Quán ngữ trong chức năng rào đón, đưa đẩy và khảo sát, phân tích quán ngữ rào đón, đưa đẩy trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan - Pdf 28

Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Từ vựng không phải là một tập hợp đơn giản, hỗn độn. Nó là một tổ
chức lớn, rất phức tạp nhưng có quy tắc, trong đó từ là đơn vị cơ bản. Từ
chứa đựng rất nhiều loại thông tin, những thông tin về tổ chức, về lịch sử,
về hoạt động của ngôn ngữ. Tuy nhiên, sự phát triển của đời sống tư tưởng
con người đã dẫn tới sự xuất hiện các từ mới và các đơn vị từ vựng tương
đương với từ mà chúng ta gọi là ngữ. Theo Nguyễn Thiện Giáp “Một trong
những thành tựu quan trọng nhất trong sự tiến hoá của loài người là sự mở
rộng bất thường của thế giới khái niệm. Sự phát triển này có quan hệ chằng
chéo phức tạp với sự tăng trưởng vũ bão về số lượng và sự đa dạng của tư
tưởng mà con người có thể truyền đạt được. Bằng ngôn ngữ con người
thông báo không chỉ cảm xúc, tri thức mà cả một số lượng vô hạn các trạng
thái, quan hệ, đối tượng và sự kiện bên trong cũng như bên ngoài con
người. Hệ thống các từ trong tiếng Việt không đủ để biểu thị một số luợng
lớn như thế các khái niệm, hiện tượng khác nhau. Nhu cầu tất yếu là phải
cấu tạo thêm những đơn vị từ vựng trên cơ sở những từ đã có. Những đơn vị
như thế được gọi là ngữ, có giá trị tương đương như từ’’ (3a, tr.70)
Ngữ (cụm từ ) là tổ hợp các từ nằm trong giới hạn một câu. Có cụm
từ tự do và có cụm từ cố định. Cụm từ tự do được tạo ra một cách thức
thời trong quá trình giao tiếp. Nó không có sẵn từ trước, đồng thời nó
cũng tan rã đi sau khi hành động giao tiếp kết thúc. Quan hệ giữa các từ
trong cụm từ tự do lỏng lẻo. Còn cụm từ cố định cũng được tạo nên bởi
các từ nhưng đã cố định hoá. Những cụm từ cố định được hình thành
trong lịch sử. Mỗi lần giao tiếp, chúng lại được tái hiện và được giữ nguyên
cả khối hình thức âm thanh cũng như ý nghĩa giống như các âm vị, hình vị,
các từ và được lĩnh hội như một đơn vị có sẵn từ trước với tính chỉnh thể về
hình thức, âm thanh và ý nghĩa. Quán ngữ được nhiều nhà nghiên cứu coi
là một loại cụm từ cố định bởi tính chất lặp lại của nó. Tuy nhiên xét về
1
hình thức và về ý nghĩa, quán ngữ lại chẳng khác gì các cụm từ tự do nên

