Nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn lỗ tấn - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**********

PHẠM THỊ THƠM

NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NGÔN NGỮ
NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA LỖ TẤN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

HÀ NỘI - 2009


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
***********

PHẠM THỊ THƠM

NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NGÔN NGỮ
NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA LỖ TẤN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

Người hướng dẫn khoa học
TH.S NGUYỄN VĂN MỲ


kỹ sư tâm hồn dân tộc - Lỗ Tấn. Đọc truyện của Lỗ Tấn người đọc như thấy
nhà nghệ sĩ ấy đã cố ý đem cả khối nhiệt tình mà kiến trúc lại để cho lý trí có
thể vận dụng những điều quan sát vào trong khái quát nghệ thuật để mô tả sự vật
thực tế theo những nét bút sâu sắc, bạo dạn, rắn rỏi như ngọn dao nhà điêu


khắc... Lỗ Tấn đã nén hẳn mối cảm tình chủ quan để có gan mà viết những câu
văn âm thanh đầy đặn có thể xúc động cả tâm cơ độc giả - (Lỗ Tấn - thân thế và
văn nghiệp, Đặng Thai Mai, Nxb thời đại, 1944).
Là một nhà văn yêu nước và cách mạng, Lỗ Tấn đã luôn luôn quan tâm
đến vận mệnh Tổ Quốc, đời sống nhân dân do đó Lỗ Tấn đã dùng ngòi bút làm
vũ khí tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Lỗ Tấn từng học khai
khoáng, từng học y khoa, cuối cùng nắm lấy vũ khí văn nghệ bởi theo ông thức
tỉnh tinh thần dân chúng, cải tạo và nâng cao đời sống tinh thần con người là
nhiệm vụ cấp bách của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội: Ông đã
hát cho đồng bào mình nghe bài hát lạc điệu của bản thân họ, chỉ cho họ thấy
những bước đi sai nhịp trên con đường hành quân tiến về tương lai[14.15].
Hai tập Gào thét (1918 - 1922) và Bàng hoàng (1924 - 1926) là hai tập
truyện ngắn tiêu biểu nhất của nhà văn. Hai tập truyện này đã phản ánh những
vấn đề trọng đại của xã hội Trung Quốc trong giai đoạn chuyển mình từ cách
mạng dân chủ cũ sang cách mạng dân chủ mới cụ thể là những năm trước và sau
cách mạng Tân Hợi (1911) đến cao trào cách mạng (1925 -1926). Các tác phẩm
đã tái hiện nỗi đau khổ cùng cực của người nhân dân Trung Quốc một cách sâu
sắc trước khi được sự giác ngộ của giai cấp vô sản, vạch ra tiền đề cách mạng với
một niềm tin tưởng ở tương lai.
Đặc biệt qua những đoản thiên tiểu thuyết này, Lỗ Tấn đã nêu lên một
chân lý: giá trị của một nhà văn không phải ở chỗ đề cập đến những chủ đề trước
mắt hay lâu dài. Vấn đề cơ bản vẫn là sự thống nhất giữa nội dung sâu sắc và
nghệ thuật điêu luyện. Đọc truyện ngắn Lỗ Tấn, chúng ta bắt gặp một tài năng
nghệ thuật độc đáo kết tinh giữa chiều sâu của nhà tư tưởng, nhiệt tình của nhà

học và văn học xuất hiện ở Trung Quốc vào đầu thế kỉ XX để có thể hình thành
một tư tưởng văn nghệ và một phong cách văn chương của riêng mình. Dọc theo
chiều dài của thế kỉ XX đến nay, tư tưởng văn nghệ và phong cách văn chương
ấy của Lỗ Tấn còn in đậm dấu ấn trong hàng loạt tác phẩm và sự nghiệp của các
thế hệ nhà văn Trung Hoa. Do đó, Lỗ Tấn và sáng tác của ông dường như đã trở
thành nam châm thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu, nhà phê bình văn học
trong nước cũng như trên thế giới.


Nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn của Lỗ Tấn là
một vấn đề không mới. Người viết có thể dẫn ra một số công trình nghiên cứu về
vấn đề này:
Lịch sử văn học Trung Quốc (Nguyễn Khắc Phi, Lưu Đức Trung, Trần Lê
Bảo) đã khẳng định tính hàm súc trong khi sử dụng ngôn ngữ của Lỗ Tấn: Ngòi
bút Lỗ Tấn điêu luyện tinh tế, biết thâu tóm những đặc trưng sự vật, lời ít, ý
nhiều, phác họa vài ba nét mà thành bức tranh, một đoạn văn ngắn mà chứa đựng
nhiều ý nghĩa.
Đồng thời, các tác giả cũng đánh giá cao tài năng nghệ thuật của Lỗ Tấn
với đề tài phong phú, xây dựng hình tượng điển hình, tính chất châm biếm và u
mua khá nổi bật, tác phẩm đậm chất trữ tình. Tất cả những điều này luôn đi kèm
với việc: Ông tiếp thu tinh hoa của văn ngôn pha lẫn với bạch thoại, thứ bạch
thoại ông dùng cũng không phải thứ khẩu ngữ chung chung mà là ngôn ngữ nghệ
thuật giàu phong cách độc đáo, vừa dồi dào vừa giản dị, vừa khái quát vừa cụ thể,
ngắn gọn nhưng không giản đơn, sinh động chứ không giả tạo[9.214].
Mặt khác, các tác giả còn nêu lên dụng ý nghệ thuật của Lỗ Tấn khi xây
dựng ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm của mình:
Trong truyện Lỗ Tấn thường lặp đi lặp lại lời nói của nhân vật để xoáy đi
xoáy lại vết thương lòng của họ [9.215].
Trong Lỗ Tấn phân tích tác phẩm của tác giả Lương Duy Thứ nhận định:
Qua đối thoại giữa các nhân vật, qua hành động và ngôn ngữ từng nhân vật dần

nhau: ngôn ngữ đối thoại của nhân vật người trí thức, ngôn ngữ đối thoại của
nhân vật người nông dân, ngôn ngữ người kể chuyện...
Tuy vậy cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu và
làm rõ vấn đề này một cách tách bạch, cụ thể như một phương diện góp phần thể
hiện giá trị nội dung tác phẩm. trong Vì sao tôi viết tiểu thuyết Lỗ Tấn đã từng
nói: yêu cầu để cho tư tưởng một địa bàn rộng, cho ngôn ngữ một địa bàn hẹp
bởi ông nói Tôi tránh lối hành văn dài dòng, chỉ cần cảm thấy truyền được đủ ý
cho người khác thì nhất thiết không thêm bớt gì nữa. Nói như vậy không có
nghĩa là việc tìm hiểu ngôn ngữ của tác phẩm là không quan trọng. Vấn đề Nghệ
thuật xây dựng ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn của Lỗ Tấn có một ý
nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu tác phẩm của nhà văn bởi bên cạnh
một nội dung sâu sắc là một nghệ thuật điêu luyện mà ngôn ngữ nhân vật là một
yếu tố rất cần thiết. Trên cơ sở những nhận định, đánh giá có tính chất mở


đường, thiết nghĩ việc nghiên cứu vấn đề này trong tác phẩm của Lỗ Tấn là một
việc làm hết sức bổ ích và đáng lưu tâm nhất là cho việc giảng dạy tác phẩm của
nhà văn trong trường phổ thông.
3. Mục đích nghiên cứu
Với khoá luận này, mục đích nghiên cứu của người viết là mong muốn
góp một phần nào đó vào việc tìm hiểu khám phá nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ
nhân vật trong truyện ngắn của Lỗ Tấn một cách cụ thể hơn, sâu sắc hơn. Qua
đó, ta thấy được tài năng nghệ thuật của thiên tài văn học Lỗ Tấn đã ghi lại được
những gì xảy ra xung quanh cuộc sống của những con người trong ngôi nhà bằng
sắt không có cửa sổ.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Chọn đề tài Nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn
Lỗ Tấn, nhiệm vụ nghiên cứu là cần làm sáng tỏ tài năng của Lỗ Tấn trong việc
xây ngôn ngữ nhân vật ở các phương diện: ngôn ngữ đối thoại của nhân vật
(người nông dân và người trí thức), nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ nhân vật


