Khoá luận tốt nghiệp đại học
Ngô Thanh Mai K41
Mục lục
Mục lục.
Mở đầu....
Lý do chọn đề tài....
Đối tợng và phạm vi nghiên cứu....
Lịch sử vấn đề.
Cái mới của đề
tài...
Phơng pháp nghiên cứu..
Bố cục luận văn..
Nội dung.
1
2
3
4
5
6
1.1
1.2
1.3
1.4
Trang
1
2
25
Nhân vật trẻ em sử dụng nhiều từ ngữ giàu sắc thái khẩu ngữ..
Nhân vật trẻ em sử dụng nhiều từ ngữ mang nghĩa tình thái.
25
33
Chơng 3
3.1
3.2
3.3
Đặc điểm về cấu trúc và nội dung ngôn ngữ nhân vật trẻ em
trong truyện ngắn Nguyễn Thi
Đặc điểm cấu trúc
Đặc điểm nội dung
Một vài nhận xét về phong cách ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong truyện ngắn
Nguyễn Thi..
41
Kết luận
65
67,68
Tài liệu tham khảo
toàn bộ cuộc đời mình đặt vào cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc. Có thể nói
những trang viết của ông không chỉ là kết quả của sự quan sát thông minh, tâm
huyết mà trớc hết là tình cảm tấm lòng con ngời của một chiến sĩ sẵn sàng hy
sinh trọn vẹn vì cách mạng, của một tấm lòng một trái tim nhà văn - nhà nghệ sĩ
chan chứa tình cảm, tình yêu thơng trong sáng và căm thù mãnh liệt.
1.3. Truyện ngắn là một trong những thành công của Nguyễn Thi. Thế
giới nhân vật trong truyện ngắn của ông sinh động, đa dạng tạo ra những tác
phẩm có giá trị cao. Đặc biệt là những trang viết về tuổi thơ, dờng nh là một
trong những nét riêng tạo ra một phong cách truyện ngắn độc đáo ở Nguyễn
Thi. Việc tìm hiểu ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Thi là rất cần
thiết đối với ngời nghiên cứu. Bởi ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn
Thị là sự thể hiện rõ đặc trng ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Thi, góp phần tô
đậm phong cách tác giả.
Đi vào tìm hiểu ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong truyện ngắn của Nguyễn
Thi ta càng khẳng định đợc vai trò của nhân vật trẻ em trong sáng tác của ông
từ đó thấy đợc hình ảnh của những con ngời anh hùng vô danh, trong chiến
tranh, khẳng định đợc điều mà Nguyễn Thi từng nói: Chúng ta tự hào sung sớng đợc sống trong lòng biển, vì giọt nớc có vinh quang cách mấy cũng chỉ là
giọt nớc, nó sẽ khô ngay lập tức nếu không nằm chung với biển, còn vinh quang
Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong truyện ngắn Nguyễn Thi
2
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Ngô Thanh Mai K41
của biển thì đời đời không lay chuyển đợc [Dẫn theo 4,66]. Vì những lí do trên
khoá luận này chọn đề tài Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong truyện
- Phan Cử Đệ: Tính cách điển hình trong Ngời mẹ cầm súng của
Nguyễn Thi, (Tuần báo văn nghệ 1/4/1966).
- Phong Lê - Nguyễn Thi qua truyện và kí, (TCVN số 2, 1975).
Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong truyện ngắn Nguyễn Thi
3
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Ngô Thanh Mai K41
- Nguyễn Đăng Mạnh: Sức sống của ngòi bút Nguyễn Thi, nhà văn t tởng
và phong cách, (NXBTP mới, HN, 1975).
- Nhị Ca: Gơng mặt còn lại - Nguyễn Thi, NXBTP mới, 1983.
- Phong Lê - Nguyễn Thi qua truyện và kí. T/c VH số 3 - 1975
- Lê Phát - Nhớ Nguyễn Thi, nhà văn cầm súng. Tuần báo văn nghệ số 36
- 1983.
- Ngô Thảo - Phát hiện mới về nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn, (TCVH số 2,
năm1965).
- Nguyễn Chí Hòa văn xuôi Nguyễn Thi, (Luận án thạc sỹ - ĐH Vinh,
1999).
Bên cạnh đó còn rất nhiều các chuyên luận, luận án, khoá luận tốt nghiệp
nghiên cứu về Nguyễn Thi mà chúng tôi cha thể thống kê hết.
Trong tất cả các công trình nghiên cứu trên thì hai công trình nghiên cứu
của Nhị Ca và Nguyễn Chí Hoà, đánh giá về Nguyễn Thi khá toàn diện ở các
thể loại.
Nhị ca trong Gơng mặt còn lại Nguyễn Thi, khi đánh giá về truyện
ngắn Nguyễn Thi ông viết chỉ trong phạm vi tập truyện ngắn mỏng này, nếu
không chỉ ở bình diện văn học mà ở cả bình diện ngôn ngữ học.
