Ngôn ngữ nhân vật trong truyện thơ nôm bác học - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ HỒNG MINH

NGÔN NGỮ NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN THƠ NÔM BÁC HỌC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

TP. HỒ CHÍ MINH – 2002



LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong
luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận án:
LÊ THỊ HỒNG MINH

3


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS. Nguyễn Lộc và PGS.TSKH. Bùi Mạnh Nhị đã hướng
dẫn tôi thực hiện đề tài này. Xin cảm ơn quý thầy cô giáo, các cấp lãnh đạo, gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp và các sinh viên đã hỗ trợ, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận án.


1.3.1.2.Điều chỉnh lại lời đối thoại, độc thoại ..........................................................40
1.3.2.XÁC ĐỊNH BỔ SUNG NHỮNG CÂU ĐỐI THOẠI, ĐỘC THOẠI MỚI .........46
TIỂU KẾT .........................................................................................................................49

5


CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRUYỆN THƠ NÔM
BÁC HỌC................................................................................................................... 50
2.1.TÍNH TRANG NHÃ, UYÊN BÁC TRONG NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRUYỆN
THƠ NÔM BÁC HỌC ......................................................................................................50
2.1.1.NGÔN NGỮ ƯỚC LỆ, TƯỢNG TRƯNG TẠO NÊN TÍNH TRANG NHÃ,
UYÊN BÁC LÀ MỘT ĐẶC ĐIỂM CỦA THI PHÁP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI ........50
2.1.2.NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA NGÔN NGỮ ƯỚC LỆ, TƯỢNG TRƯNG TRONG
NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRUYỆN THƠ NÔM BÁC HỌC .....................................54
2.1.3.CÁCH THỨC TẠO NGÔN NGỮ ƯỚC LỆ, TƯỢNG TRƯNG CHO NHÂN
VẬT CỦA TRUYỆN THƠ NÔM BÁC HỌC ..............................................................66
2.2.TÍNH BÌNH DÂN CỦA NGÔN NGỮ SINH HOẠT ĐỜI THƯỜNG, NGÔN NGỮ
DÂN GIAN TRONG NGÔN NGỮ NHÂN VẬT .............................................................70
2.2.1.NGÔN NGỮ SINH HOẠT ĐỜI THƯỜNG ........................................................72
2.2.2.NGÔN NGỮ VĂN HỌC DÂN GIAN .................................................................83
2.2.2.1.Sự có mặt của thành ngữ, tục ngữ trong lời nói: ..........................................83
2.2.2.2.Ca dao dân ca trong ngôn ngữ nhân vật.......................................................93
TIỂU KẾT .......................................................................................................................100

CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN
THƠ NÔM BÁC HỌC ............................................................................................ 102
3.1.VAI TRÒ CỦA NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM TỰ SỰ VÀ KỊCH
..........................................................................................................................................102
3.2.VAI TRÒ CỦA NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN THƠ NÔM BÁC

BẢNG 5.1a: .....................................................................................................................225
BẢNG 5.3: .......................................................................................................................233
BẢNG 6.1b: .....................................................................................................................246
BẢNG 6.2: .......................................................................................................................247
BẢNG 6.3: .......................................................................................................................251

7


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
(Xếp theo ký tự đầu của chữ viết tắt)
-BK-TTK

- Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim

-ĐDA

- Đào Duy Anh

-Gs.

- Giáo sư

- HT

- Truyện Hoa tiên

- HXH

- Hoàng Xuân Hãn


- Truyện Nhị độ mai

-PGs.

- Phó giáo sư

-Sđd

- Sách đã dẫn

-ST

- Truyện Song Tinh

-SKTT

- Sơ kính tân trang

-TCVH

- Tạp chí văn học

-TV.

