câu có hình thức nghi vấn trong tác phẩm của nguyễn công hoan - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
……………………. HÀ THỊ TUYẾT
CÂU CÓ HÌNH THỨC NGHI VẤN TRONG
TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Thái Nguyên – 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

3
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Theo ngữ pháp học truyền thống, câu có hình thức nghi vấn là một trong
bốn kiểu câu được phân loại theo mục đích: câu tường thuật, câu nghi vấn, câu
cầu khiến và câu cảm thán (câu cảm). Đây là kiểu câu được dùng thường
xuyên trong giao tiếp hàng ngày cũng như trong tác phẩm văn chương.
1.2. Dưới ánh sáng của ngữ dụng học, kiểu câu có hình thức nghi vấn không
chỉ được dùng để hỏi (tức hành vi ngôn ngữ trực tiếp) mà còn được dùng với
nhiều mục đích khác như để chào, cầu khiến, bộc lộ thái độ,v.v (tức hành vi
ngôn ngữ gián tiếp). Điều này đã được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ nói
đến. Song, câu có hình thức nghi vấn có thể được dùng để thực hiện những
hành vi ngôn ngữ nào? Đến nay vẫn chưa có một số liệu cụ thể và cũng như
chưa có một công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về vấn đề này.
1.3. Nguyễn Công Hoan là một tác giả xuất sắc trong dòng văn học hiện thực
nước nhà. Ông bắt đầu cầm bút viết văn vào khoảng những năm 1920-1923 và
tự khẳng định được mình một cách mạnh mẽ và vững chắc vào khoảng những
năm 1929-1931 trở đi. Ngay từ những truyện ngắn đầu tay, Nguyễn Công
Hoan đã chú ý lấy đề tài trong những chuyện đáng cười, đáng khinh, đáng ghét
và đáng thương trong xã hội lúc bấy giờ. Và trong cả quá trình sáng tác về sau
này, đó là loại đề tài hầu như duy nhất mà ông theo đuổi và ngày càng mở rộng
phạm vi quan sát, đối tượng miêu tả và nội dung đả kích.
Nguyễn Công Hoan đã dùng ngòi bút của mình vạch ra tất cả những sự
thật đen tối của một chế độ xã hội tàn nhẫn và mục nát, chế độ thực dân phong
kiến. Song các tác phẩm của ông nổi tiếng và thu hút người đọc không phải chỉ vì

Việt, Luận án TS Ngữ Văn, HN, 2002.
6. Lê Anh Xuân, Câu trả lời gián tiếp có nghĩa hàm ẩn cho câu hỏi chính
danh, Luận án TS Ngữ văn, HN, 2004.
Ngoài các công trình nghiên cứu nói trên, còn có thể kể đến một số bài
tạp chí, một số khoá luận tốt nghiệp Đại học như:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

5
- Câu trả lời và câu đáp của câu hỏi, Lê Đông, Ngôn Ngữ số phụ, 1985;
- Cách tổ chức câu hỏi trong tiếng Kơho, Tạ Văn Thông trong Những
vấn đề ngôn ngữ phương Đông, Viện ngôn ngữ học, 1985;
- Thử tìm hiểu phát ngôn hỏi và phát ngôn trả lời trong sự tương tác lẫn
nhau giữa chúng trên bình diện giao tiếp, Nguyễn Chí Hoà, ngôn ngữ số 1, 1993;
- Vai trò của thông tin tiền giả định trong cấu trúc ngữ nghĩa - ngữ dụng
của câu hỏi, Lê Đông, Ngôn ngữ số 2, 1994;
- Một vài đặc điểm chung của câu nghi vấn (qua ngôn liệu một số ngôn
ngữ), Nguyễn Đăng Sửu, Kỉ yếu hội thảo ngữ học trẻ, 1998;
- Một số tiểu từ tình thái đứng cuối câu dùng để hỏi, Nguyễn Thị Tuyết
Mai trong Những vấn đề ngôn ngữ học, Kỉ yếu hội nghị khoa học, 2001, Viện
ngôn ngữ học;
- Câu hỏi trong truyện ngắn Nam Cao, Nguyễn Thị Hồng Nhung, Khoá
luận tốt nghiệp, Khoa ngôn ngữ học, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn,
2005
Có thể thấy rằng, việc nghiên cứu về hành vi hỏi và câu nghi vấn đã
nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, các nhà nghiên
cứu chủ yếu dừng lại ở việc tìm hiểu câu nghi vấn được dùng với mục đích
trực tiếp hoặc mới chỉ đề cập đến một khía cạnh của hành vi hỏi trong khi câu
nghi vấn còn nhằm diễn đạt nhiều mục đích khác nhau. Đặc biệt, việc nghiên
cứu về câu nghi vấn trong những tác phẩm văn học cụ thể chưa được chú ý
một cách đầy đủ.

