Đặc điểm ngôn ngữ miêu tả cử chỉ trong truyện ngắn của kim lân - Pdf 40

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

DƢƠNG THỊ ĐẠT

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ MIÊU TẢ
CỬ CHỈ TRONG TRUYỆN NGẮN
KIM LÂN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 602.20102

LUẬN
THẠC
SĨthể
KHOA
NGỮmục
VĂNlục
Bố cụcVĂN
của luận
văn
hiện HỌC
qua trang

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Văn Khang

SƠN LA, NĂM 2015


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Đặc điểm ngôn ngữ miêu tả cử chỉ trong


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ....................................................................................................... 1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu .............................................................................. 3
2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngôn ngữ theo quan điểm phân tầng xã hội .. 3
2.1.1. Các công trình nước ngoài nghiên cứu về sự phân tầng xã hội trong ngôn ngữ. ......4
2.1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề phân tầng xã hội trong ngôn ngữ ở Việt Nam ................ 5
2.2. Lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ cử chỉ nói chung ................................................... 7
2.2.1.Lịch sử vấn đề về ngôn ngữ cử chỉ nói chung .................................................... 7
2.2.2 Các công trình, các bài nghiên cứu của các tác giả nước ngoài ......................... 8
2.2.3. Các công trình, các bài nghiên cứu của các tác giả trong nước ............................... 10
2.3. Khái quát về tác giả tác phẩm: Kim Lân và truyện ngắn của tác giả......................... 12
2.3.1. Đôi nét về tác giả .............................................................................................. 12
2.3.2. Lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ cử chỉ trong truyện ngắn Kim Lân .................. 14
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................ 16
3.1. Mục đích nghiên cứu: .......................................................................................... 16
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: ......................................................................................... 16
4. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 16
5. Phạm vi tư liệu khảo sát ......................................................................................... 17
6. Cấu trúc luận văn .................................................................................................... 17
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT .............................................................................. 18
1.1. Một số vấn đề về ngôn ngữ cử chỉ ....................................................................... 18
1.1.1. Khái niệm ngôn ngữ cử chỉ ............................................................................... 18
1.1.2. Cơ chế hoạt động và tính chất của ngôn ngữ cử chỉ ......................................... 21
1.1.2.1.Cơ chế hoạt động của các yếu tố phi ngôn ngữ............................................... 21
1.1.2.2. Tính chất của ngôn ngữ cử chỉ ....................................................................... 23
1.1.3. Phân loại ngôn ngữ cử chỉ ................................................................................. 25
1.1.3.1. Phân loại theo ý nghĩa biểu hiện của ngôn ngữ cử chỉ ................................... 26
1.1.3.2. Phân loại theo các bộ phận thực hiện cử chỉ điệu bộ ..................................... 29

1.4.3. Ảnh hưởng của giới tính trong sử dụng ngôn ngữ cử chỉ nói riêng .................. 50
1.5. Quan niệm về cuộc đời, con người và văn chương của Kim Lân ........................ 50
1.5.1. Quan niệm về cuộc đời, con người và văn chương ........................................... 50


1.5.2 Ngôn ngữ nghệ thuật truyện ngắn Kim Lân .................................................... 53
1.5.3 Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Kim Lân ........................................... 55