4. Cái mới của đề tài.
Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu sâu vào ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong
truyện ngắn Nguyễn Thi, chỉ ra những đặc điểm về từ ngữ, về cấu trúc của ngôn
ngữ trẻ em dạng đối thoại, đồng thời tìm ra đặc điểm nội dung do cấu trúc đó
chuyển tải để qua đó đi đến những nhận xét tổng quát nhất về đặc điểm phong
cách ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong truyện ngắn Nguyễn Thi.
5. Phơng pháp nghiên cứu.
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng đồng thời các phơng pháp.
5.1. Phơng pháp thống kê phân loại.
Chúng tôi tiến hành khảo sát 11 truyện ngắn của Nguyễn Thi để tìm ra
những tác phẩm mà ở đó có xuất hiện lời đối thoại trực tiếp của nhân vật trẻ em.
Sau đó chúng tôi thống kê và phân loại ngôn ngữ đối thoại của từng nhân vật
nhằm khảo sát nội dung, ngữ nghĩa của lời và hình thức biển thị chúng.
5.2 . Phơng pháp so sánh, đối chiếu.
Trên cơ sở những vấn đề đã thống kê phân loại, chúng tôi so sánh với lý
thuyết hội thoại thông thờng để tìm ra những nét tơng đồng và khác biệt.
5.3 . Phơng pháp phân tích tổng hợp.
Từ sự phân loại, thống kê so sánh, chúng tôi phân tích ngôn ngữ đối thoại
trực tiếp của nhân vật trẻ em trên hai bình diện. Đặc điểm hình thức và nội dung
của lời. Qua đó tổng hợp khái quát lên những đặc điểm phong cách Nguyễn Thi
khi viết về nhân vật trẻ em.
6. Cấu trúc luận văn.
Ngoài các phần: Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn đợc triển khai ở 3 chơng.
Chơng 1: Những giới thuyết xung quanh đề tài
Chơng 2: Các lớp từ ngữ qua ngôn ngữ đối thoại của nhân vật trẻ em
trong truyện ngắn Nguyễn Thi.
Chơng 3: Đặc điểm cấu trúc và nội dung ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong
truyện ngắn Nguyễn Thi.
thay đổi vô cùng vô tận. Muốn có chất liệu để kể cần có một cái gì đó xảy ra,
dù đó chỉ là một sự thay đổi chút xíu về sự cân bằng, về các mối quan hệ. Trong
truyện ngắn, cái gì cũng thành biến cố. Thậm chí sự thiếu vắng tình tiết, diễn
biến cũng gây hiệu quả vì nó làm cho sự chờ đợi bị hẫng hụt [6 ;79]
K.Pautôpxki - nhà văn Nga xác định: Thực chất truyện ngắn là gì? Tôi
nghĩ rằng truyện ngắn là một truyện viết ngắn gọn, trong đó cái không bình thờng hiện ra nh một cái gì bình thờng và cái gì bình thờng hiện ra nh một cái gì
không bình thờng [dẫn theo 22, trang 8] có thể thấy, K.Pautôpxki rất quan tâm
đến tính sự kiện trong truyện ngắn. Ông nhấn mạnh sự đan xen giữa cái bình thờng và cái không bình thờng. Đây cũng chính là lôgic cuộc sống. Thể hiện
Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong truyện ngắn Nguyễn Thi
6
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Ngô Thanh Mai K41
thành công cái lôgic đa sự ấy, truyện ngắn đã thực sự có chỗ đứng trong lòng
ngời đọc.
Nguyễn Công Hoan - nhà văn Việt Nam hiện đại cho Rằng: Truyện
ngắn không phải là truyện, mà là một vấn đề đợc xây dựng bằng chi tiết với sự
bố trí chặt chẽ và bằng thái độ với cách đặt câu, dùng tiếng có cân nhắc. Muốn
truyện ấy là truyện ngắn chỉ nên lấy một trong ngần ấy ý làm ý chính làm chủ
đề cho truyện Những chi tiết trong truyện chỉ nên xoay quanh chủ đề ấy thôi
[Dẫn theo 22; Tr.9]. Trong quan niệm về truyện ngắn, Nguyễn Công Hoan chú ý
hơn cả đến tính chủ đề, chỉ là một vấn đề, một lớp truyện.