Việt Nam hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, HN, 1997;
11. Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Công Hoan, Từ điển văn học (tập
II), Nxb Khoa học xã hội, HN, 1984;
12. Hoàng Như Mai, Có nhiều tác giả Nguyễn Công Hoan trong một
Nguyễn Công Hoan, Lời nói đầu Bóng người qua, Nxb Văn nghệ, TPHCM, 1988;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

7
13. Nguyễn Đăng Mạnh, Đọc lại truyện ngắn trào phúng của Nguyễn
Công Hoan trong Nhà văn, tư tưởng và phong cách, Nxb Văn học, HN, 1983
Ngoài ra, còn rất nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tạp chí và khóa
luận tốt nghiệp nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan cùng với các tác phẩm của
ông. Có thể khẳng định lại một lần nữa rằng: Nguyễn Công Hoan là một nhà
văn lớn. Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác và các tác phẩm văn học của ông đã
được giới nghiên cứu, phê bình văn học đặc biệt quan tâm song việc nghiên
cứu về câu nghi vấn trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan thì chưa thực sự
được quan tâm.
Như vậy, vấn đề nghiên cứu về câu nghi vấn cũng như về tác giả
Nguyễn Công Hoan đã và đang thu hút sự quan tâm của một số nhà nghiên
cứu. Những công trình nghiên cứu đã công bố về Nguyễn Công Hoan phần lớn
mới chỉ dừng lại ở việc sưu tầm các tác phẩm của ông hoặc phê bình một số
tác phẩm của tác giả. Có những công trình chỉ chọn một tác phẩm tiêu biểu của
Nguyễn Công Hoan để tìm hiểu. Có thể nói, chưa có công trình nào nghiên
cứu về câu có hình thức nghi vấn trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan một
cách toàn diện. Chọn đề tài Câu có hình thức nghi vấn trong tác phẩm của
Nguyễn Công Hoan để nghiên cứu, chúng tôi muốn làm rõ thêm kiểu câu này
về mặt lý thuyết cũng như thực tế sử dụng. Hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ một
phần làm sáng tỏ thêm về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong sáng tác của
Nguyễn Công Hoan, mặt khác nó có thể làm tư liệu tham khảo cho những ai
muốn nghiên cứu về ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan nói chung và câu có

5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thực hiện đề tài này, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ
yếu sau đây:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

9
5.1. Phƣơng pháp thống kê - phân loại
Phương pháp nghiên cứu này dùng để khảo sát và phân loại tư liệu, cụ
thể là khảo sát các câu có có hình thức nghi vấn trong tác phẩm của Nguyễn
Công Hoan và phân loại chúng.
5.2. Phƣơng pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp nghiên cứu này dùng để miêu tả, phân tích tư liệu và tổng
kết các kết quả nghiên cứu.
5.3. Phƣơng pháp so sánh - đối chiếu
Phương pháp nghiên cứu này dùng để so sánh, đối chiếu các tiểu loại
đối tượng về tần số sử dụng và giá trị biểu đạt.
6. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
6.1. Về mặt lý luận
- Luận văn góp phần làm rõ thêm về các kiểu hành vi ngôn ngữ gián tiếp
được thể hiện dưới hình thức hành vi hỏi. Nói khác đi, câu có hình thức nghi
vấn có khả năng dùng để thực hiện những hành vi ở lời gián tiếp.
- Việc nghiên cứu câu nghi vấn trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan
còn có ý nghĩa trong việc chỉ ra những nét riêng biệt trong việc sử dụng ngôn
từ của Nguyễn Công Hoan so với các nhà văn khác. Từ đó, làm rõ phong cách
nhà văn.
6.2. Về mặt thực tiễn
Kết quả của luận văn sẽ giúp cho việc hiểu, giảng dạy các tác phẩm của

