Đặc điểm ngôn ngữ thơ nữ thái nguyên qua tác phẩm của ba nhà thơ lưu thị bạch liễu, nguyễn thúy quỳnh, trần thị vân trung - Pdf 52

frdgki87uytrw

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN HỒNG THÚY

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ NỮ THÁI NGUYÊN QUA
TÁC PHẨM CỦA BA NHÀ THƠ: LƯU THỊ BẠCH LIỄU,
NGUYỄN THÚY QUỲNH, TRẦN THỊ VÂN TRUNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Thái Nguyên - 2014


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN HỒNG THÚY

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ NỮ THÁI NGUYÊN QUA
TÁC PHẨM CỦA BA NHÀ THƠ: LƯU THỊ BẠCH LIỄU,
NGUYỄN THÚY QUỲNH, TRẦN THỊ VÂN TRUNG
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số

: 60 22 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN


MỤC LỤC
Lời cam đoan ................................................................................................................. i
Mục lục ..........................................................................................................................ii
Danh mục các bảng.......................................................................................................iii
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1
1.

Lý do chọn đề tài .................................................................................................1

2.
Lịch
sử
vấn
............................................................................................................2

đề

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .................................................................................3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu................................................................................................4
5. Phương pháp nghiên cứu ...........................................................................................4
5.1. Phương pháp thống kê phân loại. ...........................................................................4
5.2. Phương pháp miêu tả ..............................................................................................4
6. Đóng góp của luận văn ..............................................................................................5
7. Cấu trúc luận văn .......................................................................................................5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ...... 6
1.1. Thơ và sự phân biệt thơ với văn xuôi .....................................................................6
1.1.1.
.......................................................................................................................6

Thơ

Đặc
điểm
về
cách
.........................................................................55

tổ

chức

bài

thơ


2.3.1. Đặc điểm về tiêu đề ...........................................................................................55
2.3.2. Đặc điểm về câu thơ, dòng thơ ..........................................................................56
2.3.3. Đặc điểm về khổ thơ, đoạn thơ ..........................................................................57
2.3.4. Một số kiểu mở đầu và kết thúc.........................................................................59
Chương 3: TỪ NGỮ VÀ CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THƯỜNG GẶP TRONG
THƠ NỮ THÁI NGUYÊN……………………,…………………………………..63
3.1. Các lớp từ vựng – ngữ nghĩa tiêu biểu .................................................................63
3.1.1. Sử dụng từ láy mang lại hiệu quả nghệ thuật ....................................................63
3.1.2. Lớp từ chỉ hình ảnh, màu sắc.............................................................................67
3.2. Một số biện pháp tu từ thường gặp .......................................................................74
3.2.1. Điệp ngữ ............................................................................................................74
3.2.2. Biện pháp so sánh ..............................................................................................83
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………...………..94


vươn tới xu thế của thơ ca hiện đại nhưng vẫn giữ được những gì căn cốt của thơ ca
truyền thống” [42]. Người tiếp cận nhiều nhất với thơ ca đương đại là Lưu Thị Bạch
Liễu, tiếp đó là những người mang trong mình cả phong vị truyền thống và hiện đại
như: Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh, Nguyễn Minh Hằng, Ngọc Thị Kẹo,
Nguyễn Minh Thắng, Vũ Thị Tú Anh, Dương Thu Hằng…. Tất cả họ đều là những
cây bút gặt hái được nhiều thành công. Trong khuôn khổ một đề tài luận văn chúng tôi
xác định đối tượng nghiên cứu gồm ba tác giả mà theo chủ quan của chúng tôi là có
phong cách độc đáo hơn cả. Đó là ba nhà thơ: Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy
Quỳnh, Trần Thị Vân Trung. Ba nhà thơ hiện đều đang sinh sống và làm việc tại Thái
Nguyên. Các chị đều công tác trong các lĩnh vực liên quan đến văn hóa, giáo dục, gắn
bó máu thịt với mảnh đất này. Đặc biệt độ tuổi của họ không quá chênh lệch nhau để