Trong Từ điển thuật ngữ văn học truyện ngắn đợc coi là: Tác phẩm tự
sự cỡ nhỏ. Nội dung thể loại của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phuơng tiện
của đời sống: Đời t, thế sự hay sử thi nhng cái độc đáo của nó là ngắn. Truyện
Ngô Thanh Mai K41
Trong 150 thuật ngữ văn học tác giả viết truyện ngắn là một thể loại
của tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thờng đợc viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phơng diện của đời sống con ngời và xã hội. Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới
hạn về dung lợng, tác phẩm truyện ngắn thích hợp với ngời tiếp nhận độc giả đọc nó liền một mạch không nghỉ [dẫn theo 28; Trang 11]
Nh vậy từ các định nghĩa trên về thể loại truyện ngắn cho chúng ta một
cái nhìn toàn cục về thể tài này: Dung lợng, kết cấu, sức khái quát hiện thực
Từ đó ta có thể rút ra những điểm chính về thể loại truyện ngắn nh sau:
Truyện ngắn là một thể tài tự sự cỡ nhỏ(nhỏ ở đây đồng nghĩa với ngắn
gọn, hàm súc, tinh lọc và hay). Truyện ngắn tập trung vào một mặt nào đó của
đời sống, xoay quanh một vài biến cố, sự kiện tập trung trong một không gian,
thời gian nhất định. Kết cấu truyện ngắn chặt chẽ và là kết cấu đơn tuyến. Nhân
vật truyện ngắn thờng thể hiện một tâm thế của con ngời trong thời đại. [Dẫn
theo 22;10 - 11].
1.1.2. Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn.
Ngôn ngữ truyện ngắn là ngôn ngữ mô tả đối thoại (nội tại). Ngôn ngữ
truyện ngắn chứa đựng nhiều phong cách, nhiều giọng nói, những phong cách
xen lẫn nhau, hoà hợp, tranh luận, cải vã Nhà văn Nguyên Ngọc khi nói về
ngôn ngữ truyện ngắn đã phát biểu: Truyện ngắn nào của T. Sêkhốp cũng làm
giàu đời sống tinh thần của ta vì chúng đánh thức dậy ở ta ý thức ham muốn
giác ngộ về sự phân vân, đắn đo hoặc nói nh các nhà hiền triết phơng Đông biết tìm cái có trong cái không, cái không trong cái có [dẫn theo 23; Tr.13].
Mỗi truyện ngắn hay thờng không tự nó đem đến cho ta một kết luận
khẳng định hay bác bỏ, dứt khoát áp đặt. Nó đặt ra trớc ngôn ngữ sự lựa chọn
hay nói nh M - BaKhtin là trớc sự liên minh của lỡng lự. Mỗi từ, mỗi câu
trong truyện ngắn phải tự mô tả lấy mình, phải đẹp. Ngôn ngữ tự đối thoại, tự
tranh cãi, hay nói cách khác, ngôn ngữ lỡng lự nớc đôi khiến cho truyện ngắn
hiện đại là truyện ngắn của những khả năng.
Nhà văn Nga M. Goocki nói: Muốn học viết phải bắt đầu từ truyện ngắn.
Bởi viết truyện ngắn nó luyện cho tác giả biết tiết kiệm từ ngữ, biết cách viết cô
trong mối quan hệ trao đáp qua lại, từ định vị, vị thế phát ngôn của mình với
nhân vật giao tiếp, lựa chọn các yếu tố tình thái để thể hiện những sắc thái tình
cảm, thái độ ứng xử, xử lý các tình huống hội thoại. Đồng thời nhân vật khi
tham gia giao tiếp là chủ thể của nhận thức, chủ thể hành động trong quá trình
hội thoại.
Vậy nhân vật văn học là: Một đơn vị nghệ thuật đầy tính ớc lệ, không
đồng nhất nó với con ngời có thật trong đời sống. [7;202]
Chức năng cơ bản của nhân vật văn học khái quát tính cách của con ngời.
Do tính cách là một hiện tợng xã hội lịch sử, nên chức năng khái quát tính cách
của nhân vật văn học cũng mang tính lịch sử Trong tác phẩm văn học đặc
điểm nhân vật quy định chính ngôn ngữ mà nhà văn vận dụng để khiến lời nhân
vật. nhân vật văn học còn thể hiện chức năng nghệ thuật và lí tởng thẩm mĩ của
nhà văn về con ngời, vì thế nhân vật luôn gắn chặt với chủ đề tác phẩm. Nói nh
MăcximGorki: Ngôn ngữ là cái áo của mọi t tởng. Nếu ngôn ngữ ví là cái
áo của t tởng thì nhân vật là hình thù con ngời mặc cái áo ấy. Chính vì vậy mà
khi ta khảo sát về ngôn ngữ nhân vật không thể không quan tâm đến nhân vật.
1.2.2 . Ngôn ngữ nhân vật.
Các phơng thức thể hiện nhân vật trong tác phẩm hết sức đa dạng. Nhà
văn có thể dùng chi tiết để miêu tả chân dung, ngoại hình, tả hành động, tâm
trạng nhân vật, có khi nhân vật còn đợc thể hiện mình qua mâu thuẫn, xung đột,
sự kiện Và một phơng tiện đặc biệt nữa là nhân vật còn đợc thể hiện bằng các
phơng tiện ngôn ngữ.
Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong truyện ngắn Nguyễn Thi
9
Khoá luận tốt nghiệp đại học
hình thức nguyên vẹn trực tiếp, đợc hình thức hoá bởi các dấu câu để phân biệt
với lời tác giả. Trong đối thoại có thể có lời tác giả và động từ dẫn vào lời nói
trực tiếp, cũng có thể đối thoại không cần lời dẫn.
Còn lời độc thoại, ở dạng ngôn ngữ này cũng có những hình thức, dấu
hiệu, nhận biết nhất định. Theo Lê Thị Sao Chi: Lời độc thoại có thể đợc nhận
diện bởi các dấu hiệu nh: Hình thức hoá bởi các dấu câu, đợc báo bằng các lời
dẫn.
Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong truyện ngắn Nguyễn Thi
10
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Ngô Thanh Mai K41
Dạng thứ 2: Ngôn ngữ nhân vật đợc thể hiện trong sự miêu tả của nhà
văn. Nhà văn không để cho nhân vật tự bộc lộ ngôn ngữ của nó mà lại miêu tả
về ngôn ngữ ấy. Vì thế qua lời tác giả, ta cũng có thể nhận diện đợc những đặc
điểm của ngôn ngữ nhân vật.
Với 2 dạng tồn tại trên, ngôn ngữ nhân vật có khả năng cá thể hoá tính
cách nhân vật, làm nổi bật cốt truyện, gián tiếp bộc lộ thái độ và phong cách tác
giả và nó góp phần làm cho giọng điệu tác phẩm thêm đa dạng phong phú.
1.3 . Tác giả Nguyễn Thi.
1.3.1 . Sơ lợc về cuộc đời và sự nghiệp.
- Cuộc đời: Nguyễn Thi tên thật là Nguyễn Hoàng Ca sinh ngày
15/5/1928. Quê ông ở xã Quần Phơng Thợng - huyện Hải Hà - tỉnh Nam Định
(nay là Hải Anh tỉnh Hà Nam Ninh).
Thân sinh của ông là Nguyễn Bội Quỳnh, một hơng s có chí khí, bị thải
Ngô Thanh Mai K41
về, bà Du cũng phiêu bạt, lang thang. Sống với chú đợc 3 năm, chú chết, Ca
sống dựa vào bà con, mỗi ngời một hai tháng. Mời bốn tuổi anh theo một gánh
hát làm kép phu, lơng tháng 3 đồng, hôm nào hát đợc bồi dỡng thêm 5 xu, anh
thờng ngồi ở một quán nớc chè xanh, ăn khoai lang ngô nớng, kẹo bột, còn bạn
bè có tiền rủ nhau ăn phở uống cà phê.
Năm 1954 anh cới cô Bá, ngời yêu làm vợ, anh đi tập kết, Bá ở lại không
tự chủ đợc đã sa ngã. Năm 1959 Bá ra Hà Nội, Tấn ho ra máu phải nằm bệnh
viện. Cách đó một tháng, Tấn đã lấy vợ khác, lần lấy vợ thứ hai này Anh ít
quan tâm đến tình yêu mà chỉ cần lấy một ngời vợ gốc gác bình dân mà anh cho
là thật thà, đơn giản, trung hậu (Nhị Ca). Tấn trầm lặng, nhng đôi lúc cục cằn
nóng nảy, gặp lúc không vừa ý dễ chán nản: Anh biết nhẫn nại và cũng hay tức
tối. Vẻ mặt ít tơi sáng trong tính tình của nhà văn, chắc chắn có bóng mây của
mấy chục năm quá khứ.
Nguyễn Thi có một năng khiếu nghệ thuật đa dạng, ở tạp chí Văn nghệ
giải phóng ông viết diễn ca, vẽ bìa, vẽ minh hoạ, dạy múa, dạy hát tự mình
cũng diễn kịch, múa lân.
Về văn học, Nguyễn Thi thích nhất truyện lịch sử và truyện quê của Tô
Hoài, Nam Cao, thích thơ Trần Huyền Trân, Vũ Hoàng Chơng, Nguyễn Bính,
thích truyện Truyền kỳ mạn lục, Bích câu kỳ ngộ, háo hức đọc cuốn Họ
chiến đấu cho tổ quốc của SôLôKhốp. Nguyễn Thi học viết công phu, tìm hiểu
thực tế, ghi chép kĩ lỡng, có tinh thần trách nhiệm cao về ngòi bút. Ông là một
nhà văn cần cù, xông xáo. Cần cù vì ngoài thời gian phải cáng đáng công việc
của ngời làm báo, ông biết lợi dụng , mọi cơ hội để viết. Xông xáo và luôn có
mặt ở những mũi nhọn chiến đấu khi thì ngủ cùng hầm với ngời du kích, khi thì
đi theo một mũi xung kích tấn công.