- Tân Việt

-TSKH

- Tiến sĩ khoa học

quan trọng đối với truyện, nhất là thể loại tiểu thuyết. Những thiên tài, những nhà văn lớn
khi xây dựtig hình tượng nhân vật, đều hết sức chú ý phương diện này. M.Bakhtin đã chứng
minh: qua ngôn ngữ nhân vật và chủ yếu bằng ngôn ngữ nhân vật, Đôxtôjêvxki đã sáng tạo
ra tiểu thuyết phức điệu, tạo nến sự cách tân vĩ đại cho văn học Nga và cho tiểu thuyết hiện
đại thế giới.
Thế nhưng, ở nước ta, ngôn ngữ nhân vật chưa được cả người sáng tác lẫn người
nghiên cứu quan tâm đúng mức. Trong văn học Việt Nam, các tác giả thực sự xây dựng
được ngôn ngữ nhân vật không nhiều. Theo Phan Ngọc thì cho đến cuối thế kỷ XX, mới chỉ
có ba tác giả làm được việc này: Nguyễn Du, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao [98, tr.131].
Công trình nghiên cứu về ngôn ngữ nhân vật lại càng ít ỏi, mặc dù ngôn ngữ nhân vật chiếm
một phần không nhỏ trong tác phẩm. Các truyện thơ Nôm bác học tiêu biểu đều có tỉ lệ
ngôn ngữ nhân vật từ 1/3 đến 1/2 dung lượng số câu thơ. Có thể thấy rõ điều này qua:

9


Tỉ lệ ngôn ngữ nhân vật như vậy là rất lớn. Hơn nữa, ngôn ngữ nhân vật là một yếu tố
quan trọng để khu biệt thể truyện thơ với ngâm khúc, là một thành phần thi pháp, một phong
cách nghệ thuật có thể góp phần khu biệt truyện thơ nôm bác học với truyện thơ Nôm bình
dân, có vai trò không nhỏ trong việc phát triển tình tiết câu chuyện, xây dựng tính cách nhân
vật và thể hiện chủ đề của tác phẩm. Thế nhưng, có rất ít bài nghiên cứu về ngôn ngữ nhân
vật. Có thể đơn cử về tác phẩm của Nguyễn Du: cả một khối lượng đồ sộ hàng trăm đầu
sách và hàng mấy trăm bài viết về Truyện Kiều, trong đó, có nhiều công trình, bài viết lấy
dẫn chứng, ví dụ từ ngôn ngữ nhân vật để làm rõ những luận điểm văn học: tính cách nhân
vật, tư tưởng, chủ đề của tác phẩm, vấn đề điển hình hoá v.v..., nhưng hầu hết các bài viết
ấy chỉ dùng ngôn ngữ nhân vật như một phương tiện phục vụ cho một hướng nghiên cứu
nào đó, chứ chưa xem nó thực sự là đối tượng nghiên cứu, mặc dù tác giả có những đoạn
phân tích về ngôn ngữ nhân vật rất đặc sắc.
Như vậy, theo chúng tôi, việc tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá về vai trò và những đóng
góp của ngôn ngữ đối thoại và độc thoại cho sự thành công của tác phẩm là một việc cần

phản diện. Nhân vật chính diện lúc rơi vào những mâu thuẫn gay gắt, những biến cố phức
tạp của cuộc đời, ngôn ngữ cũng tăng cường yếu tố này - khi mà những phương tiện nghệ
thuật mang tính ước lệ không đủ sức dung nạp, biểu hiện. Tuy nhiên, giáo sư chưa chú trọng
đi sâu vào những nhân tố làm nên tính chất hiện thực này.