1


được gọi là ba thế hệ nhưng lại có phong cách thơ tương đối độc lập. Nói chung, ở ba
nhà thơ nữ này, chúng tôi vừa tìm được cái chung trong nét nữ tính vừa tìm ra cá tính
của mỗi người thể hiện trong ngôn ngữ thơ.
2. Lịch sử vấn đề
Việc nghiên cứu và tiếp nhận tác giả, tác phẩm thơ nữ Thái Nguyên hiện đại từ
trước đến nay đã thu hút được sự chú ý của nhiều người. Không ít những tờ báo trong
nước, trong tỉnh như: Báo Quân đội nhân dân, báo Người Hà Nội, báo Sài Gòn giải
phóng, báo Thái Nguyên… đã có những bài báo nghiên cứu xoay quanh những thành
công của các nhà thơ nữ Thái Nguyên. Năm 2009, tại Thái Nguyên đã tổ chức Hội
thảo thơ nữ Thái Nguyên đương đại tổ chức vào ngày 20/10/2009. Tham gia hội thảo
đã có nhiều bài viết, bài phê bình của các tác giả: Vũ Đình Toàn, Nguyễn Kiến Thọ,
Phạm Văn Vũ, Ma Trường Nguyên…đi vào giới thiệu 1 số tập thơ, bài thơ đánh giá
trên phương diện nội dung tư tưởng. Tại đây, có không ít nhận xét giàu tình cảm như:
“Tôi xin phép được nhận định từng nét “duyên” riêng của từng nhà thơ nữ Thái
Nguyên…tôi chân thành cảm ơn các nhà thơ nữ Thái Nguyên. Đọc thơ của các chị tôi

ba nhà thơ: Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh, Trần Thị Vân Trung”, chúng tôi
hi vọng sẽ có những đóng góp mới, bù đắp vào khoảng thiếu hụt đó. Trong khuôn khổ
của một luận văn, chúng tôi sẽ cố gắng tìm hiểu và trình bày để làm rõ được nét riêng
về phong cách ngôn ngữ của các tác giả nữ Thái Nguyên và bản sắc văn hóa Thái
Nguyên thể hiện trong thơ của họ.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Ngôn ngữ thơ của ba nhà thơ nữ Thái
Nguyên: Lưu Thị Bạch Liễu (Bạch Liễu), Nguyễn Thúy Quỳnh (Thúy Quỳnh), Trần
Thị Vân Trung (Vân Trung).
3.2. Phạm vi
Phạm vi nghiên cứu của luận văn gồm 342 bài thơ của 3 tác giả trong các tập
thơ.
102 bài của nhà thơ Lưu Thị Bạch Liễu trong 3 tập thơ:
-

Gọi (2004)

-

Cõi tôi (2007)

-

Sông Cầu đang chảy đâu đây (2009)
114 bài của nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh trong 3 tập thơ:

3



ngôn ngữ thơ.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thống kê phân loại.
Đây là phương pháp được sử dụng để thu thập và phân loại những câu thơ, bài
thơ chứa đựng hiện tượng ngôn ngữ cần nghiên cứu.
5.2. Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được sử dụng để miêu tả các kiểu cấu trúc tiêu biểu của thơ
nữ Thái Nguyên.
5.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp này được dùng để phân tích các hiện tượng sử dụng ngôn từ, tín
hiệu thẩm mỹ, cấu trúc ngôn ngữ, nhằm rút ra những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ
thơ nữ Thái Nguyên.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng thủ pháp đối chiếu để làm rõ những đặc điểm
chung và riêng trong cách sử dụng ngôn ngữ của các tác giả thơ nữ Thái Nguyên.


6. Đóng góp của luận văn
Có thể xem đây là đề tài đầu tiên đi vào tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ thơ của
các nhà thơ nữ Thái Nguyên ở hai bình diện hình thức và nội dung ý nghĩa, từ đó chỉ
ra những đóng góp riêng đặc sắc của các tác giả thơ nữ Thái Nguyên từ góc độ ngôn
ngữ học.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài. Giới thiệu về ba nhà thơ nữ
Thái Nguyên.
Chương 2: Đặc điểm về thể thơ, vần, nhịp và cách tổ chức bài thơ trong thơ nữ Thái
Nguyên
Chương 3: Từ ngữ và các biện pháp tu từ thường gặp trong thơ nữ Thái Nguyên.