với nhau và được quen dùng’’ (9,tr. 143)
Theo tác giả Nguyễn Văn Tu thì quán ngữ là bộ phận gần gũi với
cụm từ tự do nhưng bởi có tính ổn định tương đối nên có thể xếp chúng vào
loại từ tổ cố định. Tác giả cho rằng cụm từ “bạn nối khố’’ là một quán ngữ
chỉ người bạn rất thân. Những từ “nối’’ “khố” kết hợp với ‘’bạn’’ được
dùng qua nhiều thế hệ. Quan hệ giữa chúng khá chặt chẽ cho nên cả từ tổ
trở thành như một đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ. Nghĩa của từ
‘’nối’’’’khố’’ đã mất tính chất độc lập. Các danh từ như “cười nụ’’ “bạn cố
tri’’ “anh hùng rơm’’ “kỉ luật sắt’’ cũng được tác giả coi là quán ngữ. Đồng
thời các ngữ cố định như: lành như bụt, dốt đặc cán mai, giấu đầu hở đuôi,
được voi đòi tiên” cũng được coi là quán ngữ.
Sau này tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Từ vựng học tiếng
Việt ” (NXBGD - 1985) cũng coi quán ngữ là một bộ phận trung gian giữa
cụm từ tự do, và các kiểu cụm từ cố định. Theo ông về hình thức cũng như
về ý nghĩa, quán ngữ chẳng khác gì các cụm từ tự do. Nội dung của chúng
đã trở thành điều thường xuyên phải cần đến trong suy nghĩ và diễn đạt.
Chúng được dùng lặp đi lặp lại như một đơn vị có sẵn. Phạm vi bao quát
của quán ngữ theo quan niệm của tác giả Nguyễn Thiện Giáp hẹp hơn quan
niệm của tác giả Nguyễn Văn Tu '' Quán ngữ theo chúng tôi quan niệm là
những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại văn bản để liên kết,
đưa đẩy, rào đón hoặc nhấn mạnh nội dung cần diễn đạt nào đó. Mỗi phong
cách thường có những quán ngữ riêng, chẳng hạn các quán ngữ : Của đáng
tội, nói khí vô phép, nói bỏ ngoài tai, thường được dùng trong phong cách
hội thoại, các quán ngữ: như đã nói, thiết nghĩ, có thể nghĩ rằng, nói cách
khác, trước hết, một mặt thì, mặt khác thì, nghĩa là, đáng chú ý, thường
được dùng trong phong cách sách vở'' (3a, tr. 109) Quan niệm của tác giả
Nguyễn Thiện Giáp đã giúp chúng ta phân định rạch ròi hơn ranh giới giữa
thành ngữ và quán ngữ.
3
Trong từ điển Giáo khoa tiếng Việt tiểu học, các tác giả đã đưa ra

chất, trạng thái như chuột sa chĩnh gạo, chuột sa lọ mỡ hay các ngữ có tác
dụng thể hiện các sắc thái khác nhau của một vật, một hoạt động., một tính
chất một trạng thái như: mắt lươn, mắt phượng, dai như đỉa, chạy long tóc
gáy vào một loại gọi là ngữ danh hay thành ngữ. Còn các quán ngữ chỉ bao
gồm các ngữ đảm nhiệm chức năng ngoài nòng cốt câu như chức năng
chuyển tiếp, chêm, xen kẽ.
Nhìn chung quan niệm về quán ngữ của các tác giả từ trước đến nay
đã khá đầy đủ, cụ thể. Tiếp thu những ý kiến của tác giả đi trước về vấn đề
này chúng tôi tiến tới tìm hiểu chức năng của quán ngữ, cụ thể là chức năng
đưa đẩy và rào đón. Đồng thời chúng tôi tiến hành khảo sát, phân tích vai
trò của quán ngữ thực hiện chức năng đưa đẩy và rào đón trong truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan.
3. Giới hạn đề tài
Về đối tượng nghiên cứu: Luận văn đi vào tìm hiểu quán ngữ trong
chức năng đưa đẩy, rào đón nhằm giúp người đọc hình dung được một cách
cụ thể về quán ngữ đồng thời sử dụng quán ngữ linh hoạt hơn.
Về phạm vi nghiên cứu: Luận văn chủ yếu dừng lại khảo sát và phân tích
quán ngữ đưa đẩy, rào đón được dùng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Thống kê
Để có cơ sở làm việc, luận văn bắt buộc phải sử dụng phương pháp
thống kê tập hợp các quán ngữ có trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan.
Các dữ liệu thu thập được là cơ sở để tiến hành phân tích, tổng hợp.
4.2. Phân loại
Từ những dữ liệu đã thu được bằng phương pháp thống kê, chúng tôi
tiến hành thao tác tiếp theo là phân loại. Việc phân loại quán ngữ ra thành
từng nhóm dựa trên tác dụng của chúng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc
phân tích.
5
4.3. Phân tích