Trong một thời gian ngắn, ông đã viết đợc nhiều và về khá nhiều thể loại.
- Tác phẩm của Nguyễn Thi:
Nguyễn Thi thử bút với nhiều thể loại, song thành công hơn cả là truyện.
Truyện ngắn của Nguyễn Thi không nhiều, nhng truyện nào cũng có giá trị
cao, đặc biệt là những truyện viết về tuổi thơ và tuổi trẻ [17;286]. Truyện ngắn
Nguyễn Thi tái hiện một cách sinh động về đời sống của nhân dân ta nói chung
và nhân dân Miền Nam nói riêng trong hoàn cảnh chiến tranh.
Viết về chiến tranh, viết về miền Nam, có hàng trăm, hàng ngàn ngời đã
và đang viết. Nhng Nguyễn Thi viết không giống ai. Mình anh một cách nhìn,
nhất là cách nói. Chính vì cái này, anh còn lại. Trong nghệ thuật không có nội
dung cụ thể đứng ngoài hình thức văn bản, đọc sáng tác của anh ta thấy rõ điều
đó, đọc truyện ngắn càng hiểu đầy đủ, thấm thía hơn [3;244] .
Đằng sau trang giấy là vốn sống thực, vốn từ ngữ, vốn hiểu biết nó tạo bề
dày nổi khối cho hình tợng. Thông qua truyện ngắn ta sẽ thấy ngôn ngữ văn chơng, hệ thống hình ảnh nhân vật của Nguyễn Thi khá hàm súc, nó không khép
kín mà mở rộng cho liên tởng ngời đọc.
- Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thi.
Trong truyện ngắn của Nguyễn Thi, ông đã xây dựng hai tuyến nhân vật,
nhân vật chính diện và nhân vật phản diện. Tuy nhiên loại nhân vật phản diện
chỉ mờ nhạt trong một số truyện nh Chuyện xóm tôi; Cha con ngời chính
uỷ" Còn phần đông đại đa số là tuyến nhân vật chính diện - nhân dân, con
ngời Việt Nam nói chung và miền Nam nói riêng. Thế giới nhân vật ấy có đủ
các tầng lớp, lứa tuổi: ngời cán bộ, ngời nhân dân, già trẻ, gái trai Họ, hầu hết
là những ngời sinh ra và lớn lên ở nông thôn, họ có đời sống tình cảm phong
phú, gắn liền với sông rạch, cây cỏ ở miền Nam, gắn liền với bà con làng xóm
và họ đều có chung một lòng căm thù giặc, sẵn sàng tham gia đánh giặc, tìm
mọi cách để đánh giặc, vào du kích hay đi bộ đội, sản xuất hay chiến đấu, đó là
nét chung của nhiều nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thi. Đọc mỗi trang
viết của Nguyễn Thi ta thấy hình ảnh con ngời Việt Nam hiện ra ngoan cờng
bất khuất trong đấu tranh - hình ảnh ngời phụ nữ miền Nam trong những cuộc
đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang có cả vũ khí của lời nói và lời nói của
Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong truyện ngắn Nguyễn Thi
b. Ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong truyện ngắn Nguyễn Thi.
* Quan niệm về trẻ em.
Dựa trên những quan điểm triết học khác nhau, ngời ta hiểu về trẻ em
rất khác nhau. Có quan niệm cho rằng trẻ em là ngời lớn thu nhỏ lại sự khác
nhau về trẻ em và ngời lớn về mọi mặt (cơ thể, t tởng, tình cảm) chỉ ở tầm cỡ,
kích thớc, chứ không khác nhau về chất. Nhng ngay từ TK XVIII Rút Xô
(1712-1778) đã nhận xét rất tinh tế về những đặc điểm tâm lý của trẻ nhỏ. Theo
ông trẻ em không phải là ngời lớn thu nhỏ lại và ngời lớn không phải lúc nào
cũng hiểu đợc trí tuệ, tình cảm, nguyện vọng độc đáo của trẻ thơ vì trẻ em có
những cách nhìn, cách suy nghĩ và cảm nhận riêng của nó. Sự khác nhau giữa
trẻ em và ngời lớn là sự khác nhau về chất.
Các nhà nghiên cứu tâm lý học biện chứng đã khẳng định: trẻ em không
phải là ngời lớn thu nhỏ lại. Trẻ em là trẻ em, nó vận động, phát triển theo quy
Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong truyện ngắn Nguyễn Thi
14
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Ngô Thanh Mai K41
luật của trẻ em [8;10]. Ngay từ khi ra đời đứa trẻ đã có những nhu cầu đặc trng của con ngời nhu cầu giao tiếp với ngời lớn. Ngời lớn cần phải có những
hình thức riêng, ngôn ngữ riêng để giao tiếp với trẻ: Điều kiện sống và hoạt
động của các thế hệ ngời ở các thời kỳ lịch sử khác nhau là rất khác nhau. Do
vậy mổi thời đại khác nhau lại có trẻ em của riêng mình.