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

11
NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này trình bày một số lý thuyết được luận văn dùng làm căn cứ
để xử lý đối tượng nghiên cứu. Cụ thể đó là lý thuyết về câu và lý thuyết về
ngữ dụng học.
1.1. Một số vấn đề lý thuyết về câu
1.1.1. Định nghĩa câu
Có thể nói, cho đến nay vẫn chưa có được cách định nghĩa câu nào thoả
mãn tất cả hoặc hầu hết các nhà ngữ pháp. Có khá nhiều quan điểm khác nhau
về vấn đề nêu lên định nghĩa câu. Trong đó phải kể đến định nghĩa câu của
Nguyễn Hiến Lê trong Để hiểu văn phạm Việt Nam, của Hữu Quỳnh trong
Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại, của Diệp Quang Ban trong Ngữ pháp tiếng Việt
và của Uỷ ban khoa học xã hội. Vấn đề định nghĩa câu phụ thuộc vào góc nhìn
của nhà nghiên cứu, vào mục đích nghiên cứu và giảng dạy cũng như học tập
ngữ pháp. Ở đây chúng tôi theo định nghĩa của tác giả Diệp Quang Ban vì đó
là cơ sở quan trọng phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
Diệp Quang Ban dựa vào 4 tiêu chí: hình thức, nội dung, chức năng và
lĩnh vực nghiên cứu đã nêu lên định nghĩa về câu như sau: "Câu là đơn vị của
nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và
ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh
giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt, tư tưởng, tình
cảm. Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ" ( Ngữ pháp
tiếng Việt, tập hai, Nxb Giáo dục, trang 106).

- Kết từ "hay" (với ý nghĩa lựa chọn);
- Các phụ từ nghi vấn;
- Các tiểu từ chuyên dụng;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

13
- Ngữ điệu thuần tuý (những trường hợp không có các phương tiện
nêu trên).
b. Phân loại câu nghi vấn
Có nhiều tiêu chí để phân loại câu nghi vấn. Dựa vào các phương tiện
cấu tạo câu nghi vấn, tác giả Diệp Quang Ban phân loại câu nghi vấn thành
bốn kiểu nhỏ. Đó là:
* Câu nghi vấn có đại từ nghi vấn
Câu nghi vấn có đại từ nghi vấn là câu nghi vấn được dùng để hỏi vào
những thời điểm xác định trong câu, điểm hỏi là điểm chứa đại từ nghi vấn. Do
đó, ngay cả khi câu bị tách ra khỏi tình huống nói và ngữ cảnh cũng có thể
nhận biết được điểm hỏi. Có thể gọi đây là câu nghi vấn rõ trọng điểm.
Những đại từ nghi vấn thường gặp là:
+ Ai: hỏi về người;
+ Gì: hỏi về vật và về tính chất (nội dung) của người, con vật, sự vật;
+ Nào: hỏi về tính chất (có thể hàm ý lựa chọn);
+ (Như) thế nào: hỏi về tính chất (miêu tả) của người, sự vật và về cách
thức của đặc trưng (hành động, trạng thái, tính chất, quan hệ);
+ Mấy: hỏi về số lượng;
+ Bao giờ: hỏi về thời điểm;
+ Bao lâu: hỏi về thời hạn;
+ Đâu: hỏi về vị trí và phương hướng.
Trong câu nghi vấn tiếng Việt, vị trí của đại từ nghi vấn là vị trí của từ
mà nó thay thế ở câu tường thuật, thường đại từ nghi vấn không được đưa lên
đầu câu như ở câu nghi vấn của nhiều ngôn ngữ khác.