Tiểu kết chương 1 ……………………………………………….…………...55
Chƣơng 2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM KHÁI QUÁT VỀ NGÔN NGỮ MIÊU TẢ CỬ
CHỈ TRONG TRUYỆN NGẮN KIM LÂN THEO PHÂN TẦNG XÃ HỘI ..... 58
2.1. Đặt vấn đề ............................................................................................................ 58
2.2. Khảo sát cụ thể .................................................................................................... 62
2.2.1. Phân loại ngôn ngữ miêu tả cử chỉ trong truyện ngắn Kim Lân theo giai cấp
và tầng lớp xã hội ....................................................................................................... 62
2.2.1.1. Ngôn ngữ miêu tả cử chỉ của giai cấp vua quan, địa chủ phong kiến................. 64
2.2.1.2. Ngôn ngữ miêu tả cử chỉ của tầng lớp tiểu tư sản ........................................ 68
2.2.1.3. Ngôn ngữ miêu tả cử chỉ của giai cấp nông dân .......................................... 76
2.2.2. Phân loại ngôn ngữ miêu tả cử chỉ trong truyện ngắn Kim Lân theo nghề
nghiệp ......................................................................................................................... 87
2.2.2.1. Ngôn ngữ miêu tả cử chỉ của vua chúa, quan chức ...................................... 90
2.2.2.2. Ngôn ngữ miêu tả cử chỉ của chức sắc, chức dịch, viên chức ................. 91
2.2.2.3. Ngôn ngữ miêu tả cử chỉ của người kinh doanh, buôn bán ......................... 92
2.2.2.4. Ngôn ngữ miêu tả cử chỉ của nhà văn, nhà báo, diễn viên, cán bộ ...................... 95
2.2.2.5. Ngôn ngữ miêu tả cử chỉ của những người thượng võ (đấu vật) ............. 99
2.2.2.6. Ngôn ngữ miêu tả cử chỉ của những người làm ruộng, làm thợ ............ 103
2.2.2.7. Ngôn ngữ miêu tả cử chỉ của người làm thuê, đi ở ........................................ 104
2.2.2.8. Ngôn ngữ miêu tả cử chỉ của những đối tượng không rõ nghề nghiệp hoặc
không có nghề nghiệp............................................................................................... 106
2.3. Ý nghĩa của việc phân loại ngôn ngữ miêu tả cử chỉ trong truyện ngắn Kim Lân

1.1. Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt. “Ngôn ngữ chỉ có thể
phát sinh và phát triển gắn liền với xã hội, trong xã hội loài người. Ngoài xã
hội, ngôn ngữ không thể tồn tại được” [6, 14]. Sở dĩ như thế bởi ngôn ngữ
sinh ra và phát triển để phục vụ nhu cầu giao tiếp ngày càng phong phú của
con người. Do mối quan hệ phức tạp này mà bộ môn Ngôn ngữ học xã hội ra
đời, thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học và đã
có những đóng góp phong phú, thiết thực vào việc nghiên cứu ngôn ngữ học
nói chung. Ngôn ngữ học xã hội là một bộ môn giáp ranh, các vấn đề nghiên
cứu của nó là sự giao thoa của nhiều ngành khoa học khác nhau như Xã hội
học, Lịch sử, Triết học, Văn hóa,…Chính sự liên ngành phong phú này đã mở
ra nhiều hướng nghiên cứu thú vị cho những vấn đề ngôn ngữ tưởng chừng như
đã cũ.
Ngôn ngữ học xã hội ra đời giải quyết một số vấn đề ngôn ngữ liên
quan tới xã hội như: hiện tượng song ngữ, đa ngữ, hiện tượng ngôn ngữ lai
tạp, song thể ngữ, đa thể ngữ…Một trong số những vấn đề thú vị của Ngôn
ngữ học xã hội đó chính là hiện tượng phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn
ngữ. “Phân tầng xã hội” vốn là một trong 10 vấn đề cơ bản của Xã hội học,
đó là sự xắp xếp mỗi một thành viên trong xã hội vào các “nhóm xã hội”
(hay còn gọi là “giai tầng xã hội”, “phân tầng xã hội”) khác nhau trên cơ sở
hàng loạt các tiêu chí như giai cấp, giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp,... “Các
đặc điểm về giai tầng xã hội có tác động trực tiếp và tạo nên các đặc điểm
về ngôn ngữ trong sử dụng” [18, 115-116]. Nghiên cứu sự đồng nhất và
khác biệt trong cách sử dụng ngôn ngữ của các thành viên trong cùng một
nhóm xã hội, giữa các nhóm xã hội, trong cùng một thời kì, hay qua các giai
đoạn lịch sử khác nhau sẽ là một hướng đi tiềm năng hứa hẹn nhiều kết quả
thú vị.