xảo trá, hoang tưởng, hiu hắt thì phần nhiều sa vào buồn bã. Chỉ có thuần hậu, giản
dị, thẳng thắn, không giả dối, không xảo trá, không buồn bã mà chú trọng đến sự
ngăn chặn điều xấu, bảo tồn điều hay mới là đặc sắc chính của thơ” [20, tr.162]. Đến
thế kỉ XX, cùng với sự hình thành của “một thời đại trong thi ca” là sự nở rộ của các
quan điểm trên nhiều phương diện. Ngay các nhà thơ Mới, bằng sự trải nghiệm, tâm
huyết, sáng tạo của chính mình đã đưa ra các định nghĩa về thơ. Từ cuối thế kỉ XX trở
lại đây, người say mê thơ vẫn đi tìm khái niệm thơ. Nhà thơ Trần Dần cho rằng: “Thơ
ca không nên là những tụng ca thời thượng mà chỉ đi sâu vào tâm trạng con người.
Thơ cần phải liên tụ đổi mới để đuổi kịp sự phát triển của đời sống” [13, tr.50]
Từ phương diện ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu cũng đã có những đóng góp
đáng kể trên hành trình tìm đến bản chất của thơ. Jakobson định nghĩa: “Thơ là ngôn
ngữ trong chức năng thẩm mỹ của nó”[23, tr.95]. Có thể thấy, nhận định của nhà
ngôn ngữ học cô đọng và rất sâu sắc. Điều này được Nguyễn Hữu Đạt lý giải cụ thể
hơn: “Thơ là một thể loại của văn học được trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc
tích nhất với các tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và các quy luật phối âm riêng của
từng ngôn ngữ nhằm phản ánh cuộc sống tập trung và khái quát nhất dưới dạng các
hình tượng nghệ thuật”[11, tr.54]
Như vậy, chúng ta có thể tiếp cận và nhận diện khái niệm thơ từ nhiều góc độ, để
có định nghĩa đầy đủ nhất về thơ đồng thời chú ý cả hai phương diện nội dung và hình
thức không nên cực đoan với yếu tố nào. Vì thế, trong luận văn này để xác định nền
tảng cho việc nghiên cứu chúng tôi chọn cách định nghĩa của Từ điển thuật ngữ văn
học:“Hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng
những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm xúc, giàu hình ảnh và nhất là có nhạc
điệu” [ 19, tr.262].
1.1.2. Phân biệt thơ với văn xuôi
Thơ và văn xuôi có thể phân biệt với nhau qua nhiều tiêu chí:
1.1.2.1. Cách tư duy trên chất liệu ngôn ngữ
Lời nói mang tính thông báo. Lời văn lời thơ cũng là một dạng đặc biệt của lời
nói, nhưng để xây dựng nên các thông báo, cách thức tư duy thao tác của tác giả thơ

Có thể nói, trong thơ các biện pháp điệp âm, điệp vần, điệp thanh, điệp từ ngữ,
điệp cấu trúc cú pháp....tạo nên hiệu quả nghệ thuật rất cao, vừa là đặc trưng vừa là
sức mạnh của ngôn ngữ thơ. Sự tương đương giữa các đơn vị ngôn ngữ làm nên các
chiết đoạn bao giờ cũng hàm chứa trong đó sự tương đương về mặt ý nghĩa. Cơ cấu
lặp lại, kiến trúc song song đã làm cho thông báo thành ra đa nghĩa, có tính chất nước