Câu nghi vấn có tiểu từ chuyên dụng, nếu không được dùng kèm với các
phương tiện khác thì điểm hỏi trong câu sẽ rất mơ hồ khi câu đứng riêng. Vậy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

15
nên có thể gọi đây là kiểu câu nghi vấn không rõ trọng điểm.
Ví dụ (1): Hôm qua anh đi Hà Nội à?
Đối với câu nghi vấn trên có thể trả lời như sau:
- Không, tôi đi Hà Nội từ tuần trước cơ. (trọng điểm hỏi: hôm qua)
- Phải, tôi đi Hà Nội hôm qua. (trọng điểm hỏi: hôm qua)
- Không, anh ấy đi Hà Nội (trọng điểm hỏi: anh)
- Không, tôi đi Thái Nguyên (trọng điểm hỏi: Hà Nội)
Những tiểu từ chuyên dụng thường gặp là: à, ừ, nhé, nhỉ, hả, chứ, chớ, ạ…
* Câu nghi vấn dùng ngữ điệu
Việc sử dụng ngữ điệu để phân biệt câu theo mục đích nói là rất hạn chế
vì tiếng Việt là một ngôn ngữ có nhiều thanh điệu. Cách sử dụng câu nghi vấn
chỉ thuần tuý dựa vào ngữ điệu được chấp nhận rộng rãi là trong câu hỏi có ý
tương phản mở đầu bằng kết từ còn. Đặc trưng ngữ điệu của kiểu câu này là sự
nâng cao giọng ở phần cuối câu.
Ví dụ (2): - Còn cậu ta?
- Còn nguy cơ thứ ba?
- Còn tin vui?
Dựa vào tiêu chí ngữ nghĩa, tác giả Cao Xuân Hạo chia câu nghi vấn
thành hai loại nhỏ là:
* Câu nghi vấn chính danh: Là câu chỉ có giá trị ngôn trung là hỏi để
yêu cầu một lời giải đáp. Hỏi người khác hoặc hỏi chính mình để được trả lời
hoặc tự giải đáp, gọi tắt là câu hỏi.
* Câu nghi vấn có giá trị ngôn trung khác: Câu hỏi chỉ là hình thức để
người nghe tự biết ra cái việc phải đáp ứng. Hình thức câu nghi vấn còn có
nhiều giá trị ngôn trung khác, từ khẳng định, phủ định, bác bỏ, chối cãi, ngờ

người nói, người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau, trong hoàn
cảnh giao tiếp nào đó". Như vậy, hành vi ngôn ngữ được thực hiện khi một
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

17
người nói (người viết) nói (viết) ra một phát ngôn cho người nghe (người đọc)
trong một ngữ cảnh nhất định. Cụ thể, hành vi ngôn ngữ là hành động con
người sử dụng ngôn ngữ để tạo ra một phát ngôn trong cuộc giao tiếp. Hành vi
ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng, nó có khả năng làm thay đổi trạng thái, tâm
lý, hành động… của người nghe, thậm chí của cả người nói.
Theo Austin - nhà ngôn ngữ học người Anh, khi người nói (người viết)
nói (viết) ra một phát ngôn thì trong đó phải sử dụng ba loại hành vi ngôn ngữ
lớn, đó là hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời.
Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm,
từ, các kiểu kết hợp từ thành câu… để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội
dung. Chẳng hạn, người nói (người viết) sử dụng các yếu tố ngữ âm, từ và kết
hợp các từ theo một quy tắc nhất định để nói (viết) ra một phát ngôn thể hiện
hành vi thông báo "Tôi mệt rồi!".
Hành vi mượn lời là hành vi "mượn" phương tiện ngôn ngữ, nói cho
đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào
đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính lời nói. Ví dụ, khi nghe một phát
ngôn sai khiến "Đóng cửa lại!", người nghe có thể có những phản ứng để thực
hiện sự sai khiến đó (đứng dậy đóng cửa) hoặc tỏ thái độ bực tức, càu nhàu,
khó chịu… Đó chính là hiệu quả của hành vi mượn lời. Có những hiệu quả
mượn lời là đích của một hành vi ở lời (đóng cửa là hiệu quả mượn lời của
hành vi ở lời điều khiển) nhưng cũng có những hiệu quả không thuộc đích của
hành vi ở lời (như gắt gỏng, khó chịu…khi nghe lệnh).
Hành vi ở lời là những hành vi mà người nói thực hiện ngay khi nói
năng. Hiệu quả của hành vi ở lời là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa
là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận.