1



2


1.3.Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi sẽ chỉ dừng lại tìm hiểu
ngôn ngữ cử chỉ dưới góc nhìn Ngôn ngữ học xã hội trong sáng tác của tác giả
Kim Lân - Cây bút nổi tiếng viết về nông dân và nông thôn Việt Nam. Kim
Lân đến với văn chương bằng sự say mê, ham thích như lời ông tâm sự: “Viết
văn, trước tiên tôi viết cho mình, cho những mơ ước, gửi gắm của chính
mình. Sau nữa, đó là những lời bộc bạch, tâm sự với bạn đọc những điều
đang nhức nhối, đang thôi thúc”. Có thể khẳng định: Kim Lân đặc biệt thành
công trong việc xây dựng thế giới nội tâm nhân vật. “Các nhân vật người
nghèo, chủ yếu là nông dân trong các truyện ngắn của ông đều được mô tả hết
sức chân thật, từ cách nghĩ, cách cư xử đến lời ăn tiếng nói, dù đó là các nhân
vật phụ hay là các nhân vật chính” (Nguyễn An - Đặc san văn học tuổi trẻ, tập
12,1996). Mỗi loại nhân vật của Kim Lân lại có một kiểu ngôn ngữ đối thoại
riêng, không hề trộn lẫn. Và dĩ nhiên, đi liền với ngôn ngữ lời thoại độc đáo là
một hệ thống ngôn ngữ cử chỉ vô cùng sống động. Do đó, luận văn lựa chọn
đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ miêu tả cử chỉ trong truyện ngắn của Kim Lân”.
Với luận văn này, chúng tôi mong muốn có thể hiểu rõ hơn một số vấn đề của
ngôn ngữ cử chỉ, đặc biệt là ngôn ngữ cử chỉ dưới góc nhìn của Ngôn ngữ học
xã hội. Mặt khác, thấy được cái hay, cái độc đáo trong bút pháp bậc thầy về
truyện ngắn của một nhà văn tài năng như Kim Lân.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngôn ngữ theo quan điểm
phân tầng xã hội
Lí thuyết phân tầng xã hội là một trong mười vấn đề lí thuyết cơ bản
nhất của xã hội học. Ngôn ngữ học xã hội lại là một bộ môn có sự giao thoa
rộng rãi giữa nhiều ngành khoa học, đặc biệt là Ngôn ngữ học và Xã hội
học. Do đó, lí thuyết phân tầng xã hội cũng là vấn đề lí thuyết có sự chi
phối không nhỏ tới Ngôn ngữ học xã hội. Nghiên cứu ngôn ngữ học theo

Phân nhóm xã hội theo giới cũng là một cách thức quen thuộc khi nghiên
cứu các vấn đề xã hội nói chung và ngôn ngữ nói riêng. Tác phẩm nghiên cứu
chính thức đầu tiên về sử dụng ngôn ngữ giữa nam và nữ có lẽ là nghiên cứu
của Sapir với tựa đề “Male and female forms of speech in Yana” (Phong cách
nói của nam và nữ trong tiếng Yana) nghiên cứu sự khác nhau khi dùng một

4


số biến thể âm vị luân phiên trong tiếng Yana giữa nam giới và nữ giới [Dẫn
theo 7]
Trong bài viết “Giới tính, uy tín chìm, và sự biến đổi ngôn ngữ trong
phương ngữ đô thị vùng Norwich”, tác giả Per Trudgill cũng khẳng định nữ
giới dùng các dạng thức ngôn ngữ có liên quan đến chuẩn nhiều hơn nam
giới. Tác giả này cũng bước đầu lí giải nguyên nhân của hiện tượng này là do
vị trí xã hội của phụ nữ thấp hơn và ít được đảm bảo hơn so với nam giới. Dó
đó, có thể vì thế mà phụ nữ thấy cần phải ghi nhận vị trí xã hội của mình bằng
các phương tiện ngôn ngữ và các phương tiện biểu trưng khác ở mức độ cao
hơn nam giới.
Nhà ngôn ngữ học người Mỹ R. Lakoff (1975) cũng khảo sát cách sử
dụng tiếng Anh của nữ giới trung lưu ở Mỹ trong môi trường sống và làm
việc của họ về âm/ từ vựng/ cú pháp/ phong cách và rút ra kết luận rằng phụ
nữ thường thích lối nói nhẹ nhàng, rào đón bằng từ vựng hoặc cú pháp, ...
2.1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề phân tầng xã hội trong ngôn
ngữ ở Việt Nam
Nói tới các công trình nghiên cứu vấn đề phân tầng xã hội trong ngôn
ngữ ở Việt Nam phải kể đến cuốn “Ngôn từ, giới và nhóm xã hội từ thực tiễn
tiếng Việt” do Lương Văn Hy chủ biên. Tác phẩm là sự tập hợp mười bài
nghiên cứu về hiện tượng phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ của các
đối tượng xã hội khác nhau phân chia theo giới, theo các thế hệ trong gia