10. Một gia đình hạnh phúc

6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu

7. Đóng góp của khóa luận
Với khóa luận này, người viết mong muốn đóng góp một phần nào đó
trong việc tìm hiểu tài năng xây dựng ngôn ngữ nhân vật của nhà văn. Một xã
hội Trung Quốc trước và sau cách mạng Tân Hợi, trước và sau phong trào Ngũ
Tứ (4/5/1919), Lỗ Tấn thấy không biết bao nhiêu là con bệnh thời đại, người
nước và thế nước đều chìm đắm trong u mê oan trái. Bóng tối lễ giáo phong kiến
trùm lên thời bệnh, xã hội nấu nung một áng khổ, buồn, cái môi trường ấy cứ
ngày tấy lên như một nhọt bọc khổng lồ. Ông thầy thuốc Lỗ Tấn đã cầm bút.
Lòng sôi lên yêu dấu nhưng tay lạnh lùng, óc tỉnh táo. Lỗ Tấn giải phẫu nghệ
thuật và phẫu thuật. Với một nghệ thuật điêu luyện, đặc biệt là ngôn ngữ nhân
vật sắc sảo, tinh tế, nhà văn họ Chu đã mổ xẻ, phanh phui mọi thói hư tật xấu của
quảng đại quần chúng nhân dân đang mê muội và bị lợi dụng. Đồng thời, giúp ta
có cái nhìn đầy đủ hơn về xã hội Trung Quốc thời kì Lỗ Tấn và tư tưởng nhân
đạo sâu sắc của thiên tài Lỗ Tấn.
Về mặt thực tiễn, nghiên cứu đề tài này sẽ giúp cho những giáo viên dạy
văn khi giảng dạy văn học nước ngoài nhất là giảng dạy tác phẩm của nhà văn
Lỗ Tấn thuận lợi hơn, đặc biệt khi nhìn nhận tác phẩm của Lỗ Tấn ở một phương
diện nghệ thuật ngôn ngữ nhân vật.
8. Bố cục khóa luận
Cơ cấu của khóa luận gồm:
- Mở đầu
- Nội dung

Còn trong giáo trình Lý luận văn học, Nxb Giáo Dục, 1993 (Hà Minh Đức
chủ biên) viết: nhân vật văn học là một hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ.
Đó không phải là sự sao chép đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ
là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp,


tính cách thực ra, khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi
rộng lớn hơn nhiều. Đó không chỉ là con người, những con người có tên hoặc
không tên, được khắc họa sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm
mà còn là sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách con người
Cũng có khi không phải là những con người, sự vật cụ thể mà chỉ là một hiện
tượng về con người hoặc liên quan đến con người được thể hiện trong tác phẩm.
Trong Từ điển thuật ngữ văn học Nxb Giáo dục, 2006, Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) đã định nghĩa: nhân vật văn học là
con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học. Nhân vật văn học có thể
có tên riêng (Tấm, Cám, chị Dậu) cũng có thể không có tên riêng như: thằng
bán tơ, một mụ nào trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Khái niệm nhân vật
văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào
cả mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm. Nhân vật văn học là
một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có
thật trong đời sống. Nó có chức năng cơ bản là khái quát tính cách của con
người. Đồng thời, nhân vật văn học còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý
tưởng thẩm mỹ của nhà văn về con người. Và từ những góc độ khác nhau có thể
chia nhân vật thành nhiều kiểu loại khác nhau: nhân vật chính - phụ, nhân vật
chính diện - phản diện, nhân vật tính cách - chức năng
Dù cách này hay cách khác, khi định nghĩa nhân vật văn học vẫn cơ bản
gặp nhau ở chỗ: nhân vật văn học là đối tượng mà văn học miêu tả, thể hiện bằng
những phương tiện văn học. Thứ hai là những con người, những đồ vật, con vật,
sự vật hiện tượng mang linh hồn con người, là hình ảnh của con người. Thứ ba:
nhân vật văn học là đối tượng mang tính ước lệ và có cách điệu so với đời sống

