người Sống tức là tham gia đối thoại:
được của ngôn ngữ đối thoại và độc thoại trong tác phẩm tự sự.
2.2. Ở nghệ thuật kịch - trừ kịch câm - ngôn ngữ nhân vật đặc biệt quan trọng.
Do hạn chế về không gian, thời gian biểu diễn và do đặc điểm của kịch: tác giả không
được phép lộ mặt, cho nên, ngôn ngữ đối thoại là hình thức chủ yếu của ngôn ngữ kịch,
thậm chí có ý nghĩa quyết định đối với một vở kịch.
Đặc trưng của lời nói trong kịch là lời nói có nhiệm vụ kép: vừa thay tác giả làm
nhiệm vụ dẫn dắt tình tiết, diễn biến kịch, vừa đảm đương chức năng ngôn ngữ nhân vật. Lời
nói phải vừa thích hợp với nhân vật, vừa phải diễn đạt được ý đồ của tác giả. Bởi vậy, ngôn
ngữ nhân vật trong kịch là ngôn ngữ có tính chất tổng hợp, vừa đầy kịch tính vừa bao hàm cả
yếu tố tự sự và trữ tình, hàm súc, dư ba, đầy giá trị triết học. “Thậm chí có câu nói có thể làm
tiêu ma một sự nghiệp, hoặc làm sống lại một đời người” [5, tr.259].
Độc thoại trong kịch - để phù hợp với đặc điểm của nghệ thuật biểu diễn - được biểu
hiện bằng cách tác giả kịch bản cho nhân vật của mình nói to những điều họ suy nghĩ dưới
hình thức nói một mình, hoặc dùng thủ pháp “phục hiện” tái hiện lại những tình huống, tâm
trạng trong quá khứ bằng tiếng vọng hoặc những lớp kịch xen kẽ, hay lưỡng hóa nhân vật:
cho nhân vật phân thân đối thoại để biểu hiện cuộc đấu tranh nội tâm. Do đặc điểm của kịch,
độc thoại không sử dụng thường xuyên trong mọi trường hợp. Nó chỉ hay dùng cho nhân vật
5
khi trù liệu, toan tính một âm mưu, khi phải đứng trước một sự lựa chọn khắc nghiệt hoặc
khi thể hiện nỗi xúc động mãnh liệt trong lòng mà chưa thể thổ lộ
Ngoài hai hình thức trên, sân khấu còn sử dụng một loại lời thoại khá độc đáo:
bàng thoại - nhân vật nói với khán giả. Sân khấu tuồng chèo của ta hoặc kịch tự sự như
kịch của Becton Bret có sử dụng loại ngôn ngữ này tuy không nhiều. Nó là một cách đưa
đẩy lời tự giới thiệu của nhân vật hoặc một cách chú thích thêm về cảnh ngộ, tâm trạng
hay một điều bí mật của nhân vật.
Nếu như trong các tác phẩm tự sự, nhân vật bên cạnh sự tự bộc lộ của bản thân
còn được sự hỗ trợ của ngôn ngữ tác giả, thì “kịch đòi hỏi mỗi nhân vật trong vở phải tự
biểu hiện tính cách bằng lời nói và hành động”, không có sự can thiệp tự do của tác giả.
đại.
So với các truyện thơ Nôm, Truyện Kiều có số lượng nhân vật khá lớn - khoảng
ngoài 40 nhân vật cụ thể và trên 10 “nhân vật đám đông” (kiểu như: “vài thằng con con”,
bọn “sai nha”, “lũ ác nhân”, “muôn binh nghìn tướng” của Từ Hải và “quan quân” của
Hồ Tôn Hiến ). Trong đó, có tới 30 nhân vật góp tiếng nói của mình vào dàn hợp xướng
chung của tác phẩm, qua 86 cuộc đối thoại và 196 lần nói(
5
).