“Sự kì thị và sự chống kì thị đối với nữ giới trong sử dụng ngôn ngữ”. Bài
viết đề cập tới vấn đề ngôn ngữ và giới tính nói chung, những biểu hiện của
sự kì thị đối với nữ giới trong ngôn ngữ và sau đó đề ra kế hoạch hóa ngôn
ngữ chống thiên kiến đối với nữ giới và góp phần tạo sự bình đẳng giới.
Nhìn chung, vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ theo hướng phân tầng xã hội
và đặc biệt là dưới góc độ giới cũng là vấn đề đã được không ít các nhà khoa
học đề cập tới. Tuy nhiên, đây là một vấn đề khá “động” bởi sự phân tầng xã
hội phụ thuộc rất lớn vào yếu tố văn hóa xã hội, mà xã hội và văn hóa cũng là
những yếu tố có sự chuyển mình không ngừng theo thời gian. Do đó, nghiên
cứu ngôn ngữ theo theo định hướng phân tầng xã hội và giới là một con
đường luôn mới mẻ. Đặc biệt, riêng với loại hình ngôn ngữ cử chỉ, hầu như

6


chưa có công trình nghiên cứu nào trong nước nghiên cứu về nó theo định
hướng phân tầng xã hội và dưới góc độ giới. Đây vẫn là một hướng đi còn bỏ
ngỏ hứa hẹn nhiều thú vị và bất ngờ giàu ý nghĩa đối với lí luận ngôn ngữ nói
chung và ứng dụng ngôn ngữ nói riêng.
2.2. Lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ cử chỉ nói chung
2.2.1. Lịch sử vấn đề về ngôn ngữ cử chỉ nói chung
Trong suốt những năm đầu tiên của đời sống, đa số trẻ em chưa nói được
những từ có nghĩa, người ta gọi đây là giai đoạn giao tiếp không dùng lời nói
(nonverbal communication). Khoảng 18-20 tháng tuổi trẻ mới bắt đầu biết
ghép 2 từ riêng biệt thành một câu có cấu trúc ngữ pháp đơn giản nhất: câu 2
từ. Sau sinh nhật lần thứ 2, trẻ mới có thể nói được những câu ngắn một cách
khá hoàn chỉnh. Vậy, làm thế nào để cha mẹ và những người lớn khác có thể
giao tiếp cùng bé khi bé chưa biết nói? Theo tác giả Phạm Thị Cơi trong công
trình nghiên cứu mang tên: “Quá trình hình thành ngôn ngữ nói ở trẻ điếc
Việt Nam” thì “không riêng gì trẻ điếc câm, bất cứ đứa trẻ nào trước khi học

để lại dấu ấn trên gương mặt chúng ta với những biểu cảm của riêng nó”.
Khoảng những năm 50, thế kỉ XX, nhà nhân loại học người Mỹ Ray
Birdwhistell - một trong những nhà nghiên cứu ngôn ngữ cơ thể tiên phong,
tập trung nghiên cứu phương thức truyền đạt thông điệp của các bộ phận khác
nhau của cơ thể hay toàn bộ cơ thể và đặt tên cho môn học này của mình là
“Kinesics” - khoa học về ý nghĩa của ngôn ngữ cơ thể [15/41].
Năm 1970, mô hình nghiên cứu ý nghĩa của ngôn ngữ cơ thể đã được Paul
Ekman và Wallace Friesen (ĐH California) mở rộng, phân chia sự nghiên cứu ý
nghĩa của ngôn ngữ cơ thể thành 5 nhóm nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho
nghiên cứu.
Năm 1999, nhà xuất bản trẻ cho xuất bản cuốn “Cử chỉ, những điều nên
làm và nên tránh trong ngôn ngữ cử chỉ khắp thế giới” của Roger E. Axtell.
Cuốn sách tập hợp những ngôn ngữ cử chỉ nổi bật trên bề mặt của một nên
văn hóa để giúp người đọc am hiểu hơn về văn hóa các nước khi mà khoảng
cách giữa các quốc gia ngày càng gần do tốc độ phát triển của khoa học
và kĩ thuật.

