Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007
45
Cách sử dụng một số từ tình thái trong
truyện ngắn của Nguyễn dậu
Phạm Thị Hà
(a)
Tóm tắt. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đi sâu phân tích nét đặc sắc
trong việc sử dụng các phơng tiện thể hiện tình thái qua lời hội thoại nhân vật trong
truyện ngắn Nguyễn Dậu, qua đó nói lên đóng góp riêng của ông về xây dựng tính cách
nhân vật qua ngôn ngữ hội thoại.
1. Đặt vấn đề
Hội thoại nh chúng ta đã biết là
Một trong những hoạt động ngôn ngữ
thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật
trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định
mà giữa họ có sự tơng tác qua lại về
hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận
thức nhằm đi đến một đích nhất định
([6], tr.18). Do đó hội thoại là một quá
trình vận động tơng tác lẫn nhau giữa
các nhân vật tham gia, trong đó mỗi
nhân vật có những trạng thái tâm lý
đi vào khảo sát vấn đề tình thái trong
truyện ngắn Nguyễn Dậu: "Tính tình
thái là phạm trù chức năng ngữ nghĩa
thể hiện các dạng quan hệ khác nhau
của phát ngôn đối với thực tế cũng nh
các dạng đánh giá chủ quan khác nhau
của điều đợc thông báo" [6, tr. 54]. Mặt
khác, tiếng Việt là một ngôn ngữ giàu
thanh điệu nhng hạn chế về ngôn
điệu, chính vì vậy các yếu tố tình thái
đợc sử dụng trong lời nhiều khi đợc
xem nh là một "phơng thức ngữ
pháp" diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp
một cách hữu hiệu. Tình thái là bộ
phận không thể thiếu trong lời hội thoại
và cũng là một trong những đặc điểm
tạo nên sự khác biệt về phong cách văn
bản, giữa văn bản hội thoại và văn bản
Nhận bài ngày 01/12/2006. Sửa chữa xong 19/12/2006.
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007
46
hành chính, chính luận, khoa học.
Trong lời thoại nhân vật, tình thái
ngữ địa phơng, các từ chỉ tôn giáo, các
từ ngữ chỉ nghề nghiệp chuyên sâu.
Qua lớp từ này, ta tìm thấy đóng góp
của nhà văn Nguyễn Dậu trong việc xây
dựng hình tợng nhân vật, ngôn ngữ
nhân vật. Một trong những phơng tiện
góp phần khắc hoạ tính cách nhân vật,
thái độ nhân vật, đặc điểm cá tính nhân
vật, nghề nghiệp nhân vật, đó là các
phơng tiện thể hiện tình thái.
2.1. Sử dụng trợ từ
Trợ từ theo định nghĩa của Từ điển
tiếng Việt: là những từ chuyên dùng để
thêm vào cho câu, biểu thị thái độ của
ngời nói nh: ngạc nhiên, nghi ngờ,
mỉa mai, vui mừng ([5], tr.1045). Các
trợ từ này xuất hiện trong lời thoại
nhằm thể hiện những tình thái đa
dạng, khác nhau của ngời nói bằng
cách nhấn mạnh vào từ sử dụng, trực
tiếp phản ánh nội dung mà ngời nói
muốn lu ý ngời nghe.
Nguyễn Dậu đã sử dụng các trợ từ
tình thái trong lời thoại của nhân vật
để nhấn mạnh một nội dung cụ thể
trong lời nói của mình, nh xác nhận
thừa nhận, khẳng định về một sự thực
nào đó, nhng qua đó, ta nhận ra sự
khắc hoạ một kiểu nói của nhân vật,
một thứ ngôn ngữ tồn tại trong giao
thoại cũng sử dụng các trợ từ này nhằm
khẳng định sự thực:
(2) - Vâng, đúng là tôi, chính tôi,
nhng sao nó lại có ở trong tay ni s?
Tôi dám cả quyết rằng tôi không hề
đóng quân ở Tuyên Quang (Bảng lảng
hoàng hôn, tr. 17)
Ta có thể bắt gặp trợ từ tình thái
cốt, chỉ đợc sử dụng trong lời mời
chào của nhân vật nhằm thể hiện sự
tinh quái, giễu cợt của mình nhng lại
có tính thuyết phục, gây sự chú ý cao
đối với ngời nghe. Qua lời thoại nhân
vật này, ta nhận ra tính cách của nhân
vật, nghề nghiệp của nhân vật - nghề
bán rắn, một nghề lừa lọc, tráo trở:
(3) Ngời bán rắn lắc đầu quầy quậy,
cất giọng hóm hỉnh:
- ấy chớ! Bác đừng phụ em. Hôm nay
em bán rắn ở đây cốt chỉ để bán cho
một mình bác. Em sinh ra ở trên đời
này, rồi làm nghề bán lũ sinh linh
nguy hiểm chết ngời này, cũng chỉ vì
mình bác. Sau khi bác mua rắn cho em,
em sẽ giải nghệ. Bác không tìm thấy em
nữa đâu. Bèo dạt mây trôi, bác
ơi (Mật rắn, tr. 238).
b. Nhóm trợ từ thể hiện tình thái
đánh giá về phạm vi mức độ
Ngoài những trợ từ trên, trong lời
hớng là nhiều, là quá.