Khác với Vũ Trọng Phụng, một nhà văn châm biếm những năm ba mươi của thế
kỷ XX, rất có tài trong việc miêu tả ngôn ngữ đám đông nhằm khắc họa không khí bát
nháo của xã hội đương thời, thì Nguyễn Du lại ít chú ý đến ngôn ngữ của loại đối tượng
này. Một phần, để phù hợp với khuôn khổ có hạn của thể loại truyện thơ. Một phần khác,
để ông có thể tập trung cho việc xây dựng tính cách các nhân vật cụ thể. Vì vậy, mặc dù
dựa rất sát vào cốt truyện, tình tiết của Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân,
ông vẫn lược bỏ bớt một số nhân vật phụ. Không những tước tên tuổi của họ, ông còn
tước sạch ngôn ngữ của những “nhân vật đám đông” như bọn sai nha, tướng lĩnh của Từ
Hải, bọn người thuyết hàng của Hồ Tôn Hiến
So với Kim Vân Kiều truyện, nhân vật Truyện Kiều nói ít hơn tới 6 lần (Phan
Ngọc), [4,tr. 121], nhưng, thế giới ngôn ngữ nhân vật của Nguyễn Du cực kỳ phong phú
và thể hiện tính cách lại rõ nét hơn hẳn.
Có ngôn ngữ hiện thực và có cả ngôn ngữ tâm linh.
Người dương gian có đối thoại, độc thoại. Người cõi âm cũng có ngôn ngữ của sự nói 4
Theo thống kê của tác giả bài viết (L.T.H.M.).
5
Theo thống kê của tác giả bài viết.
7
8
thoại trực tiếp của nhân vật. Ngôn ngữ đối thoại gián tiếp này có hai hình thức:
Có khi, nó là một lời nói gián tiếp (indirect speech) của nhân vật này qua câu
tường thuật (reported speech) của một nhân vật khác. Chẳng hạn lời Thúy Kiều qua ngôn
ngữ “rêu rao” của Sở Khanh:
1172. “ _ Nọ nghe rằng có con nào ở đây,
Phao cho quyến gió rủ mây.”
Hoặc lời Hoạn Thư qua ngôn ngữ của Hoa tỳ:
2001. “Dặn tôi đứng lại một bên,
Chán tai rồi mới bước lên trên lầu.”
Hay lời trao duyên của Thúy Kiều qua lời kể của Vương Ông ngày gặp lại Kim
Trọng.
Loại ngôn ngữ đối thoại gián tiếp kiểu này khi đến với bạn đọc đã bị khúc xạ bởi ý
đồ hoặc tình cảm chủ quan của người nói.
Để thể hiện thái độ khách quan của nhân vật khi phát ngôn, Nguyễn Du đã sử dụng thứ
ngôn ngữ đối thoại gián tiếp theo kiểu thứ hai: kiểu tường thuật trực tiếp. Tức là: lời nói của
nhân vật này được tường thuật trực tiếp trong lời nói của nhân vật kia, ngôn ngữ của thời quá
khứ được tái hiện và sống lại đời sống của mình trong ngôn ngữ của thời hiện tại, tạo thành
một kiểu đối thoại hai, ba cấp với cấu trúc lồng đối thoại trong đối thoại hết sức đặc biệt đối
với thi phú nói riêng, thể trữ tình nói chung, góp một hương sắc lạ đối với thơ ca giai đoạn nửa
cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX.
Trong lời kể về cuộc đời Đạm Tiên, vương Quan đã tường thuật trực tiếp ngôn ngữ của
người khách viễn phương hâm mộ Đạm Tiên:
73. “Khóc than khôn xiết sự tình:
“ - Khéo vô duyên bấy là mình với ta!
“Đã không duyên trước chăng mà,
“Thì chi chút đỉnh gọi là duyên sau”.