Ngôn ngữ nhân vật văn học là lời nói của nhân vật trong các tác phẩm
thuộc loại hình tự sự và kịch. Ngôn ngữ nhân vật là một trong các phương tiện
quan trọng được nhà văn sử dụng nhằm thể hiện cuộc sống và cá tính nhân vật.
Mỗi nhân vật có một ngôn ngữ mang đặc điểm riêng, có lời ăn tiếng nói riêng.
Mặt khác, ngôn ngữ ấy lại phản ánh được đặc điểm ngôn ngữ của một tầng lớp,
lớp người nhất định gần gũi về nghề nghiệp, tâm lý, giai cấp, trình độ văn hóa
Ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học. Vì vậy, văn học
được gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ. M.Gorơki cũng đã khẳng định: Ngôn
ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học.


Xét về mặt nào đó, nhà văn là nghệ sĩ của từ. Sứ mệnh cao cả của nhà văn
đối với ngôn ngữ là ở chỗ qua những tác phẩm mẫu mực của mình, một mặt bảo
vệ sự trong sáng, mặt khác phải làm giàu có, phong phú hơn tiếng mẹ đẻ. Nhà
văn phải nắm chắc đến mức am tường các phương diện ngữ pháp, ngữ âm, ngữ
nghĩa chính tả, phải làm chủ kho từ vựng cơ bản, đồng thời biết cách khai thác và
vận dụng đúng lúc, đúng chỗ những nguồn ngôn ngữ đặc biệt: tiếng địa phương,
tiếng lóng, tiếng nước ngoài, khẩu ngữ và những từ mới xuất hiện. Bên cạnh đó,
người nghệ sĩ phải triệt để khai thác các phương thức chuyển nghĩa, các biện
pháp tu từ, biết cách dùng từ cũ với nhiều nghĩa mới. Từ đó, tài năng nghệ thuật,
cá tính sáng tạo và phong cách của người nghệ sĩ được bộc lộ rõ nét.
Đặc biệt, tùy theo các thể loại văn học khác nhau mà ngôn ngữ của nhân
vật văn học lại có những đặc điểm và biểu hiện khác nhau:
1.1.2.1. Ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm kịch
Tác phẩm kịch sử dụng ngôn ngữ các nhân vật được cấu trúc qua hệ thống
đối thoại và độc thoại trong đó đối thoại là chủ yếu. Nó gần gũi với tiếng nói
thông thường của nhân dân, không mang tính cách điệu. Bên cạnh đó, ngôn ngữ
kịch còn gắn liền với cử chỉ, động tác của nhân vật thể hiện rõ cá tính, tính cách
của nhân vật.
1.1.2.2. Ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm trữ tình