điển tiếng Việt” của tác giả Hoàng Phê làm cơ sở nghiên cứu bởi tính chất
phổ biến của nó.
Định nghĩa quán ngữ trong 'Từ điển tiếng Việt
Quán ngữ là '' Tổ hợp từ cố định dùng lâu thành quen, nghĩa có thể
suy ra từ nghĩa các yếu tố hợp thành. ''Lên lớp'' “lên mặt'' '' lên tiếng” đều là
những quán ngữ trong tiếng Việt (7b, tr.801).
I.2. Phân biệt quán ngữ với thành ngữ
Quán ngữ và thành ngữ đều là những cụm từ đã được cố định hoá
giữa hai loại đơn vị này vẫn có điểm khác biệt. Theo quan điểm của một số
nhà nghiên cứu thì việc phân chia rạch ròi ranh giới của hai loại cụm từ này
rất phức tạp. Chúng tôi tạm đặt ra một số tiêu chí phân biệt quán ngữ với
thành ngữ để làm cơ sở nghiên cứu
I.2.1 Về tính thành ngữ
Tính thành ngữ được tác giả Đỗ Hữu Châu định nghĩa như sau:
" Cho một tổ hợp có nghĩa S so các đơn vị A, B, C… mang ý nghĩa lần
lượt s [1], s [2], s [3]… tạo nên nếu như nghĩa S không thể giải thích bằng
các ý nghĩa s [1]", s [2]", s [3] thì tổ hợp A, B, C có tính thành ngữ”(2b,
tr.72).
Lẽ đương nhiên các thành ngữ sẽ mang tính thành ngữ cao hay thấp,
còn quán ngữ thì không có tính chất này. Nghĩa của cả tổ hợp giống tổng
hợp số nghĩa của các yếu tố cấu thành.
7
Ví dụ: Cụm từ "đi guốc trong bụng: là một thành ngữ vì nghiã của
các đơn vị trong cụm từ không thể giải thích cho ý nghĩa cả cụm là "hiểu
rất rõ suy nghĩ của người khác".
Cụm từ "Đáng chú ý là" là một quán ngữ vì nghĩa của cả cụm chính
là tổng số nghĩa của các từ đáng, chú ý, là.
I.2.2. Về kết cấu
Thành ngữ thường có bộ phận trung tâm và những thành phần phụ
bổ sung ý nghĩa của thành phần trung tâm những sắc thái phụ. ý nghĩa của

các quán ngữ" Một mặt là…, mặt khác là…, nói cách khác…, chắc chắn
là…, dễ thường… xin bỏ ngoài tai…
Trên đây chỉ là một số đặc điểm cơ bản giúp phân biệt quán ngữ với
thành ngữ. Để phân biệt rạch ròi hai loại ngữ cố định này không thể chỉ
bằng vài nét sơ lược; nhưng khuôn khổ luận văn có hạn không cho phép
chúng tôi đi sâu tìm hiểu.
I.3. Chức năng của quán ngữ
Quán ngữ không giữ vai trò làm thành phần nòng cốt câu mà chỉ có
chức năng liên kết, chuyển ý, nhấn mạnh, đưa đẩy, rào đón. Luận văn chỉ đi
sâu nghiên cứu quán ngữ đưa đẩy và rào đón trong truyện ngắn của Nguyễn
Công Hoan nên chúng tôi chỉ trình bày những vấn đề lí luận có liên quan
đến hai loại quán ngữ này. Khái niệm “ đưa đẩy” và khái niệm “rào đón”
không hoàn toàn tách biệt nhau. Phạm vi ý nghĩa của từ “rào đón” thuộc
phạm vi ý nghĩa của từ “ đưa đẩy” . Nhưng chúng tôi vẫn tách các quán
ngữ thành hai loại: quán ngữ thực hiện chức năng đưa đẩy và quán ngữ
thực hiện chức năng rào đón. Vì thế cho nên chúng tôi phải trình bày tách
biệt cơ sở lý thuyết của từng loại.
I.3.1. Chức năng đưa đẩy của quán ngữ
Trong giao tiếp, khi phát ngôn một câu nào đó, cụ thể qua cách phát
ngôn và cấu trúc câu, người nói đã thực hiện một hành động ngôn ngữ nhất
định và người nghe cảm nhận được điều này. Hành động ngôn ngữ là
9
những nhóm nhỏ nằm trong hoạt động ngôn ngữ, nó mang tính chất xã hội,
được xã hội quy ước, thừa nhận và sử dụng.
Ba phạm trù của hành động ngôn ngữ là:
- Hành động tạo lời
- Hành động mượn lời
- Hành động ở lời
Hành động tạo lời là hành động vận động các cơ quan phát âm (hoặc
cử động tay chân tạo ra các nét chữ) vận dụng các từ và kết hợp các từ theo