11


Nói về vai trò chính của ngôn ngữ nhân vật, qua sự phân tích các đối tượng: Thuý
Kiều, Tú Bà, Hoạn Thư, Thúc Sinh... Nguyễn Lộc đã chứng minh: ngôn ngữ nhân vật là
một phương tiện vô cùng quan trọng để bộc lộ tính cách, góp phần cá thể hoa nhân vật, thể
hiện đặc sắc hình tượng tác phẩm. Ngôn ngữ nhân vật Truyện Kiều vừa kế thừa và phát huy
truyền thống của thể loại truyện thơ Nôm, vừa là một bước phát triển cao so với truyện Nôm
đương thời.
Về hạn chế, Nguyễn Lộc cho rằng: ngôn ngữ nhân vật Truyện Kiều còn hạn chế về
phương diện cá thể hóa nhân vật; vai trò thuyết minh của tác giả khá lớn, có khi đã xâm
nhập vào ngôn ngữ nhân vật.
Ở công trình Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm, khi đề cập đến "nghệ thuật xây dựng
Truyện Kiều", Đặng Thanh Lê đã giành hai mục nhỏ để nói về ngôn ngữ đối thoại và độc
thoại. Đặt ngôn ngữ đối thoại của Truyện Kiều trong cái nền ngôn ngữ đối thoại của truyện
Nôm nói chung, tác giả khẳng định: nó đóng vai trò quan trọng trong "biểu hiện cảm nghĩ
và quyết định hành động của nhân vật đứng trước một tình huống, một mâu thuẫn", và trong
"trình bày bước phát triển của sự kiện, tình tiết" [81, tr.232].
Theo Đặng Thanh Lê, ngôn ngữ đối thoại Truyện Kiều có hai đặc điểm lớn. Sự thống
nhất cao giữa nội dung tư duy cảm xúc với hình thức ngôn ngữ là đặc điểm chi phối chủ thể
sử dụng ngôn ngữ (nhân vật chính diện hay phản diện) và tính chất ngôn ngữ hội thoại
(ngôn ngữ quý tộc hay ngôn ngữ nhân dân, ngôn ngữ công thức ước lệ hay ngôn ngữ có
màu sắc hiện thực chủ nghĩa). Đặc điểm thứ hai là tính nhân dân ương ngôn ngữ nhân vật.
Tính chất này được hình thành từ ngôn ngữ hàng ngày và ngôn ngữ văn học dân gian. Nó có
mặt trong lời nói của hầu hết các nhân vật Truyện Kiều.

Nguyễn Lộc, Đặng Thanh Lê, Phan Ngọc đều có nhữlig khái quát và những phân tích, kiến
giải sâu sắc đối với ngôn ngữ nhân vật trong Truyện Kiều, đặt cơ sở nền móng cho những
người nghiên cứu đi sau tiếp tục khai thác về ngôn ngữ đối thoại, độc thoại.
Ngoài ra, trong chuyên luận, trong bài viết của các tác giả nêu trên và của nhiều nhà
nghiên cứu, phê bình, nhiều nhà vãn, nhà thơ có tên tuổi khác như Hoài Thanh, Lê Trí Viễn,
Xuân Diệu, v.v... có nhiều đoạn phân tích rất thành công về ngôn ngữ nhân vật để làm sáng
tỏ những giá trị khác của tác phẩm. Đáng chú ý có công trình Truyện Kiều và chủ nghĩa
hiện thực của Lê Đình Kỵ (1992). ở mục "Nhân vật và tính cách", Lê Đình Kỵ coi độc thoại
nội tâm của Truyện Kiều không phải dùng để giải thích hay báo trước sự diễn biến của câu
chuyện mà là "sự lên tiếng của tâm tình", là "tâm hồn tự soi bóng" [74, tr. 228], "làm cho sự
thể hiện thấm nhuần cảm xúc", "qua đó vấn đề xã hội đặt ra trở thành sinh động và ám ảnh"
[74, tr. 231]. Bên cạnh đó, giáo sư đã có những đoạn phân tích hết sức đặc sắc lời nói nhân
vật khi làm rõ "con người của Truyện Kiều".

13


Đối với Truyện Kiều, một tác phẩm được nói đến nhiều, mà số bài viết về ngôn ngữ
nhân vật mới chỉ có chừng ấy thì đối với các tác phẩm khác của giai đoạn này, sự nghiên
cứu về ngôn ngữ nhân vật lại càng ít ỏi hơn. Chúng tôi chỉ gặp một bài của Đinh Thị Khang
viết về ''Ngôn ngữ nhân vật trong truyện Hoa Tiên". Một số nhận xét về chức năng của đối
thoại trong Hoa Tiên có phần trùng hợp với ý kiến của Đặng Thanh Lê đối với Truyện Kiều
nên chúng tôi không nhắc lại ỏ đây. Song, Đinh Thị Khang cũng đã có những phát hiện khá
thú vị: yếu tố quyết định tính chất và hình thức biểu đạt của ngôn ngữ đối thoại là nội dung
đối thoại và chức năng của nhân vật đối thoại. Bên cạnh đó, Đinh Thị Khang đã chú ý tới sự
phân bổ của ngôn ngữ đối thoại và chỉ ra: "ngôn ngữ đối thoại chỉ thực sự xuất hiện tập
trung vào cuộc gặp gỡ và cuộc tình" của hai nhân vật chính. Tác giả bài viết cũng đã đề cập
đến ngôn ngữ nhân vật đã góp phần cá thể hoa nhân vật như thế nào: Phương Châu chủ
động đến với tình yêu nên dùng những từ mang sắc thái chủ động; Dao Tiên thường nói
những điều hợp với đạo đức, lễ giáo... Tuy nhiên, ý kiến này theo chúng tôi là chưa thoả