đôi, thành ra nhập nhằng theo nghĩa tốt của từ này. Đó chính là tính hàm xúc ý ở
ngoài lời của thơ.
1.1.2.2. Hình thức tổ chức văn bản
Ngôn ngữ văn xuôi liền mạch, ngôn ngữ thơ lại chia cắt thành những đơn vị
tương ứng nhau. Tổ chức thơ theo quy luật tuần hoàn âm thanh. Câu thơ có kích
thước nội tại còn câu trong văn xuôi không có kích thước bó buộc nào.
Về cơ bản, ngữ pháp của thơ khác với ngữ pháp điển phạm của văn xuôi. Cấu
trúc ngữ pháp của thơ nhiều khi bất quy tắc (cấu tạo từ, cụm từ, câu, văn bản). Mỗi
dòng thơ không hoàn toàn trùng khít với một câu thơ. Trên phương diện dụng học,
mỗi câu thơ thường không trùng khít với một hành động ngôn trung (mục đích nói)
mà ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ mang nhiều màu sắc, âm thanh, ý nghĩa. Trong đó, nhà
thơ luôn luôn là chủ thể thực hiện các hành động ngôn trung làm nên tính chất chủ
quan, trực tiếp của lời nói (lời thơ) trong giao tiếp với độc giả. Từng chữ trong thơ
đều được nhà thơ lựa chọn và nhiều khi cung cấp cho nó ý nghĩa lâm thời theo cảm
quan của mình.
Ngôn ngữ thơ còn là một cấu trúc đầy nhạc tính, có sức ngân vang. Đó là cách tổ
chức vần, nhịp, cách hoà phối âm thanh... tạo nên những tấm ảnh nghệ thuật trong
lòng độc giả. (Trong khi ngôn ngữ văn xuôi gần gũi hơn với

lời nói hàng ngày và thiên về cách

thức xây dựng cốt truyện, tình tiết, nhân vật,...)


và kết cấu “lạ” do việc loại bỏ các yếu tố ngôn ngữ có hàm lượng thông tin thấp mà
ra.
Về cách tổ chức của ngôn ngữ thơ, Hữu Đạt đã diễn đạt một cách cụ thể là
“được trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất với cách tổ chức ngôn ngữ
có vần điệu và các quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ” [11, tr. 25].
Từ những cách hiểu trên về ngôn ngữ thơ ca, ta có thể đi đến kết luận: Trong
một phạm vi hẹp của thể loại, ngôn ngữ thơ được hiểu là một chùm đặc trưng ngữ âm,
từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trưng hóa, khái quát hóa hiện thực khách quan theo tổ
chức riêng của thơ ca.
1.2.2. Đặc trưng ngôn ngữ thơ
Khi phân biệt thơ với các thể loại khác người ta thường đi theo cách lưỡng
phân, đối lập thơ và văn xuôi ở nhiều góc độ khác nhau. Ở góc độ ngôn ngữ ta có thể


đối lập thơ với văn xuôi trên ba cấp độ: ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp để thấy rõ đặc
trưng của ngôn ngữ thơ ca.
1.2.2.1. Về ngữ âm
Đặc điểm nổi bật về ngữ âm để phân biệt thơ với văn xuôi là đặc trưng tính
nhạc. Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm. Thế giới nội tâm
của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn bằng cả âm thanh,
nhịp điệu. Vì vậy, nhiều người nhất trí xem tính nhạc là đặc thù cơ bản của ngôn ngữ
thơ ca. Đây là điều mà trong văn xuôi ít được nhắc đến. Đặc điểm về tính nhạc có tính
phổ biến trong mọi ngôn ngữ. Tuy nhiên, trong mỗi ngôn ngữ có cách thể hiện riêng
tùy theo cơ cấu cách cấu tạo và tổ chức khác nhau về ngữ âm. Tiếng Việt giàu có về
nguyên âm, phụ âm, thanh điệu là cơ sở cho ngôn ngữ thơ ca Việt Nam có dáng vẻ độc
đáo về tính nhạc. Khi khai thác về tính nhạc trong thơ, chúng ta cần chú ý những đối
lập sau.
- Sự đối lập trầm - bổng, khép - mở của các nguyên âm.
- Sự đối lập về vang - tắc giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vô thanh
trong các phụ âm cuối.