Điều kiện này chỉ ra nội dung của hành động ở lời
b. Điều kiện chuẩn bị.
Đây là điều kiện liên quan đến những hiểu biết của người thực hiện
hành động về những tri thức nền của người tiếp nhận hành động, về quyền
lợi, trách nhiệm, về năng lực tinh thần và vật chất của người tiếp nhận
hành động. Cũng thuộc điều kiện chuẩn bị là lợi ích, trách nhiệm, năng lực
vật chất, tinh thần cũng như quyền lực của người nói đối với hành động ở
lời mà mình đưa ra.
c. Điều kiện tâm lý.
Đây là điều kiện chỉ ra trạng thái tâm lí của người thực hiện hành
động ở lời thích hợp với hành động ở lời mà mình đưa ra. Điều kiện tâm lí
còn có nghĩa là người nói thực sự, chân thành mong đợi hiệu quả ở lời của
hành động ở lời mà mình thực hiện.
d. Điều kiện căn bản.
Theo điều kiện này thì người thực hiện một hành động ở lời nào đó
khi phát ngôn ra biểu thức ngữ vi tương ứng bị ràng buộc ngay vào kiểu
trách nhiệm mà hành động ở lời tạo ra.
Trong tiếng Việt có những động từ chuyên dùng trong chức năng
ngữ vi như đa tạ, cảm tạ… có những động từ vừa dùng trong chức năng
ngữ vi vừa dùng trong chức năng miêu tả thông thường. Phần lớn các động
từ nói năng chỉ các hành động ở lời thuộc loại này như: hứa, hỏi, mời,
11
khuyên, cấm, đảm bảo, phê bình…Có bao nhiêu động từ ngữ vi thì có bấy
nhiêu hành động ngôn ngữ nhưng không phải hành động ngôn ngữ nào
cũng dễ dàng xác định được động từ ngữ vi tương ứng. Hành động ngôn
ngữ đưa đẩy là một ví dụ.
Trong quá trình giao tiếp, người nói và người nghe phải tiếp xúc với
nhau và để duy trì sự tiếp xúc này, thông điệp có chức năng đưa đẩy. Tín
hiệu đưa đẩy có nhiệm vụ duy trì hoạt động giao tiếp, làm cho hoạt động
giao tiếp tiến hành được bình thường. Khi thực hiện hành động đưa đẩy,

I.3.2. Chức năng rào đón của quán ngữ
Rào đón là một yếu tố ngôn ngữ thường gặp trong giao tiếp. Trong
Từ điển tiếng Việt tác giả Hoàng Phê giải thích: Rào đón là “nói có tính
chất để ngừa trước những sự hiểu lầm hay phản ứng về điều mình sắp nói”
(7b, tr.821). “Sự hiểu lầm” ở đây bao hàm rất nhiều vấn đề: hiểu lầm về nội
dung mệnh đề của phát ngôn, hiểu lầm về thái độ, mối quan hệ của các cá
nhân trong cuộc hội thoại.
Hội thoại vốn diễn tiến theo những nguyên tắc nhất định. Theo
George Yule thì lời rào đón là “ những kiểu diễn đạt mà người nói dùng để
ghi nhận rằng họ có nguy cơ là không gắn bó đầy đủ với những nguyên tắc
này” (11, tr79) Những nguyên tắc này tuy không bắt buộc, chặt chẽ như
những quy tắc ngữ pháp nhưng bất cứ người nào muốn trò chuyện bằng lời
một cách thành thực cũng phải tôn trọng nó.
Rào đón là một hiện tượng phức tạp mang đậm thuộc tính tâm lý tinh
thần, bản sắc văn hoá . Nó sinh động, linh hoạt khó diễn đạt rành rẽ. Trong
những trường hợp nhất định yếu tố rào đón được diễn đạt bằng những từ
ngữ có tính chất chuyên dụng trong phát ngôn. Các từ ngữ đó gọi là các
biểu thức rào đón. Quán ngữ trong chức năng rào đón chiếm một vị trí lớn
trong số các biểu thức rào đón .
Xuất phát từ nguyên tắc cộng tác hội thoại do Grice nêu ra năm
1967, người nói có những quán ngữ rào đón tương ứng. Nguyên tắc này
13
được phát biểu một cách tổng quát : Hãy làm cho phần đóng góp của anh
chị (vào cuộc hội thoại) đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn (của cuộc hội
thoại) mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội
thoại mà anh chị đã chấp nhận tham gia vào (2c, tr.229).
Nguyên tắc này gồm 4 phạm trù: phạm trù lượng, phạm trù chất,
phạm trù quan hệ , phạm trù cách thức. Mỗi phạm trù ứng với một nguyên
tắc mà Grice gọi là phương châm: phương châm về lượng, phương châm về
chất, phương châm quan hệ, phương châm cách thức.