8


Năm 2001, cuốn “Ngôn ngữ của cử chỉ - Ý nghĩa của cử chỉ trong giao
tiếp” của tác giả Allan Pease được phát hành tại Việt Nam. Cuốn sách này
nghiên cứu một số biểu hiện cụ thể của ngôn ngữ cử chỉ ở dạng riêng lẻ như:
cử chỉ của bàn tay, dấu hiệu của ánh mắt, cử chỉ của khuôn mặt,… với mục
đích giúp người đọc nhận ra các tín hiệu ngôn ngữ không lời riêng biệt của
mình và của đối phương để có thể đạt hiệu quả giao tiếp tốt nhất. Đối tượng
chính mà Allan Pease muốn hướng đến trong công trình của mình là các nhân
viên thương mại, các nhà kinh doanh và lãnh đạo sản xuất, cuốn sách như một
giáo trình để họ nghiên cứu, học hỏi và áp dụng vào lĩnh vực hoạt động kinh tế.
Cũng trong năm 2001, một cuốn sách khác về ngôn ngữ cơ thể được giới

những hiểu biết chung nhất và đơn giản nhất về ngôn ngữ cử chỉ, những cuốn
sách này tập trung hướng dẫn người đọc cách sử dụng ngôn ngữ cử chỉ và đọc
ngôn ngữ cử chỉ để đạt hiệu quả giao tiếp một cách tốt nhất.
2.2.3. Các công trình, các bài nghiên cứu của các tác giả trong nước
Cuốn sách “Giao tế nhân sự, giao tiếp phi ngôn ngữ” của tác giả
Nguyễn Văn Lê xuất bản năm 1996 là sự tập hợp 14 bài thi xuất sắc của
các sinh viên chuyên ngành báo chí về giao tiếp phi ngôn ngữ. Mục đích
của cuốn sách là góp phần thông qua những kiến thức lí thuyết chung nhất
và thông qua những ví dụ minh họa sinh động giúp người đọc, đặc biệt là
những người đang học và làm việc trong hai lĩnh vực quản trị kinh doanh
và báo chí có thể áp dụng ngôn ngữ cử chỉ vào cuộc sống nói chung và
công việc nói riêng.
Tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Đại cương ngôn ngữ - Tập II” cũng
có đề cập tới ngôn ngữ cử chỉ với một cái tên khác: yếu tố phi lời - một yếu tố
của vận động hội thoại. Ngoài việc đề cập tới một cách khái quát về “yếu tố
phi lời”, Đỗ Hữu Châu còn chỉ ra vai trò của nó trong vận động hội thoại như
sau: “Những tín hiệu phi lời tuy là thứ yếu nhưng rất quan trọng, thiếu chúng,
cuộc trò chuyện sẽ tẻ nhạt, thậm chí chấm dứt” [5, 222]. Cũng trong sách
này, tác giả đã bước đầu nhắc tới, tuy còn sơ lược, mối quan hệ của ngôn ngữ
cử chỉ với vấn đề phân tầng xã hội “Những yếu tố tĩnh như diện mạo, trang

10


phục,v.v…cung cấp những thông tin về giới tính, tuổi tác, dân tộc, thành phần
xã hội và trong chừng mực nhất định tính cách của người đối thoại” [5, 221].
Cuốn sách gần đây nhất của các tác giả Việt Nam về ngôn ngữ cử chỉ là
cuốn “Những điều cần biết về ngôn ngữ cử chỉ” của hai tác giả Vương Mộc
và Minh Đức. Cuốn sách giới thiệu đến người đọc những nghiên cứu mới
nhất về ngôn ngữ cử chỉ và cách thức thực tế để giúp ta kiểm soát cử chỉ của