Dùng trợ từ thôi
(5) - Phải? Chết rồi! Say rợu chửi bố
cả làng đứa nào bảo tao tậu xe, xây
nhà xây sân bằng thóc công quỹ. Thế,
loạng choạng ngã xuống ao còn anh,
ăn diện thế kia, chắc là việt kiều yêu
nớc chứ? ở nớc nào về vậy?
Phạm Phớc tròn xoe mắt, cuống
quýt lắc đầu:
- Tha bà không ạ. Cháu ở miền
nam ra thôi ạ (Đại sám hồi, tr.45)
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007
48
Trợ từ thôi trong ví dụ trên đợc sử
dụng để thể hiện thái độ ngời nói là
khiêm nhờng, là bình thờng chứ
không phải là oách, là Việt Kiều nh
ngời trao lời đã suy đoán, nhằm phủ
định điều ngời khác dự đoán về bản
thân mình.
Tơng tự nh vậy, nhân vật Hùng
cũng dùng trợ từ thôi trong lời thoại
của mình để thể hiện thái độ đánh gia,
để tạo câu theo mục đích nói.
Dùng tình thái từ à thể hiện thái độ
chất vấn.
(7) - Ôi cảm ơn tình bạn của anh.
Nhng tôi biết dùng nó vào việc gì? Chả
lẽ để nó canh chừng những con sâu mọt
đục phá cái bàn viết của tôi à? (Con thú
bị ruồng bỏ, tr. 216)
Hoặc thể hiện sự trách cứ, thắc mắc
nhng đồng thời cũng bao hàm cả thái
độ ngạc nhiên trớc hiện thực:
(8) - Sao? Cởi à? Mày hạ lệnh cho tao
đầy à? (Thầy thuốc tồi tệ, tr. 442)
Dùng tình thái từ hả nhằm thể hiện
mục đích hỏi, song bên cạnh đó còn hàm
ẩn cả sự đe nẹt qua từ tình thái hả.
(9) - Chúng mày có nể tao không đấy,
hả? (Chấm dứt kiếp hoang, tr. 138).
Sử dụng yếu tố tình thái để biểu
hiện thái độ băn khoăn của bản thân:
(10) - Ngày xa, ba mơi năm trớc,
tôi đã làm hai câu văn vần để chế mấy
ông già chơi trống bỏi: Đêm mơ màng
tởng gối bông. Ngờ đâu gối phải râu
chồng kề bên. Chẳng lẽ, tôi lại tặng tôi
hai câu đó ? (Thầy thuốc tồi tệ, tr.
439).
Sử dụng tình thái từ nhỉ để biểu
hiện thái độ ngạc nhiên, có chút băn
khoăn của ngời nói:
(14) - Em xin phép ra cho bác một vế
đối. Nếu bác đối đợc, em thề có các vị
thánh trong đền này, sẽ biếu không bác
số mật rắn cha giao đủ. Em lấy việc
bản thân ra mà đối nhé? (Mật rắn, tr.
248)
a2. Ngoài ra, ta còn bắt gặp các từ
tình thái thể hiện thái độ cầu khiến của
ngời nói, nh: thôi, nào, đấy
(15) - Nào! Bà thành thực đi nào!
Nếu không tôi chẳng ở đây mà mất thời
giờ với bà, đằng nào thì cũng đã lộ tẩy
rồi. (Miệng na mô, tr. 174)
Thể hiện thái độ đe doạ, cảnh báo
hớng tới đối tợng giao tiếp khi sử
dụng yếu tố tình thái đấy sau lời thoại:
(16) - Tôi chấp thuận! Tôi sẽ tuyệt
đối yêu thơng. Nhng phải có đi có lại.
Nếu em tôi không khỏi bệnh thì sao?
Ông nhớ cho tên tôi là Súng đấy! (Thầy
thuốc tồi tệ, tr. 428)
b, Dùng tình thái từ phản ánh quan
hệ vị thế của nhân vật
Quan hệ vị thế chính là quan hệ tôn
ti xã hội, nó liên quan đến các vấn đề
nh tuổi tác, giới tính và địa vị xã hội.
Chính quan hệ này sẽ chi phối vai trò
giao tiếp của các nhân vật tham gia hội
thoại. Ngoài hệ thống các đại từ xng
hô, cách tổ chức cuộc thoại nh ai mở
thế, địa vị hay vị thế luôn tạo ra khoảng
cách giữa hai bên tham gia giao tiếp
(cấp trên - dới, thầy giáo - học sinh,
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007
50
chủ - tớ). Còn trong quan hệ kết liên
luôn hớng tói một sự đồng đẳng - cận
kề.