đồng nhất về đặc trưng ngữ âm vô thanh (p, t, c).
Âm chính “là hạt nhân, là yếu tố quyết định âm sắc chủ yếu của âm tiết cho
nên âm chính cũng có vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập vần thơ” [46, tr.105].
Để góp phần vào sự hòa âm này, âm chính có một quy luật phân bố chặt chẽ trong các
vần thơ: các nguyên âm là âm chính của hai âm tiết hiệp vần phải hoặc đồng nhất
hoàn toàn, hoặc đồng nhất về một đặc trưng nào đó (đặc trưng âm sắc trầm hoặc
bổng), đặc trưng về âm lượng (nhỏ, lớn). Ngoài ra, có những trường hợp âm chính
không cùng dòng, cùng độ mở cũng hiệp vần với nhau. Các âm tiết này hiệp vần nhờ
là âm cuối giống nhau.
Phụ âm đầu và âm đệm đều có chức năng tạo nên sự khác biệt cho vần thơ để
tránh lặp vần. Thực tế, khi các âm tiết hiệp vần với nhau đã có sự hòa âm, đắp đổi của
âm chính, âm cuối và thanh điệu thì sự xuất hiện của bất kì âm đầu nào trong âm tiết
cũng không ảnh hưởng đến sự hòa âm. Từ đó, ta thấy rõ một điều: “âm đầu có tham
gia cùng với các thành phần khác để tạo nên sự hòa âm nhưng vai trò của nó không
đáng kể” [46, tr.112]. Còn âm đệm mức độ hòa âm rất thấp, có những khuôn vần mà
sự có mặt của âm đệm không ảnh hưởng đến sự phân loại của các vần thơ.


Như vậy, tất cả các yếu tố cấu tạo nên âm tiết tiếng Việt đều tham gia vào việc
tạo nên sự khác biệt của vần thơ Việt Nam để tránh lặp vần. Trong đó thanh điệu, âm
cuối, âm chính là những yếu tố chính quyết định âm hưởng chung của toàn âm tiết và
do đó quyết định đến sự hòa âm của các âm tiết hiệp vần.
Nhịp
Tiết tấu trong thơ ca là sự sáng tạo ra những khoảng cách tương tự về mặt thời
gian. Tiết tấu trong thơ chính là nhịp thơ. “Nhịp thơ là cái được nhận thức thông qua
toàn bộ sự lặp lại có tính chất chu kỳ, cách quãng hoặc luân phiên theo thời gian của
những chỗ ngừng, chỗ ngắt và của những đơn vị văn bản như câu thơ (dòng thơ), khổ
thơ thậm chí cả đoạn thơ” [47, tr.64]. Như vậy, yếu tố quan trọng nhất tạo nên nhịp
điệu chính là ở chỗ ngừng, chỗ ngắt theo một cách thức nhất định khi phát âm.
Trong thơ có hai kiểu nhịp: Ngừng nhịp ở cuối dòng và ngừng nhịp ở trong

quả hòa âm của vần, một chiều khác, chính vần cũng có tác động trở lại nhịp. “Sự tác
động này được biểu hiện khi có sự hỗ trợ của vần thì chỗ ngừng chỗ ngắt trở lên rõ
ràng hơn, lâu và đậm hơn, vần có khả năng nhấn mạnh sự ngừng nhịp” [46, tr.36],
đặc biệt hơn trong thơ tự do thì “vần trở thành một tiêu chí rất quan trọng giúp người
ta ngừng nhịp đúng chỗ” [46, tr.42].
Tóm lại, đặc trưng rất nổi bật của ngôn ngữ thơ ca là sự tổ chức âm thanh một
cách hài hòa, có quy luật của chúng. Vần và nhịp là hai yếu tố làm nên đặc trưng đó
đồng thời nó có vai trò quan trọng trong việc tạo nên tính nhạc cho thơ, để thơ ca có
khả năng biểu đạt tinh tế những rung cảm, cảm xúc của tâm hồn mà bản thân nghĩa
của từ không thể diễn đạt hết được. Hơn nữa, “nhạc tính của một thi phẩm càng giàu,
tức những tham số thanh lọc của ngôn ngữ càng có độ tin cậy cao, thì hiệu quả lưu
giữ truyền đạt của thi phẩm càng lớn, sức sinh tồn của nó càng mạnh” [5, tr.152].
1.2.2.2. Về ngữ nghĩa
Ngôn ngữ thơ ca trước hết là một thứ ngôn ngữ được trau chuốt, tinh luyện từ
ngôn ngữ “nguyên liệu” - lời nói hàng ngày. Do vậy, ngữ nghĩa trong thơ ca không
hoàn toàn đồng nhất với ngữ nghĩa của ngôn ngữ trong giao tiếp thông thường và nó
còn khác với cả ngữ nghĩa trong văn xuôi. Mỗi từ khi đưa vào thơ đều trải qua sự lựa
chọn của tác giả. Những từ ấy hoạt động rất đa dạng, linh hoạt, biến hóa để đạt được
tham vọng với diện tích ngôn ngữ nhỏ nhất có thể chiếm lĩnh cả thế giới. Trong văn