Theo tâm lý học lứa tuổi ngời ta đã chia ra 2 thời kỳ phát triển tâm lý trẻ
em.
- Giai đoạn trớc tuổi học: bắt đầu từ tuổi sơ sinh đến 5 tuổi.
15
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Ngô Thanh Mai K41
ngời mới Việt Nam: Mẹ vắng nhà", Chuyện xóm tôi đã khám phá ra thế
giới tâm hồn trẻ thơ trong sáng và phong phú. Nhng các em phải sớm lo toan
gánh vác nh ngời lớn trong hoàn cảnh chiến tranh [19;82] đáng chú ý là trong
truyện ngắn Nguyễn Thi có một loại nhân vật mà chúng tôi tạm đặt là "nhân
vật trẻ em đặc biệt lứa tuổi từ 15 đến 18 mà tâm lý học gọi là thời kỳ cuối của
tuổi học sinh: Nh chị em Việt - Chiến trong Những đứa con trong gia đình;
Chỉnh, Nga, Hà trong Mùa xuân họ đã lớn, nhng tâm hồn, tính cách lại
đang rất trẻ thơ, vô t trong sáng ngô nghê nhng cũng đầy lòng dũng cảm đến
lạ lùng.
Nh vậy trong cái thế giới nhân vật phong phú đa dạng của truyện ngắn
Nguyễn Thi thì nhân vật trẻ em chiếm một vai trò - vị trí quan trọng: Nó góp
phần vào bản trờng ca anh dũng của nhân dân Miền Nam nói riêng và dân tộc
Việt Nam nói chung.
* Ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong truyện ngắn Nguyễn Thi.
Trong truyện ngắn Nguyễn Thi , qua khảo sát chúng tôi thấy rằng ngôn
ngữ nhân vật trẻ em tồn tại ở cả hai dạng trực tiếp và gián tiếp.
Dạng ngôn ngữ
Gián tiếp
Trực tiếp
+ Đối thoại
+ Độc thoại
tồn gắn với mỗi thời đại mà các nhân vật đó sống [12;254]. Đó là khoảng
không gian rộng lớn nh vùng thành thị, nông thôn , vùng biển, vùng núi, vùng
đồng bằn hay một khoảng không gian hẹp nh ở sân bay, nhà hàng, lớp học,
nhà riêng, mảnh sân, vờn cây, góc bếp Những không gian này chi phối trực
tiếp nhân vật sử dụng vốn từ ngữ, cách vào đề, cách nói chuyện, nội dung lời
nói, lựa chọn từ xng hô, yếu tố tình thái trong ngôn ngữ của từng nhân vật.
Qua khảo sát chúng tôi thấy rằng ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong truyện
ngắn Nguyễn Thi gắn với những dạng không gian sau:
Không gian làng quê, và không gian gia đình. Hai loại không gian này
chúng ta thấy đã xuất hiện khá nhiều trong các tác phẩm của Nam Cao, Ngô Tất
Tố Tuy nhiên, cái đặc biệt của Nguyễn Thi ở chổ ông tái hiện không gian
làng quê, không gian gia đình để nói lên một không gian rộng lớn hơn. Đó là
cái không gian của cả dân tộc, của cả đất nớc trong những ngày tháng chiến
tranh, vất vả đau thơng mà cũng quật cờng anh dũng.
- Không gian làng quê: ở dạng không gian này tác giả đã tạo ra một sự
đối lập - giữa không gian của vùng giải phóng - ở Miền Bắc và không gian đầy
ma bom lửa đạn ở những vùng quê Miền Nam.
Trong không gian tạm gọi là no đủ và yên bình nhân dân làng Mỹ Lý nói
chung và đàn em thơ (trong đó có Mùi và Bụng) hớn hở chào đón Tâm trở về
làng. Tâm đứng ngay cửa toa, mùi gà vịt, mùi nhang đèn, tiếng cời, tiếng gọi,
hơi thởi dài, lời chúc tụng, kèm theo những màu hoa giấy xanh đỏ, màu bánh
trái, màu cờ, màu vôi mới trên tờng nhà ga làm không khí rộn hẳn lên dới làn
ma bụi mờ mờ của ngày cuối năm (). Đứng đây Tâm đã thấy thôn Mỹ Lý
đằng xa, khói chiều 30 tết quện lên ôm lấy bờ tre mới mọc () Tâm đa mắt
nhìn quanh. Cây đa vẫn sừng sững trớc cổng làng ngọn cây tròn tròn, hiền hậu,
xanh mát (về Nam - T52 - 53).