sự chiến lược là phép lịch sự gồm những cách thức (chiến lược) tác động
vào hiệu quả đe doạ hoặc tôn vinh thể diện của các hành động ở lời để duy
trì sự hài hoà trong quan hệ liên cá nhân giữa những người hội thoại. Thể
diện là “cái hình - ảnh - ta trước công chúng (the public self - image) của
một con người” (11, tr118). Trong những tương tác xã hội hàng ngày, mọi
người luôn mong muốn hình - ảnh - ta trước công chúng hay nhu cầu thể
diện của họ được tôn trọng. Khi người nói nói điều gì đó tỏ ra có sự đe doạ
những mong muốn về hình - ảnh - ta của người khác thì hành động đó được
coi là hành động đe doạ thể diện. Còn trong trường hợp có khả năng gây
nên một hành động nào đó có thể hiểu là một sự đe doạ đối với thể diện
của người khác, người nói vẫn nói điều gì đó để giảm nhẹ sự đe doạ có thể
xảy ra đó thì hành động này được coi là hành động giữ thể diện
Có hai chiến lược lịch sự: lịch sự âm tính và lịch sự dương tính.
Lịch sự âm tính hướng vào thể diện âm tính của người tiếp nhận. Thể
diện âm tính bao trùm cái gọi là lãnh địa cá nhân, là người nào đó cần được
độc lập, tự do trong hành động. Phép lịch sự âm tính có tính lảng tránh có
nghĩa là tránh không dùng hành động đe doạ thể diện, hoặc có tính bù đắp,
có nghĩa là bù đắp lại những tổn hại về thể diện khi không thể tránh mà bắt
buộc phải thực hiện một hành động đe doạ thể diện nào đó.
Lịch sự dương tính là phép lịch sự nhằm hướng vào thể diện dương
tính của người nhận. Thể diện dương tính là tổng thể những hình ảnh tự
15
đánh giá cao về mình mà mỗi cá nhân trong xã hội tự xây dựng nên và cố
gắng áp đặt cho người xung quanh, buộc họ phải chấp nhận, tôn trọng.
Phép lịch sự dương tính thực hiện những hành động tôn vinh thể diện
người nhận, tỏ ra quan tâm đến người này.
Với phương châm về lượng, thông thường trong giao tiếp người ta sẽ
nói những điều người nghe chưa biết. Nhưng hội thoại luôn tiềm ẩn nguy
cơ không gắn với quy tắc. Có những điều không cần nói đôi khi phải nói ra
hoặc ngược lại cần nói nhưng không nói ra, có khi phải dùng đến một cách