4. Lớp hành vi trình bày: Những hành vi này được dùng để trình bày các
quan niệm, dẫn dắt lập luận, giải thích cách dùng từ như khẳng định, phủ định,
từ chối, trả lời, phản bác, nhượng bộ, báo cáo các ý kiến…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

19
5. Lớp hành vi ứng xử: Đây là những hành vi phản ứng với cách xử sự
của người khác, đối với sự kiện có liên quan, chúng cũng là cách biểu hiện thái
độ đối với hành vi hay số phận của người khác như: xin lỗi, cám ơn, khen
ngợi, chào mừng, phê phán, chia buồn, nguyền rủa, thách thức, nghi ngờ…
Cách phân loại hành vi ngôn ngữ của Austin được xem về cơ bản là
phân loại từ vựng các động từ ngữ vi tiếng Anh. Cách phân loại này vẫn còn
nhiều bất cập vì tiêu chí phân loại không rõ ràng, các hành vi còn bị xếp chồng
chéo giữa các lớp. Chẳng hạn hành vi miêu tả (describe) được xếp vào 2 lớp:
lớp hành vi phán xét và lớp hành vi bày tỏ. Nó thuộc lớp hành vi phán xét vì
đó là một sự đánh giá (chính thức hoặc không chính thức). Nó thuộc lớp hành
vi bày tỏ vì đó là sự trình bày một vấn đề nào đó.
* Cách phân loại của Searle
Searle đã chỉ ra những hạn chế trong cách phân loại hành vi ngôn ngữ
của Austin. Ông đã khắc phục những hạn chế này, ông cho rằng trước hết là
phải phân loại các hành vi ở lời chứ không phải phân loại các động từ gọi tên
chúng. Ông đã đưa ra cách phân loại khác dựa trên các tiêu chí rõ ràng, đó là
12 điểm khác biệt giữa các hành vi ngôn ngữ được dùng làm tiêu chí phân loại
như sau:
- Đích ở lời: là đích của các phát ngôn mà người nói hướng tới người nghe;
- Hướng khớp ghép lời với hiện thực mà lời đề cập đến;
- Trạng thái tâm lý được thể hiện qua phát ngôn;
- Sức mạnh mà đích ở lời trình bày ra;
- Tính quan yếu của mối liên hệ liên cá nhân giữa người nói và người nghe;
- Định hướng của đích tại lời;

Sp1. Lớp hành vi này bao gồm các hành động nói như: hứa hẹn, tặng, biếu…
4. Lớp hành vi biểu cảm: Đích ở lời là bày tỏ trạng thái tâm lý phù hợp
với hành vi ở lời; trạng thái tâm lý thay đổi tuỳ theo từng loại hành vi; nội
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

21
dung mệnh đề là một hành động hay một tính chất nào đó của Sp1 hay của
Sp2. Lớp hành vi này bao gồm các hành động nói như: chúc mừng, cảm ơn,
mong muốn, ruồng rẫy,…
5. Lớp hành vi tuyên bố: Đích ở lời là nhằm làm cho có tác dụng nội
dung của hành vi; hướng khớp ghép vừa là lời - hiện thực, vừa là hiện thực -
lời; nội dung mệnh đề là một mệnh đề. Lớp hành vi này bao gồm các hành
động nói như: tuyên bố, buộc tội…
Ngoài ra còn cách phân loại hành vi ngôn ngữ của D.Wunderlich,
F.Recanati và K.Bach và R.M.Harnish. Song các tác giả này về cơ bản là
thống nhất với Searle về tiêu chí phân loại.
c. Các dấu hiệu đánh dấu hành vi ở lời
Như trên đã nói, trong ba loại hành vi ngôn ngữ: hành vi tạo lời, hành vi
mượn lời và hành vi ở lời thì ngữ dụng học chủ yếu quan tâm đến hành vi ở lời.
Có nhiều dấu hiệu đánh dấu hành vi ở lời, dưới đây là một số dấu hiệu cơ bản:
* Động từ ngữ vi
Trong những động từ nói năng, có những động từ đặc biệt, đó là những
động từ có thể được thực hiện trong chức năng ngữ vi, tức thực hiện chức năng
ở lời. Những động từ này được gọi là động từ ngữ vi.
" Động từ ngữ vi là những động từ mà khi phát âm chúng ra cùng với
biểu thức ngữ vi (có khi không cần biểu thức ngữ vi đi kèm) là người nói thực
hiện luôn các hành vi ở lời do chúng biểu thị" (Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn
ngữ học, tập hai, trang 97).
Ví dụ (3): Tôi khuyên anh không nên bỏ học.
Trong ví dụ trên, khi người nói phát âm ra phát ngôn với động từ

các từ ngữ chuyên dụng như: có….không?, đã… chưa?, có phải…hay không?,
ai, cái gì, bao giờ, mấy,…, à, ừ, nhỉ, nhé,…,chăng,…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