Không gian làng quên ven sông Hậu, nơi đó hàng ngày chị em con Bé
vẫn hồn nhiên lắng nghe tiếng bom đạn Nắng đứng ngọn. Gió ngoài sông Hậu
vẫn thổi vào lồng lộng. Đã mấy ngày liền sáng nào cũng ma, trời oi và đục màu
khói thuốc. Nắng lên làm cho trời cao và trong xanh. Lớp áo cát phủ quanh
Việc đặt ngôn ngữ trẻ em trong một không gian nh vậy đã làm toát lên đợc ý nghĩa sâu sắc của chủ đề t tởng truyện ngắn Nguyễn Thi.
Bên cạnh 2 loại không gian rộng trên, ở trong tác phẩm của Nguyễn Thi
còn có dạng không gian hẹp nh: Tại vờn chuối vắng lặng, đã diễn ra một cuộc
thoại giữa Mùi và Bụng. Không gian trong một cái hầm tránh bom đạn của chị
em con Bé, hay cái không gian trong lớp học do con Bé làm cô giáo và đàn em
làm học trò, tất cả đợc đặt ra và chi phối ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong từng
hoàn cảnh cụ thể.
1.4.2. Thời gian.
Song song với nhân tố không gian, nhân tố thời gian cũng chi phối trực
tiếp vào ngôn ngữ nhân vật, thời gian đó có thể là thời gian đồng hiện hoặc thời
gian hồi tởng.
Theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên: Thời gian hồi tởng là thời gian mà nhân
vật tái hiện qua hồi ức hay sự hồi tởng. Hồi ức đó có thể tuơi sáng, buồn sầu,
chua xót, tiếc nuối , khổ đau, ân hận, day dứt [12;256] còn thời gian đồng hiện
là thời gian mà lời nhân vật đợc hiện thực hoá trong đó, đó là khoảng thời gian
cụ thể để các hành động ngôn ngữ diễn ra trong đó, cho phép câu nói đó có tính
hiện thực hay không hiện thực, đúng hay sai. ở điểm này có thể xem thời gian
nh một nhân tố ngữ nghĩa có ảnh hởng đến tính định hớng lời nói nhân vật
[12;258].
Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong truyện ngắn Nguyễn Thi
18
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Ngô Thanh Mai K41
Theo sự khảo sát của chúng tôi, ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong truyện
trẻ em trong truyện ngắn Nguyễn Thi.
2.1. Nhân vật trẻ em sử dụng những từ ngữ giàu sắc thái khẩu ngữ.
Theo tác giả Ngữ nghĩa lời hội thoại thì Do lời thoại là lời trao trực
tiếp có tính thờng nhật giữa ngời nói và ngời nghe, là những suy nghĩ đợc thể
hiện thành lời một cách trực tiếp nên thiếu sự gọt dũa [12;208], chính vì vậy
mà sắc thái khẩu ngữ của lời thoại thờng nổi lên rất rõ. Qua khảo sát lời thoại
nhân vật trẻ em trong truyện ngắn Nguyễn Thi, chúng tôi thấy sắc thái khẩu ngữ
của nhân vật trẻ em đợc thể hiện ở những phơng diện sau.
2.1.1. Nhân vật trẻ em sử dụng một số từ ngữ trong ngôn ngữ nói
hàng ngày.
a. Sử dụng những từ ngữ có tính chất đệm vào, chêm vào hoặc yếu tố
đa đẩy hàng ngày trong lời nói nh: Nhá, rồi, với, làm gì có, chừng nào, chớ,
gì, ai biểu, chứ gì, này
Ví dụ:
- Bin! Bin ô tô bộ đội đây. Ai không tránh ô tô đè chết này!
(Về Nam Tr.57)
"Mùi gắt lên.
Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong truyện ngắn Nguyễn Thi
20
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Ngô Thanh Mai K41
- Chứ gì! Tao thấy các anh ấy bảo đi đấy! đã xếp quần áo, trả giờng mẹ
tao rồi. Về mau lên rồi xin đi vào Nam với anh Tâm!
( Về Nam Tr.77)
- Con lấy tái kia, con không lấy tái bằng đất.
Chị Hai cho con đi mà con ọi thằng Pòng
(Chuyện xóm tôi Tr.169 170)
Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong truyện ngắn Nguyễn Thi
21
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Ngô Thanh Mai K41
Hay: Đực hỏi mẹ:
- Máy bay nó ết a má?
- Hết rồi, không thấy mấy anh mầy đốt bốt Rạch Dầu cháy đó ha?"