tính chân thực của hành động ngôn ngữ trong phát ngôn người nói phải
tường minh điều kiện chân thành bằng lời rào đón: chân tình mà nói, nói
thật nhé, nói không phải nịnh, nói đùa chứ…
Khi thực hiện những hành động ngôn ngữ mà hiệu quả của nó không
phù hợp với mong muốn, lợi ích của người nghe, với mối quan hệ giữa
người nói và người nghe thì người nói sử dụng quán ngữ: nói trộm vía, nói
dại đổ xuống sông, nói dại mồm dại miệng, lẽ ra không nên nói điều này,
nói đừng để bụng…
Có những quán ngữ rào đón mang tính lịch sự nhằm dẫn dắt báo
trước cho người nghe chuẩn bị một hành động nào đó có hiệu lực đe doạ
thể diện để người nghe đỡ bất ngờ như : nói vô phép, hỏi khí không phải,
bỏ quá đi cho, nói mạn phép, làm ơn, làm phúc, làm phiền.
Ví dụ:
“Trước khi từ biệt, ông Bảo Sơn ngậm ngùi, bắt tay chủ nhà thật chặt
và thật lâu như thế đôi bạn cố tri. Rồi buông tay ra, ông nói rất thân mật:
- Chúng tôi cám ơn ngài. Chốc nữa, mời ngài quá bộ đến chơi
đằng nhà để xem đồ đạc. Nói đổ xuống sông xuống biển, nếu chẳng may cụ
có việc gì, xin ngài cứ tin cậy ở tôi” (49, tr 351)
Trong phát ngôn của ông Bảo Sơn có hai quán ngữ rào đón “nói đổ
xuống sông xuống biển” và “nếu chẳng may”.Sở dĩ ông phải rào đón như
thế vì điều ông nói ra là xui xẻo, người nhà chủ không mong đợi.Lời rào
17
đón của ông làm cho chủ nhà không mếch lòng, khó chịu và sẽ bỏ qua điều
không hay ông nói ra
***
Nói tóm lại, trong từ vựng tiếng Việt , quán ngữ nói chung và quán
ngữ đưa đẩy, rào đón nói riêng là một lĩnh vực ngôn ngữ khá lí thú. Trên cơ
sở những quan niệm, cách hiểu về quán ngữ của các tác giả đi trước đã
trình bày trong chương này, ở chương tiếp theo luận văn đi vào khảo sát
đồng thời tiến hành phân tích một số quán ngữ thực hiện chức năng đưa

Qua khảo sát tập truyện chúng tôi đã tập hợp được 142 quán ngữ
thực hiện chức năng đưa đẩy và rào đón.
II.1.2. Phân loại quán ngữ thực hiện chức năng đưa đẩy và rào đón
trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
II.1.2.1. Tiêu chí phân loại
Trước hết, dựa vào ý nghĩa của các từ rào đón và đưa đẩy chúng tôi
phân loại các quán ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan thành
hai loại. “Đưa đẩy là hành động nói ra những lời chỉ nhằm để cho câu
chuyện diễn ra dễ dàng, tự nhiên” (7b, tr354) còn “rào đón là hành động
ngăn ngừa sự phản ứng hay hiểu nhầm”. Xét đến cùng thì các quán ngữ
rào đón cũng được nói ra nhằm phục vụ cuộc hội thoại, giúp cho việc giao
tiếp được thuận lợi, dễ dàng. Phạm vi ý nghĩa của hành động rào đón nằm
trong phạm vi ý nghĩa của hành động đưa đẩy. Nhưng do các quán ngữ rào
đón có ý nghĩa đặc biệt và chiếm một số lượng lớn nên chúng tôi tách các
quán ngữ rào đón ra thành một loại riêng. Sự phân chia các quán ngữ được
tìm được thành hai loại vì thế chỉ có ý nghĩa tương đối. 142 quán ngữ khảo
sát được trong tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, chúng tôi đã xác
định được 42 quán ngữ thực hiện chức năng rào đón và 100 quán ngữ thực
hiện chức năng đưa đẩy.
19
Tiếp đến, dựa vào mục đích giao tiếp, 100 quán ngữ thực hiện chức
năng đưa đẩy lại có thể phân loại thành những nhóm nhỏ hơn như: nhóm
quán ngữ đánh giá, nhóm quán ngữ giả định, nhóm quán ngữ phủ định-
phản bác…
Dựa vào hiệu lực rào đón 42 quán ngữ thực hiện chức năng rào đón
lại có thể phân loại thành các nhóm như: nhóm các quán ngữ thực hiện
phương châm về lượng, nhóm các quán ngữ thực hiện phương châm về
chất, nhóm các quán ngữ thực hiện phương châm quan hệ…
II.1.2.2. Kết quả phân loại
- Quán ngữ thực hiện chức năng đưa đẩy (7 nhóm):


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status