Trong truyện ngắn Nguyễn Dậu, mối
quan hệ này đợc phản ánh rõ nét qua
việc sử dụng từ tình thái cuối câu nh ạ
và từ tình thái đầu câu nh tha.
Chẳng hạn, cách sử dụng từ tình thái à,
ạ trong lời thoại của nhân vật Phạm
Phớc dùng với mục đích để hỏi sau
đây:
(17) - Tha bà ông chủ nhiệm chết
rồi ạ?
- Cả làng không ai nói năng gì à?
Từ tình thái à và ạ mà nhân vật sử
dụng trong hai câu hỏi này cho chúng
ta thấy vị thế của nhân vật trong hai
lần giao tiếp với những đối tợng giao
tiếp khác nhau đã có sự thay đổi. Khi
- Không ạ, không ạ. Có phải Lan
Ngọc Sơn không ạ? (Phong lan đen,
tr.31).
Từ tình thái ạ là một từ tình thái
quen thuộc, thờng xuất hiện trong
ngôn ngữ nói của ngời miền Bắc,
nhằm thể hiện thái độ lễ phép, tôn
trọng khi ngời nói vai dới giao tiếp
với ngời nghe vai trên, cao hơn mình.
Đặc điểm này không chỉ biểu hiện ở
các từ tình thái dùng trong câu hỏi -
đáp mà trong khi dùng từ tình thái để
gọi - đáp, ta cũng có thể thấy rõ điều
này:
Dùng yếu tố tình thái tha để gọi -
đáp trong lời thoại của bà Lăn:
(19) - Tha ông ông là khách
của em ngày xa ạ ?
- Bà hiện giấu đứa con của Lăn ở
đâu?
- Tha ông thằng bé ấy hiện do
một bọn lu manh nuôi nấng giấu giếm
ở nơi nào, nhà em không rõ! (Miệng
nam mô, tr. 173).
Từ tình thái tha thể hiện thái độ
sợ hãi e ngại, của nhân vật Luỵ cũng
nh vị thế thấp kém của một kẻ lọc lừa
nói:
(21) - Đúng là bà Luỵ chứ cô?
- Dạ đúng ạ. (Miệng na mô, tr.
155)
(22) - Sao mày đánh cái Sính tệ hại
thế ?
- Dạ em dạy em gái em ạ (Thầy
thuốc tồi tệ, tr. 449)
Từ tình thái dạ mà nhân vật sử
dụng, vừa là sự khẳng định mang tính
chất thừa nhận nhng đồng thời cũng
biểu hiện thái độ cung kính, lễ phép của
ngời đáp vốn có vị thế thấp về tuổi tác,
hay quan hệ vai vế trong dòng họ nh
giữa bác sĩ Tiệp với nhân vật Súng. Do
đó, qua cách sử dụng từ tình thái này,
ta có thể cho phép nhận biết đợc ngời
đáp có vị thế giao tiếp nh thế nào so
với ngời trao.
Không chỉ nhà văn Nguyễn Dậu,
những nhà văn khác cũng sử dụng các
yếu tố tình thái thể hiện trong lời thoại
nhân vật của mình nh Nguyễn Huy
Thiệp, Ma Văn Kháng, Nguyễn Thị Thu
Huệ, Nguyễn Minh Châu Tuy nhiên,
vấn đề là nhà văn Nguyễn Dậu trong
truyện ngắn của mình đặc biệt chú
trọng tập trung thể hiện tính cách, tình
cảm, thái độ của nhân vật qua chính
các yếu tố tình thái đợc sử dụng trong
52
thái của nhân vật một cách sinh động,
đa dạng mà không cần nhiều đến sự
phụ trợ của yếu tố phi lời kèm theo
trong cuộc thoại.
Tài liệu tham khảo
[1] Nguyễn Dậu, Bảng lảng hoàng hôn, NXB Văn học, 1997.
[2] Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng học, tập1, NXB Giáo dục, 2000.
[3] Lê Đông, Phạm Hùng Việt, Nhấn mạnh nh một hiện tợng ngữ dụng và đặc
trng ngữ nghĩa - ngữ dụng của một số trợ từ nhấn mạnh trong tiếng Việt, Ngôn
ngữ, 1995, số 2.
[4] Cao Xuân Hạo, Sơ thảo ngữ pháp chức năng, t.1, NXB KHXH, 1991.
[5] Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2001.
[6] Đỗ Thị Kim Liên, Ngữ nghĩa lời hội thoại, NXB Giáo dục, 1999.
[7] Bùi Minh Toán, Từ trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt, NXB Giáo dục,1999.
Summary
the usages of words indicating modality meaning
in short stories by Nguyen dau
This article considered the means used to express the modality meanings in the
characters conversation in Nguyen Daus short stories. And the article mentioned
his personal contribution to building characters personalities through conversation
language as well.