(Chuyện xóm tôi Tr.185)
- Trong sinh hoạt hàng ngày của trẻ thờng có những từ tục rất tự nhiên
quen thuộc:
Ví dụ:
Đang giữa trong lớp học của chị em con bé thằng Hiển đã phát lên tiếng
chửi quen thuộc với cái giọng ngọng líu:
- ụ ẹ thằng Mỹ
(Mẹ vắng nhà - Tr.263)
Hay trong câu nói của Chỉnh:
-Chị Hai cho em đi với
- Tao đi đái chớ đi đâu mà theo
(Chuyện xóm tôi Tr.169)
Với việc sử dụng các từ ngữ mang sắc thái tục làm cho sắc thái khẩu
ngữ trong lời nói của nhân vật trẻ em càng rõ rệt.
- Cả chị cũng vào Nam chơi với em nữa cơ!
(Về Nam Tr. 66)
Các lời thoại trên cho ngời đọc nhận thấy rằng: Mùi, Bụng là những đứa
trẻ vùng Bắc Bộ, với các từ tình thái nh: nhá, cơ, từ xng hô: Anh, em từ đệm
phủ định chả thể hiện rõ sắc thái từ ngữ của trẻ em vùng Bắc Bộ.
b. Địa phơng Nam Bộ.
Có ngời nói rằng: Biệt tài của Nguyễn Thi là sự thể hiện Cái gồ ghề
ngổn ngang nh cuộc sống mà cũng trong sáng nh kinh điển của ngôn ngữ Nam
Bộ. Nguyễn Thi sử dụng một cách thành thạo tiếng nói của ngời Nam Bộ, có
chọn lọc và nâng cao. Có khi một từ địa phơng Nam Bộ đặt vào cửa miệng của
nhân vật đã tạo ra cái duyên, cái đặc biệt của nhân vật Nguyễn Thi. Theo khảo
sát của chúng tôi thì nhân vật trẻ em trong truyện ngắn của Nguyễn Thi đã sử
dụng một lợng từ ngữ mang sắc thái Nam Bộ khá dày đặc nh: từ xng hô: Má,
ba, nội, ảnh (anh); Từ tình thái: Nhe, nghen, heng, mừ...; Động từ, tính
từ, danh từ,: Thiệt, mét, Tánh
Ví dụ:
Con Anh chạy lon ton trớc chân mẹ nh sợ mấy đứa kia sẽ tranh hết
phần mẹ của mình. Nó nói:
- Con thấy má xung phong mừ
- Con cũng thấy má nữa. Thằng Hiển nói theo.
- Thấy làm sao? - Ngời mẹ hỏi.
- Thấy má vậy nè...
Con èo lót ổ cây đa, heng má, má đi đánh giặc cho con, không phải cho
thằng hiển heng má?
( Mẹ vắng nhà - Tr.272)
- Tao mét má nghen! Má ơi, thằng Bỉnh nó cởi truồng nè má!
( Chuyện xóm tôi Tr.169)
- Tao nhốt tụi bây lại nghen. Mấy ảnh đi bắn máy bay, tụi bây có bắn đợc
không mà theo?"
trong truyện ngắn Nguyễn Thi thấy rằng nhân vật trẻ em đã sử dụng một số lợng các đại từ nhân xng đích thực khá lớn với tần số xuất hiện ở bảng sau:
Tên đại từ nhân xng
Tao
mày(mầy)
Tôi
Nó
Chúng mày (tụi bây)
Em
Cộng
Tần số xuất hiện
33
27
9
9
4
40
122
Tỷ lệ %
27,0
22,1
7,4
7,4
3,3
32,8
100
Đại từ tao xuất hiện nhiều nhất: 33 lần. Trong đó Những đứa con
trong gia đình: 13 lần; Mẹ vắng nhà: 9 lần; Mùa xuân: 6 lần; Chuyện
Chỉnh đợc đi tòng quân, đến tạm biệt Hà - cô bạn không sợ máy bay bỏ
bom mà chỉ sợ máy bay nó rớt trúng đầu mình:
- "Mày đi sao tao không đợc đi?
- Tao đâu biết.
.
- ở nhà có đi bắn bót thì nhớ bắn phần tao nữa.
- Bót còn đâu mà bắn?
- Thì lội qua Kinh Ngang, phối hợp
( Mùa xuân Tr.188)
- Vô đi. Mầy không vô hả?
Bỉnh đứng nghẹo cổ, sệ má nhìn lom lom.
-Tao đành à! vô đi, mai chị làm cho cây mi bá rút.
Bỉnh núng nẩy đứng giậm hai chân
- Tao méc má nghen! Má ơi, thằng Bỉnh nó cởi truồng nè má!
Miệng Bỉnh sệ ra, muốn khóc.
- Chị Hai cho em đi với
- Tao đi đái chớ đi đâu mà theo
(Chuyện xóm tôi Tr.169)
Qua các đoạn thoại trên ta thấy một điều hết sức thú vị là hai đại từ tao và
"mày luôn luôn đợc sử dụng song hành trong cuộc thoại, chúng làm thành một cặp
Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong truyện ngắn Nguyễn Thi
25