23
Ví dụ (4):
- Anh đã ăn cơm chưa?
- Ai đấy?
- Cậu có đi xem ca nhạc không?
- Bao giờ cô ấy về?
Tương tự như vậy, các từ ngữ chuyên dụng trong kết cấu cầu khiến
thường là: hãy, đi, đừng, chớ, hãy…đi, đừng…. nữa, xin, làm ơn, cảm phiền
Ví dụ (5):
Hãy vào nhà đi.
Đừng khóc nữa.
Làm ơn cho tôi mượn quyển sách.
Các từ ngữ chuyên dụng trong các biểu thức ngữ vi "khuyên" là các từ
ngữ: nên, không nên…
Ví dụ (6):
- Anh không nên làm to chuyện thêm nữa.
- Chị nên bình tĩnh lại…
Ngoài ra, ta còn thấy những từ ngữ mở đầu chuyên dùng cho các biểu
thức ngữ vi "đánh giá" như: thật là, quả là… hay những từ ngữ chuyên dùng
các biểu thức ngữ vi "biểu cảm" là: ôi, trời ôi, ối cha mẹ ơi…
Ví dụ (7):
Con bé ấy quả là ngoan! (Hành vi đánh giá)
Trời ôi! đẹp quá! (Hành vi biểu cảm)
Tóm lại, những từ ngữ chuyên dụng thường được sử dụng trong các biểu
thức ngữ vi đặc thù. Đó chính là dấu hiệu quan trọng giúp ta nhận biết người
nói đang thực hiện biểu thức ngữ vi nào.

để xác định hành vi ngôn ngữ của các phát ngôn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

25
* Ngữ điệu
Ngữ điệu cũng là một trong những dấu hiệu đánh dấu hành vi ở lời.
Cùng một tổ chức từ vựng, ngữ pháp cụ thể nếu được phát âm với những ngữ
điệu khác nhau sẽ cho các biểu thức ngữ vi khác nhau ứng với những hành vi ở
lời khác nhau. Có nghĩa là, cùng một phát ngôn nhưng nếu người nói phát âm
với những ngữ điệu khác nhau sẽ tác động đến người nghe với những đích ở
lời khác nhau.
Chẳng hạn, đối với phát ngôn sau: Ngày mai tôi sẽ đến. Phát ngôn này
sẽ là một lời thông báo nếu người nói phát âm với một ngữ điệu bình thường.
Nó sẽ là một lời hứa nếu người nói phát âm với một giọng điệu thiết tha. Còn
nếu phát âm với giọng nhấn mạnh, dằn từng tiếng thì nó lại trở thành lời đe
doạ
Như vậy, động từ ngữ vi, các từ ngữ chuyên dụng trong biểu thức ngữ
vi, những kiểu kết cấu ngữ pháp đặc thù cho hành vi ngôn ngữ và ngữ điệu là
các dấu hiệu đánh dấu hành vi ở lời. Đây cũng là những cơ sở lý thuyết quan
trọng mà luận văn sẽ sử dụng để tìm hiểu cấu tạo ngữ pháp của câu có hình
thức nghi vấn trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan.
d. Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp
Như trên đã trình bày, hành vi ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng, nó có
khả năng làm thay đổi trạng thái, tâm lý, hành động của người nghe, thậm chí
của cả người nói. Hành vi ngôn ngữ, xét trong mối quan hệ giữa mục đích diễn
đạt và điều kiện sử dụng bao gồm: Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn
ngữ gián tiếp. Hai loại hành vi ngôn ngữ này có mối quan hệ gắn bó rất chặt
chẽ với nhau.
* Hành vi ngôn ngữ trực tiếp
Hành vi ngôn ngữ trực tiếp là hành vi ngôn ngữ được thực hiện đúng với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status