dụng ngôn ngữ nhân vật rất sinh động và tinh tế. Bằng ngôn ngữ, Lỗ Tấn đã cho
bạn đọc thấy được thành phần xã hội, dấu hiệu chủng loại, lớp người của các
nhân vật trong tác phẩm: giai cấp nông dân hay tầng lớp trí thức. Mỗi nhân vật
lại có một ngôn ngữ riêng. Điều này được quy định trong mối quan hệ với hoàn
cảnh lịch sử xã hội Trung Quốc.
Ví như Cố hương là một truyện ngắn trữ tình của Lỗ Tấn. Nhân vật trung
tâm trong thiên truyện ngắn là Nhuận Thổ. Nhuận Thổ là một nông dân, được
nhà văn miêu tả trong hai thời điểm quá khứ và hiện tại. Qua ngôn ngữ của nhân
vật Nhuận Thổ đối thoại với nhân vật tôi cho ta thấy sự thay đổi của cậu bé
Nhuận Thổ trong quá khứ - hồn nhiên, thơ ngây, trong sáng và Nhuận Thổ hiện
tại - một nông dân tàn tạ về thể xác, tha hóa về tinh thần. Bên cạnh đó, tác giả
còn xây dựng nhân vật thím Hai Dương qua ngôn ngữ và hành động thể hiện rõ
sự tham lam vụ lợi đã góp phần làm nổi bật thêm nhân vật trung tâm là Nhuận
Thổ. Lỗ Tấn đã lý giải sự tha hóa của nhân vật là do xã hội. Dưới chế độ xã hội


cũ ở Trung Quốc thì sự tha hóa của Nhuận Thổ, của con người không phải là cá
biệt mà là phổ biến.
Tóm lại, nhân vật là linh hồn của tác phẩm, là yếu tố thể hiện tư tưởng chủ
đề của tác phẩm. Trong đó, tìm hiểu ngôn ngữ nhân vật là một phương tiện hữu
ích, quan trọng cho phép ta hiểu rõ hơn về nhân vật trong tác phẩm.
Khi sáng tác, Lỗ Tấn luôn đưa vào tác phẩm của mình những con người
bình thường trong xã hội đó là: thím Tường Lâm, chị Tư Thiền, AQ, Nhuận Thổ,
Khổng ất Kỉ, cô ái với mục đích lôi hết bệnh tật của họ ra để chạy chữa. Họ
là người nông dân, người trí thức có cuộc sống cực khổ, và số phận đau thương.
Ngôn ngữ của họ được Lỗ Tấn xây dựng rất thành công không chỉ thể hiện được
tính cách mà còn thể hiện nội tâm, tâm hồn của nhân vật.
Ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn của Lỗ Tấn được biểu hiện ở: ngôn
ngữ đối thoại của nhân vật và ngôn ngữ người kể chuyện.
1.2. Nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ đối thoại của nhân vật trong truyện

từng thổ lộ: Tôi mổ xẻ người khác nhưng phần nhiều là mổ xẻ chính mình.
Vậy nên chủ đề nổi bật trong những tác phẩm của Lỗ Tấn: căn bệnh tinh thần
cản trở con đường giải phóng dân tộc mà ông gọi là bệnh căn tính quốc dân. Để
làm nổi bật chủ đề đó, Lỗ Tấn đã tìm cho mình một lối văn hết sức cô đọng,
tránh dài dòng lôi thôi, không tả gió trăng, đối thoại quyết không kéo dài đó là
thể loại truyện ngắn.
Tuy nhiên, một cây đại thụ tỏa bóng gần như cả thế kỷ thì thông thường
cũng rất đa sắc, đa diện, đa hương. Tìm hiểu ngôn ngữ nhân vật chính là một
phương tiện để hiểu rõ hơn sự đa sắc, đa diện, đa hương đó của nhà văn.
Ngôn ngữ đối thoại của nhân vật trong truyện ngắn Lỗ Tấn xuất hiện rất ít
cho ta thấy truyện ngắn của Lỗ Tấn có rất ít nhân vật, ngoài nhân vật chính chỉ
có một vài nhân vật phụ khác. Ta có thể thống kê:


Tỉ lệ lời thoại
Tổng số lời
Tên truyện

thoại trong

Nhân vật

truyện

Số lời thoại

của nhân vật

của nhân



14

23%

Ngày mai

17

ThímTường
Lâm
Chị Tư Thiền

5

29,4%

Li hôn

56

Cô ái

12

25%

18

Tử Quân


Lão Hoa Thuyên

5

10%

Tiếc thương những
ngày đã mất
Khổng ất Kỷ
Nhật ký người điên
Một gia đình hạnh
phúc
Thuốc