(Cách xưng hô “mình” với “ta”, ngoài người khách viễn phương ra, không thấy có ở
các nhân vật khác).
có cả độc thoại chuỗi (liên tiếp những ý nghĩ, như: suy nghĩ của Kiều sau phút thành thân
với Mã, hoặc những đau đớn dằn vặt trước khi nàng gieo mình tự tử )
10
Nguyễn Du không chỉ xây dựng ngôn ngữ độc thoại trong đối thoại (nhân vật kể
về suy nghĩ của mình), đối thoại trong đối thoại mà còn sáng tạo cả ngôn ngữ đối thoại
trong độc thoại nữa. Đó không phải chỉ là ngôn ngữ của những giấc mơ. Đó còn là ngôn
ngữ của đời sống hiện thực. Như khi Thúy Kiều trước lúc gieo mình xuống sông Tiền
Đường tự tử, nghĩ: “này thôi hết kiếp đoạn trường là đây”, nàng bật lên tiếng gọi thầm:
2623. “ _ Đạm Tiên nàng nhẽ có hay?
Hẹn ta thì đợi dưới này rước ta!”
Trong tâm tưởng Kiều, Đạm Tiên không đơn giản là bóng ma. Đạm Tiên chính là
một phần hiện hữu của cuộc sống, là bức nhân ảnh của cuộc đời nàng. Ngôn ngữ đối
thoại và độc thoại ở đây trở thành chiếc cầu nối hai cõi âm - dương, phản ánh sự phong
phú trong tâm hồn nhân vật.
Đặc biệt, Nguyễn Du, với ngôn ngữ nội tâm, đã làm xuất hiện những khoảnh khắc
của con người do dự trong tác phẩm. Kiều định tự tử nhưng đắn đo, cân nhắc, sợ liên lụy
đến cha mẹ - lại thôi. Thúc Sinh định nói sự thật với Hoạn Thư nhưng chần chừ suy tính:
“Nào ai có khảo mà mình lại xưng” - lại thôi Tuy nhân vật Truyện Kiều chưa phải là
con người tư tưởng, chưa có những suy ngẫm về ý nghĩa nhân sinh giàu tính triết học như
các nhân vật của Shakespeare hoặc của Đôxtôjêvxki - chẳng hạn chàng Hamlet với câu
hỏi trăn trở, băn khoăn: “Sống hay không sống?” (To be or not to be?) - nhưng, hiện
tượng con người do dự, con người định hành động như thế này mà rồi lại hành động như
thế kia là một hiện tượng rất hiếm trong văn học Việt Nam dưới thời phong kiến. Ở đây
đã bắt đầu xuất hiện một sự chọn lựa. Và, “sự chọn lựa tự do là một tiêu chí quan trọng
để con người trở thành một cá nhân” (Đỗ Lai Thúy) [8, tr.17].
Trong sáng tác văn học, ngôn ngữ được sử dụng dưới nhiều dạng. Và không đâu đa
dạng hơn trong thể tự sự. Nhưng trong một tác phẩm thơ - dù đó là truyện thơ – hiếm có một
tác phẩm nào có khuôn khổ chẳng lấy gì làm đồ sộ như Truyện Kiều lại có sự thể hiện đời
sống ngôn ngữ nhân vật giàu có, phong phú muôn hình, nghìn vẻ đến như vậy.
1831. (Sinh) rằng:“_ Hiếu phục vừa xong,
Suy lòng trắc dĩ đau lòng chung thiên!”
Phải viện đến cái chết của mẹ để che giấu những giọt nước mắt khóc thương Thúy
Kiều! Chỉ một câu nói thôi cũng đủ cho thấy cái bi hài của tính cách Thúc, thân phận
12
Thúc! Xét theo vị thế xã hội, Thúc là chủ nhân ông của gia đình. Lẽ ra Thúc phải có
quyền quyết định, xếp đặt mọi việc. Thế nhưng, nghịch cảnh ở đây là đến nhận mặt vợ lẽ,
Thúc còn không dám, nói chi đến bênh vực, bảo vệ. Buổi tiệc mừng chàng sum họp gia
đình, chàng phải là người được hưởng mọi niềm vui, hạnh phúc. Nhưng sự thực, Thúc “như
dại như ngây”, “phách lạc hồn xiêu”, “nát ruột tan hồn”, “thảm thiết bồi hồi”, và “lã chã”,
“sụt sùi” - chỉ toàn nước mắt.