văn chương như thế được. Như vậy, sự khoanh vùng văn chương bác học nói chung, truyện
thơ Nôm bác học nói liêng, ở đây, chỉ có tính chất tương đối.
Thành tựu của truyện thơ Nôm bác học chủ yếu tập trung ở giai đoạn thế kỷ XVIII XIX nên chúng tôi cũng tập trung nghiên cứu ngôn ngữ đối thoại và độc thoại của các nhân
vật trong những tác phẩm của giai đoạn văn học này. Do hạn chế về trình độ, thời gian và tư
liệu, chúng tôi chỉ chọn một số tác phẩm tiêu biểu như: Truyện Song Tinh (ST), Truyện Kiều
(TK), Sơ kính tân trang (SKTT), Truyện Hoa tiên (HT), Truyện Nhị độ mai (NĐM). Nguyễn
Đình Chiểu có nhiều truyện thơ, nhưng chúng tôi chỉ chọn Truyện Lục Vân Tiên (LVT) để
khảo sát vì nó chẳng những là tác phẩm truyện thơ tiêu biểu nhất của nhà thơ đất Ba Tri mà
còn vì nó có đề tài phù hợp với cái mạch chung của các truyện thơ Nôm giai đoạn này.
Chúng tôi không phủ nhận tính chất bình dân của Lục Vân Tiên, nhưng theo chúng tôi quan
niệm thì đây là một truyện thơ Nôm bác học vì nó có tên tác giả (hai tiêu chí chủ yếu lâu
nay vẫn dùng để phân biệt truyện Nôm bác học với truyện Nôm bình dân là: tác giả và hình
thức nghệ thuật [61, tr.43]). linh chất dân gian của tác phẩm là tính chất dân gian của một
truyện thơ Nôm bác học. Dù được lưu truyền ương dân gian, được truyền tụng, hát xẩm, nói
thơ... nhưng không phải vì thế mà quyền sở hữu tác giả của Nguyễn Đình Chiểu cũng như
dấu ấn con người của Nguyễn Đình Chiểu bị mất đi. Ta có thể thấy dấu ấn ấy qua ngôn ngữ
đầy cá tính của các nhân vật Hớn Minh, thầy pháp... Bản thân nội dung nghệ thuật thi pháp
của Lục Vân Tiên cũng phản ánh được một số đặc điểm chung của thi pháp truyện thơ Nôm
bác học. Và, vì tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu là tác phẩm có tính chất bản lề, khép lại
một giai đoạn của truyện thơ Nôm trung đại, manh nha những yếu tố cận đại, mở đường cho
tiểu thuyết hiện đại ra đồi, nên chúng tôi xem đây là tác phẩm để tham khảo thêm, chứ
không coi là đối tượng khảo sát chính.
Do yêu cầu của tính chính xác, khoa học trong nghiến cứu, chúng tôi thấy trước hết
cần “Xác định ngôn ngữ đối thoại và độc thoại của nhân vật trong truyện thơ Nôm bác
15


học”. Hơn nữa, xác định ngôn ngữ nhân vật còn góp phần giúp chúng ta tìm hiểu về phong
cách, thi pháp của các nhà thơ. Vậy nên, chúng tôi có thêm một chương nói về vấn đề này.
Trong các truyện thơ Nom bác học được chọn khảo sát, Truyện Kiều là tác phẩm có

Trong khả năng có hạn của mình, tác giả luận án cố gắng xác định lại đường biên một
số câu đối thoại và độc thoại của nhân vật truyện thơ Nôm bác học; bổ sung thêm một số
câu mới mà các nhà làm văn bản chưa xác định; định danh cho một số dạng thức đối thoại
và độc thoại của tác phẩm văn học mà các nhà ngôn ngữ chưa đề cập đến.
Trên cơ sở các bài nghiên cứu, phê bình của những người đi trước, chúng tôi hệ thống
lại các vấn đề cơ bản của đối thoại và độc thoại như vai trò, đặc điểm của ngôn ngữ nhân
vật; và phân tích tính cách nhân vật dưới góc độ ngôn ngữ đối thoại và độc thoại như một sự
minh họa về những đóng góp của ngôn ngữ nhân vật trong việc làm nên thành công của các
tác phẩm và của giai đoạn văn học.