Điều này được lý giải là do đặc điểm trong phong cách nghệ thuật của Lỗ
Tấn. Nhà văn rất tiết kiệm, ông chọn lọc trong mô tả ngoại cảnh và đối thoại
nhân vật. Bởi ông tin rằng phương pháp đó rất thích hợp với tôi nên tôi không đi
mô tả trăng gió, đối thoại cũng không viết hàng tràng dài. (Vì sao tôi viết tiểu
thuyết).
Ngôn ngữ nhân vật hay chính xác là ngôn ngữ đối thoại của nhân vật trong
truyện ngắn của Lỗ Tấn ngắn gọn mà hàm súc, chứa đựng nhiều ý nghĩa. Và
ngôn ngữ của các nhân vật gắn liền với thành phần xã hội.


1.2.1. Nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ đối thoại của nhân vật người nông
dân
Trung Quốc là một nước có nền văn hóa lâu đời, tồn tại và phát triển hơn
4000 năm. Nông dân là tầng lớp chiếm số lượng đông và lại xuất hiện sớm nhất.
Trong sáng tác của mình, Lỗ Tấn - nhà hiện thực xuất sắc của văn học Trung

thoại của nhân vật Nhuận Thổ có sự khác biệt. Trong quá khứ, ba mươi năm về
trước Nhuận Thổ là một chú bé lên mười được bố gửi đến cùng giúp việc cho nhà
nhân vật tôi khuôn mặt tròn trĩnh, nước da bánh mật, đầu đội mũ lông chiên
bé tí tẹo, cổ đeo vòng bạc sáng loáng. Nhuận Thổ gọi nhân vật tôi là anh, tự
xưng là em rất thân mật không hề có sự cách bậc mà sống chan hoà với nhau.
Nhuận Thổ khoe với nhân vật tôi những đặc sản của mình: có nhiều vỏ sò và
lông chim rất đẹp, khoe trò bẫy chim và những đêm đi canh dưa dưới ánh trăng:
- Đến mùa hè, anh xuống nhà em chơi. Ban ngày, chúng mình ra biển
nhặt vỏ sò, màu đỏ có, màu xanh có, đủ cả. Có cả sò mặt trăng, sò tay phật.
Tối đến, em với thầy em đi canh dưa thì anh cũng đi [4.104].
- ở làng em, người ta đi qua đường khát nước hái một quả dưa ăn, không
kể là lấy trộm. Canh là canh lợn rừng, nhím, tra. Này nhé! Sáng trăng. Có tiếng
sột soạt. Tra đang ngốn dưa đấy. Thế là cầm đinh ba khe khẽ tiến đến
[4.104].
Ngôn ngữ của chú bé Nhuận Thổ thể hiện đầy đủ sự ngây thơ trong trắng
hồn nhiên của chú như chứng minh cho sự trong trắng, thuỷ chung trong tâm hồn
của Nhuận Thổ. Khi xa nhân vật tôi, Nhuận Thổ còn khóc mà không chịu về,
rất lưu luyến, bịn rịn gắn bó với nhân vật tôi càng thể hiện điều đó.
Đó là Nhuận Thổ của ba mươi năm về trước. Nhuận Thổ trong hiện tại lại
hoàn toàn khác. Tác giả đã sử dụng ngôn ngữ miêu tả ngoại hình. Nhuận Thổ
cao gấp hai lần trước, nước da vàng sạm, trên khuôn mặt đã có nhiều nếp nhăn
sâu hoắm, dáng co ro cúm rúm đầu đội một chiếc mũ lông chim rách bươm, da
bàn tay nứt nẻ như vỏ cây thông. Ngoại hình tiều tuỳ và tàn tạ, Nhuận Thổ gặp
lại nhân vật tôi đã chào rất rành mạch, cung kính:
- Bẩm ông!
Tiếng chào này thể hiện sự cách bậc. Nó đã đẩy hai người ra hai bờ của
đại dương xa thẳm. Nhuận Thổ còn bắt đứa con mình chào nhân vật tôi và
thanh minh:
- Thuỷ Sinh. Con không lạy ông đi kìa!