Trong tình thế bi đát này, Kiều không nói được lời nào. Chỉ tâm hồn nàng nổi
sóng. Nàng ngay lập tức nhận thức được một cách sâu sắc tình cảnh nguy hiểm, trớ trêu
mà mình lâm vào, âm mưu thâm độc kỳ quái và bản chất nham hiểm của Hoạn Thư cũng
như tính chất, tầm độ ác hiểm của ngón đòn “nhẹ như bấc, nặng như chì” mà Hoạn Thư
giáng xuống. Ngôn ngữ nội tâm cho thấy sự thông minh, sâu sắc trong nhận thức, đánh
giá con người, sự việc của Thúy Kiều, đồng thời cho thấy cái tâm trạng lo lắng, hoảng sợ,
đớn đau của nhân vật.
Đây là một đoạn đối thoại, độc thoại mang đầy tính kịch, khái quát biết bao tấn bi
hài kịch diễn ra trong xã hội không chỉ một thời. Ngôn ngữ nhân vật đã nói rất nhiều về
bản thân các nhân vật Hoạn - Thúc - Kiều qua màn kịch này.
Song, nói đến ngôn ngữ nhân vật, phải nói đến vai trò trội bật nhất của nó: đối thoại
và độc thoại giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự thể hiện tính cách, đời sống tâm lý
nhân vật, qua đó bộc lộ tư tưởng, chủ đề của tác phẩm.
3.2. Ngôn ngữ đối thoại và độc thoại trong sự thể hiện tính cách nhân vật:
Sự lao động nghệ thuật đầy sức sáng tạo của Nguyễn Du thể hiện rất rõ ở mảng
xây dựng ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nhằm khắc họa tính cách nhân vật.
Từ tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du thêm một lời độc thoại ở chỗ
Các thao tác của Nguyễn Du đã loại bỏ những lời nói sống sượng có tính chất tự
nhiên chủ nghĩa, có hại đối với mỹ cảm người đọc, tiết kiệm được ngôn ngữ, giản lược
bớt những chi tiết rườm rà của tiểu thuyết, khuôn chúng vừa với phương thức thể hiện
của thể loại thi ca, đồng thời mở rộng dung lượng các vấn đề được phản ánh, đem lại ý
nghĩa triết lý, sức khái quát cao, nâng cấp chất lượng của ngôn ngữ nhân vật và của toàn
tác phẩm.
14
Nhờ đó, ngôn ngữ nhân vật Truyện Kiều luôn hợp tình, hợp lý, đúng lúc, đúng
chỗ, đúng mực, thể hiện tính cách nhân vật tập trung và sắc nét.
Khi xây dựng tính cách nhân vật Truyện Kiều, Nguyễn Du vừa đưa ra cái nhìn
chủ quan của ông, vừa cấp cho ta cái nhìn khách quan từ phía các nhân vật. Và đấy là
một phương pháp trước đó văn học Việt Nam chưa từng có [4, tr.53] (
6
).
Đến lượt các nhân vật, ngoài sự tự bộc lộ chủ quan của mình, họ còn chịu sự bình
phẩm, đánh giá của các nhân vật khác. Các ý kiến này chịu sự chi phối bởi những tình cảm,
quan điểm chủ quan của mỗi cá nhân người nói, người nghĩ. Phương pháp này đưa đến cho
ta một sự cảm thụ trọn vẹn nhiều chiều về hình tượng thẩm mỹ.