quan điểm lí luận về ngôn ngữ cử chỉ thông qua việc xác định khái niệm, tầm
quan trọng và phân loại ngôn ngữ cử chỉ, khảo sát những cử chỉ phổ biến
trong giao tiếp hằng ngày của người Việt đặc biệt tập trung khai thác về ngôn
ngữ cử chỉ của bàn tay.
Tác giả Lê Thi Mai Ngân với luận án Thạc sĩ ngôn ngữ học có đề tài
“Các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong một số tiểu
thuyết và truyện ngắn Việt Nam hiện đại” (2009) cũng chỉ ra những đặc tính, ý
nghĩa của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được miêu tả trong các tác phẩm
văn học hiện đại, qua đó phát hiện dụng ý nghệ thuật của nhà văn khi gán cho
các nhân vật các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ ở các hoàn cảnh cụ thể.
Tức là, việc phân tích các phương tiện phi ngôn ngữ là một trong các nẻo
đường để tìm giá trị nghệ thuật cũng như nội dung của tác phẩm.
2.3. Khái quát về tác giả tác phẩm: Kim Lân và truyện ngắn của tác giả
2.3.1. Đôi nét về tác giả
Kim Lân (1920 - 2007), tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê làng Phù
Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Do hoàn cảnh gia đình khó
khăn ông chỉ được học hết bậc tiểu học, rồi vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh
bình phong vừa viết văn. Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội Văn hoá cứu
quốc, sau đó liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng.
Kim Lân nổi tiếng là một cây bút viết truyện ngắn sắc bén và độc đáo.
Với ngôn ngữ biến hoá, mộc mạc mà sinh động ông đã vẽ ra chân dụng các
nhân vật thật hấp dẫn: chất phác, mộc mạc thậm chí là “hồn nhiên” nhưng lại
rất “thơ”, để lại ấn tương độc đáo trong lòng người đọc. Khẳng định về tài
năng viết truyện ngắn của Kim Lân, Hà Minh Đức viết trong Nhà văn nói về
tác phẩm : “Kim Lân là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc của văn

12


học Việt Nam hiện đại. Kim Lân đã tạo được cách viết độc đáo. Phải nói



càng đa dạng về hình thức và nội dung. Tuy nhiên lĩnh vực về ngôn ngữ đặc
biệt là ngôn ngữ miêu tả cử chỉ trong các tác phẩm của ông vẫn đang còn là
mảnh đất màu mỡ bỏ ngỏ.
2.3.2. Lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ cử chỉ trong truyện ngắn Kim Lân
Đến nay, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu và Kim Lân và tác
phẩm của ông. Có thể kể tên một số công trình nghiên cứu về tác phẩm của
Kim Lân như:
+) Những giá trị tiêu biểu về tư tưởng và nghệ thuật của truyện ngắn
Kim Lân, ĐHSPHN, 1997 của Nguyễn Văn Bao.
+) Khuynh hướng phong tục trong sáng tác trước 1945 của Tô Hoài,
Bùi Hiển, Kim Lân, ĐHSPHN, 1999 của Trần Văn Hồng.
+) Những đặc sắc truyện ngắn Kim Lân, ĐHSPHN, 2002 của Nguyễn
Tiến Đức.
+) Nông thôn và hình ảnh người nông dân trong sáng tác của Kim Lân,
ĐHSPHN, 2003 của Mã Thu Hà.
+) Phong cách nghệ thuật Kim Lân, ĐHSPHN, 2004 của Nguyễn Thị Thu.
Nhưng lại chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào về “Đặc điểm
ngôn ngữ miêu tả cử chỉ trong truyện ngắn Kim Lân. Chính vì vậy, mà trong
phạm vi luận văn này, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu về đặc điểm
ngôn ngữ miêu tả cử chỉ trong truyện ngắn của ông.
Như đã nói ở phần lí do lựa chọn đề tài, thế giới truyện ngắn Kim Lân là
một thế giới đa màu sắc với sự góp mặt của nhiều nhân vật. Nhân vật trong
truyện ngắn của ông không chỉ phong phú về số lượng, mà mỗi nhân vật lại
có những nét cá tính riêng. Một trong số những điều làm nên dấu ấn cá nhân
cho nhân vật truyện ngắn Kim Lân chính là lời thoại và ngôn ngữ cử chỉ đi
kèm lời thoại mà nhân vật sử dụng. Có lẽ, chính bởi sự độc đáo trên mà ngôn
ngữ cử chỉ của nhân vật trong truyện ngắn Kim Lân đâu đó cũng đã được đề
cập đến trong các công trình nghiên cứu. Ví như trong bài nghiên cứu của

được các kết luận về một số vấn đề văn hóa, xã hội liên quan tới tầng lớp, các
nhóm xã hội Việt Nam trong thời kì những năm 1930-1945, 1945- 1975 thời
kì lịch sử đầy biến động mà Kim Lân đã phản ánh trong tác phẩm của mình.