6.CẤU TRÚC LUẬN ÁN
PHẦN MỞ ĐẦU NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: Xác định ngôn ngữ đối thoại và độc thoại của nhân vật trong truyện thơ
Nôm bác học.
Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật truyện thơ Nôm bác học.
Chương 3: Vai trò của ngôn ngữ nhân vật trong truyện thơ Nôm bác học.
KẾT LUẬN

NỘI DUNG CHÍNH

CHƯƠNG 1: XÁC ĐỊNH NGÔN NGỮ ĐỐI THOẠI VÀ ĐỘC
THOẠI CỦA NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN THƠ NÔM BÁC HỌC
Lời văn của một tác phẩm văn học thường được cấu tạo bởi hai thành phần: ngôn ngữ
nhân vật và ngôn ngữ tác giả.
Ngôn ngữ nhân vật tồn tại dưới hai hình thức: đối thoại và độc thoại.
Với yếu cầu của đề tài: tìm hiểu về "Ngôn ngữ nhân vật trong Truyện thơ Nôm bác
học", việc đầu tiên chúng tôi quan tâm là: xác định trong văn bản Truyện thơ Nôm bác học,

17


đàm thoại, bàng thoại, đối bạch, độc bạch, độc thoại, độc thoại nội tâm, tự thoại, lời trực
tiếp, lời nội tâm... Trong hội thoại, một số nhà ngôn ngữ lại chia nhỏ hơn: song thoại, tam

18


thoại, đa thoại... Nhưng, tất cả, quy lại, có thể gói trong hai khái niệm chính: đối thoại (hay
hội thoại) và độc thoại.
Đối thoại và độc thoại gần đây đã trở thành "điểm nóng", trở thành vấn đề trung tâm
của ngữ dụng học, tâm lý học, triết học về ngôn ngữ v.v...
Từ khi ngữ dụng học được các nhà ngôn ngữ Việt Nam quan tâm, vấn đề lý thuyết hội
thoại cũng dược họ lưu tâm tới nhiều hơn trước. Đáng chú ý có "Đại cương ngôn ngữ học",
tập 2 (1993) của Đỗ Hữu Châu và "Ngữ dụng học" tập I (1998) của Nguyễn Đức Dân.
Đỗ Hữu Châu có một chương nói về "Lý thuyết hội thoại" (chương IV). Ông xem "hội
thoại là hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ."
[14, tr.276]. Tuy không đưa ra một định nghĩa cụ thể về đối thoại và độc thoại, nhưng khi đề
cập đến "các vận động hội thoại", ông cho rằng "vận động giao tiếp thông thường bao gồm
ba vận động: sự trao lời, sự trao đáp và sự tương tác" [14, tr.277]. Giáo sư xem "sự trao lời
(allocutíon) là vận động người nói A nói ra và hướng lời nói của mình về phía người nhận
B. Bình thường, A khác người nhận B, trừ trường hợp độc thoại (monologique). Tuy vậy,
ngay cả trong trường hợp độc thoại, ở người nói cũng có sự phân đôi nhân cách: anh ta vừa
là A vừa là B, và khi hoạt động theo nhân cách A hay nhân cách B, điều này diễn ra đồng
thời, anh ta vẫn là hai nhân vật khác nhau, tuân theo hai loại quy tắc hoạt động khác nhau
(...). Tình thế giao tiếp trao lời ngầm ẩn rằng người nhận B tất yếu phải có mặt, "đi vào
trong diễn ngôn của A".
Ở phần "sự trao đáp" (échange), giáo SƯ Đỗ Hữu Châu khẳng định: "diễn ngôn sẽ trở
thành hội thoại khi người nghe B đáp lời", "sự đáp lời là một nhu cầu bức thiết của sự nói
năng" [14, tr.278]. Ông cho rằng "có những diễn ngôn loại trừ sự đáp lời như diễn ngôn viết
(nhưng không phải là hình thức thư tín) hoặc diễn ngôn miệng (tuyên án, truyền thanh,
truyền hình...). Nhiùig, như đã nói, đây là sự loại trừ sự đáp lời trực tiếp, tức thời. Trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status