Nói đến sự thông minh, tài sắc của Thúy Kiều, Nguyễn Du trước hết dùng ngôn ngữ
tác giả giới thiệu. Sau đó, qua chính sự tự ý thức và tự bộc lộ của nhân vật về tài đàn, tài thơ,
về cách xét người đoán việc, cách cư xử hợp tình hợp lý, Nguyễn Du một lần nữa chứng
minh và khẳng định những phẩm chất đó của Kiều. Bên cạnh đấy, ông để cho những người
xung quanh nhận xét, đánh giá về nàng. Từ người dương cho đến người âm, từ người gần
cho đến người xa, từ người thân cho đến người dưng tất cả đều khen ngợi tài sắc, trí tuệ của
Kiều. 30 thành viên trong tác phẩm có ngôn ngữ nhân vật thì đã có 12 người khen nàng: thầy
tướng, Đạm Tiên, Kim Trọng, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Thúc Sinh, Hoạn Thư, Từ Hải, họ
Đô, viên quan xử kiện, Hồ Tôn Hiến, Tam Hợp đạo cô. Mỗi đối tượng, tùy tầng lớp, ngành
nghề, cá tính, tình cảm và mối quan hệ đối với Thúy Kiều mà đánh giá nhìn nhận nàng ở
những góc độ khác nhau: Kim Trọng nhìn Kiều với con mắt của một người đang yêu, của
Bên cạnh một số nhân vật Truyện Kiều vẫn được xây dựng theo phương pháp
truyền thống: tính cách một chiều, đã có 3 nhân vật - Thúy Kiều, Hoạn Thư và Thúc
Sinh – tính cách có sự phức tạp: vừa có những biểu hiện của nhân vật chính diện, vừa có
những biểu hiện của nhân vật phản diện. Thể hiện thành công đặc sắc những tính cách
này không thể không nói đến những đóng góp của ngôn ngữ nhân vật.
Kết luận
Ngôn ngữ nhân vật là một lĩnh vực thể hiện đặc biệt rõ tài năng sáng tạo của Nguyễn
Du.
Xây dựng ngôn ngữ nhân vật với những lời nói có màu sắc khác nhau, Nguyễn Du
đã tạo cho tác phẩm của mình một sự đa thanh, giàu giọng điệu, bộc lộ và phát huy tối đa khả
năng thể hiện phong phú, đa dạng của câu thơ lục bát tiếng Việt.
Ngôn ngữ độc thoại nội tâm đã giúp các nhân vật Truyện Kiều tự kéo mở bức màn bí
16
mật, bộc lộ những sâu kín của mưu mô, hoặc sự phong phú, giàu có của tâm hồn. Nó trở
thành tiếng nói của muôn vàn tâm trạng trong muôn ngàn cảnh ngộ, đặc biệt là những tâm
trạng tiêu biểu trong thực tế xã hội và đời sống tinh thần của con người, những khía cạnh
nhân bản của đạo đức, tình cảm.
Đối thoại và độc thoại đã đem lại cho Truyện Kiều một sự thể hiện phong phú và giữ
vai trò vô cùng quan trọng trong việc khắc họa tính cách và đời sống nội tâm của nhân vật.
Nó được dùng để làm phương tiện cá thể hóa những tính cách.
Ngôn ngữ nhân vật đã trở thành bệ phóng đưa những Thúy Kiều, Tú Bà, Sở Khanh,
Hoạn Thư, Thúc Sinh… từ tác phẩm của Nguyễn Du đi vào đời sống sinh hoạt, đời sống văn
hóa của cả dân tộc.
Đối thoại và độc thoại của nhân vật trong Truyện Kiều đã đem lại cho hình
tượng nhân vật những khái quát nghệ thuật đầy tính triết lý về thân phận con người, về
những biến cải trong cuộc đời Qua ngôn ngữ nhân vật và những hình tượng nhân vật được
xây dựng nên, ta thấy được quan điểm sáng tác và quan niệm mỹ học của nhà thơ.
Ngôn ngữ nhân vật vẫn là một thành tựu rực rỡ, góp phần không nhỏ cho sự thành