15


Hướng nghiên cứu của chúng tôi đi theo cách nhìn của bộ môn Ngôn
ngữ học xã hội với mong muốn vừa có thể làm rõ thêm một số vấn đề liên
quan tới hiện tượng phân tầng xã hội trong ngôn ngữ, vừa là tìm ra một góc
nhìn mới lạ về ngôn ngữ cử chỉ.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ miêu tả cử chỉ trong truyện
ngắn Kim Lân theo phân tầng xã hội và đặc biệt tập trung nghiên cứu sâu
dưới góc độ giới nhằm thấy được đặc điểm ngôn ngữ cử chỉ của các nhân vật
thuộc giới, nhóm xã hội khác nhau. Qua đó, thấy được không chỉ giá trị giao
tiếp mà còn là giá trị xã hội, giá trị văn học của các yếu tố ngôn ngữ phi lời
trong truyện ngắn Kim Lân.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn giải quyết các nhiệm vụ:
- Thống kê phân loại ngôn ngữ cử chỉ trong truyện ngăn Kim Lân theo
giới nam và nữ.
- Phân tích số liệu để rút ra đặc điểm sử dụng các phương tiện ngôn ngữ
cử chỉ của các giới đó.
- So sánh đặc điểm sử dụng ngôn ngữ cử chỉ giữa hai giới nam và nữ.
- Rút ra kết luận về giá trị của ngôn ngữ cử chỉ trong việc thể hiện nội
dung tác phẩm, bút pháp truyện ngắn bậc thầy của Kim Lân và đôi nét về giá
trị văn hóa của các phương tiện ngôn ngữ đó trong việc phản ánh bộ mặt xã
hội Việt Nam những năm 1930-1945, 1945-1975.


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Một số vấn đề về ngôn ngữ cử chỉ
1.1.1. Khái niệm ngôn ngữ cử chỉ
Mar (đầu thế kỉ XX) khẳng định “ ngôn ngữ cử chỉ tồn tại cách đây 1
triệu đến 1 triệu rưỡi năm; còn ngôn ngữ âm thanh chỉ có cách đây 5 vạn đến
50 vạn năm”. Theo Mar, “ ngôn ngữ cử chỉ có thể biểu thị tư tưởng, khái niệm
hình tượng hóa, có thể dùng làm công cụ giao tiếp giữa các thành viên trong
cùng một bộ lạc và với các bộ lạc khác, có thể là công cụ phát triển khái niệm
của mình” [10,28]. Ra đời từ rất sớm và có vai trò đặc biệt quan trọng như thế,
nhưng ngôn ngữ cử chỉ lại mới được chính thức quan tâm nghiên cứu từ những
năm 50 của thế kỉ XX nhờ công của nhà nhân loại học người Mỹ Ray
Birdwhistell. Cho đến nay, cũng đã có nhiều nhà khoa học có những công trình
nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ cử chỉ. Nhưng, có một điều đáng chú ý là,
tên gọi loại ngôn ngữ này vẫn chưa hoàn toàn được thống nhất giữa các nhà
khoa học. Ngôn ngữ cử chỉ còn có thể được gọi bằng những cái tên khác như:
ngôn ngữ của cử chỉ, ngôn ngữ cơ thể, ngôn ngữ của cơ thể, ngôn ngữ phi
lời, yếu tố phi ngôn ngữ,…Có những cách gọi tên khác nhau như vậy một
phần bắt nguồn từ sự khác biệt khi dịch các thuật ngữ khoa học nước ngoài ra
tiếng Việt, nhưng một lí do quan trọng nữa chính là ở quan niệm còn có sự
khác biệt giữa các nhà nghiên cứu về phương tiện giao tiếp đặc biệt này.
Các nghiên cứu của Julius Fast, Allan Pease, James Borg, Roger E.Axtell,
Gregory Harthy và Maryann Karinch đề cập tới hai cái tên rất phổ biến “Ngôn
ngữ cơ thể” và “Ngôn ngữ cử chỉ”. Tuy cách gọi khác nhau, nhưng quan niệm
của các nhà nghiên cứu này lại khá đồng nhất, “ngôn ngữ cơ thể” và “ngôn
ngữ cử chỉ” chỉ là hai tên gọi cho cùng một đối tượng. Hầu hết các tác giả trên
đều cho rằng, ngôn ngữ cơ thể hay ngôn ngữ cử chỉ là cách con người truyền
tải thông tin qua việc sử dụng các bộ phận trên cơ thể, như cách cử động chân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status