xuôi không hạn chế về số lượng ngôn từ, câu chữ, còn trong thơ, tùy thuộc vào từng
thể loại mà có những cấu trúc nhất định. Dưới áp lực của cấu trúc, ngữ nghĩa của ngôn
từ trong thơ nhiều khi không dừng lại ở nghĩa đen, nghĩa gốc mà còn mang những ý
nghĩa mới tinh tế, đa dạng hơn nhiều. Nó vừa phải đảm bảo tính chính xác, tính hình
tượng vừa có tính truyền cảm để phát huy được hiệu quả nghệ thuật cao nhất. Như tác
giả Mã Giang Lân đã nhận xét: “Một trong những nét độc đáo của hoạt động sáng
tạo thơ ca là việc bố trí chữ, tạo nghĩa mới cho chữ. Cùng một chữ ấy nằm trên một
trục hình tuyến ngôn ngữ nhưng lại biểu hiện nhiều chiều của nghĩa. Ở đây không
chứa đựng với tư cách là từ đồng nghĩa mà là từ đa nghĩa. Chính từ đa nghĩa tạo

trong văn xuôi và trong ngữ pháp thông dụng. Người nghệ sĩ với những ý đồ nghệ
thuật riêng của mình, có thể sáng tạo và sử dụng các kiểu câu có cấu trúc “bất quy
tắc”. Đó là những câu “chệch” ra khỏi quỹ đạo của trật tự tuyến tính thông thường mà
các đơn vị ngôn ngữ luôn phải tuân thủ, bao gồm câu đảo ngữ, câu tỉnh lược, câu tách
biệt, câu trùng điệp, câu vắt dòng, câu có sự kết hợp bất thường về nghĩa. Ngoài ra
còn có cách liên kết từ mang tính “lạ hóa” tạo nên những tác động mạnh mẽ và những
gợi mở phong phú trong lời thơ. Việc sử dụng phổ biến các kết cấu này không làm
ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận ngữ nghĩa của văn bản thơ. Ngược lại, chính điều
đó tạo ra, đem lại những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca, đem hết khả
năng vô tận của ngôn ngữ thơ trong việc chở tải những trạng thái tinh tế, bí ẩn của thế
giới và tâm hồn con người, làm nên sức ám ảnh của thơ.
Có thể nói, ngữ pháp thơ ca là loại ngữ pháp đặc biệt độc đáo, đầy ma lực đối
với con người. Khám phá ngữ pháp thơ ca là con đường ngắn nhất để chúng ta tìm ra
được phong cách riêng của mỗi nhà thơ, tìm ra được những dấu ấn sáng tạo mang tính
cá nhân của người nghệ sĩ.
Tóm lại, ta có thể dẫn ra đây ý kiến của Mã Giang Lân: “Thơ trước hết là ngôn
ngữ với màu sắc âm thanh, nhịp điệu, với những cấu trúc đặc biệt. Mỗi chữ đứng
riêng có ý nghĩa riêng, nhưng trong trường hợp khác, trong những cấu trúc khác sẽ
có những ý nghĩa khác. Mỗi chữ mỗi từ không chỉ là xác mà là hồn, là độ sâu ngữ
nghĩa, độ sâu của ngân vang, của cảm quan nghệ thuật” [27, tr.149]. Đúng vậy, qua
ba đặc trưng về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ta thấy ngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ
nghệ thuật đặc thù, nó là sản phẩm thể hiện tài năng, sự sáng tạo mang phong cách
riêng của từng nhà thơ.


1.3. Giới thiệu về văn học Thái Nguyên và các tác giả nữ
1.3.1. Giới thiệu về văn học Thái Nguyên
Thái Nguyên là mảnh đất có giá trị văn hóa từ lâu đời, đó là mầm sống cho tiến
trình phát triển văn học. Văn học dân gian Thái Nguyên vừa chứa đựng nguồn sống
chảy trong nguồn mạch văn hóa cộng đồng, vừa không ngừng tích tụ những nét bản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status