đôi bít tất của mẹ tôi giắt vào lưng quần, cút thẳng.


Qua lời đối thoại giữa nhân vật tôi và mẹ nhân vật tôi nhân vật thím
Hai Dương còn rất vụ lợi:
- Cái thím Hai Dương, nàng Tây Thi đậu phụ ấy mà! Từ khi nhà ta bắt
đầu sửa soạn hành lí, chẳng ngày nào là chị ta không đến [4.111]
Tóm lại, với nhân vật Nhuận Thổ, thím Hai Dương nhà văn đã khái quát
được dưới chế độ xã hội cũ Trung Quốc thì sự tha hoá của Nhuận Thổ không
phải là cá biệt mà rất phổ biến. Nhân vật thím Hai Dương đã góp phần làm nổi
bật thêm nhân vật trung tâm - Nhuận Thổ. Bao gánh nặng, lo toan của xã hội, gia
đình đè nặng trên vai anh khiến Nhuận Thổ sống một cách thực dụng và khô
cứng. Ngôn ngữ Nhuận Thổ nói chứa đựng những nỗi cực khổ của cuộc sống. Nó
không còn chỗ cho những ước mơ cao xa, tâm hồn anh trở nên chai lì, tha hoá.
Số phận của Nhuận Thổ đã chỉ ra mối quan hệ phức tạp ở nông thôn và sự tha
hoá của người nông dân trong xã hội cũ, đặc biệt qua lời nói của hai nhân vật ta
càng thấy rõ hơn điều đó. Liệu rằng sống trong xã hội ấy, tình cảm giữa người
với người có dần bị mất đi? Người ta phải làm gì để giữ cho tình bạn của mình
luôn được trong sáng và tốt đẹp?
AQ chính truyện là một truyện vừa, viết rất cô đúc, đề cập đến nhiều vấn
đề lớn của xã hội Trung Quốc và cách mạng Trung Quốc thời cận đại. Nhân vật
chính AQ là một nhân vật sống động cụ thể, đã bước ra khỏi tác phẩm và đi vào
đời sống. Tác giả đã xây dựng nhân vật bằng ngôn từ đối thoại hấp dẫn. AQ được
sinh ra từ một người mẹ khốn khổ nào đó nhưng vì hoàn cảnh đặc biệt mà phải
bỏ con. AQ không biết mình là ai, quê quán, tên, họ đều mập mờ. Nhưng khi cãi
lộn với ai, có lúc hắn đã trừng mắt lên mà tuyên bố:
- Nhà tao xưa kia có bề có thế bằng mấy nhà mày kia! Thứ mày thấm vào
đâu [4.119]
Trong mọi chuyện, AQ luôn cho mình đúng, hắn có tính tự cao. Cả bấy
nhiêu mặt trong dân làng Mùi, y tuyệt nhiên không đếm xỉa đến ai cả, y xem

lúc thì rất mực phong kiến, nhưng lại rất phóng túng (trêu ghẹo vú Ngò, cô Tiểu
ngay giữa ban ngày), rất bảo thủ, lạc hậu (lên huyện thấy cái gì cũng trái mắt)
nhưng cũng rất tân thời (biết những chuyện cả làng Mùi không biết), rất tự ti
(nhận làm con sâu trước cu Đồng) lại rất tự kiêu, rất mê muội mà cũng rất nhạy
bén (đầu hàng Đảng cách mạng mới được). Ngôn ngữ đối thoại của nhân vật
cũng đã thể hiện hiện thực của người nông dân Trung Quốc: mê muội, lạc hậu,


bảo thủ. Vậy nên, nhà văn ấn Độ Panachi đã đánh giá rất cao về tác phẩm AQ
chính truyện trong lễ kỉ niệm 20 năm ngày mất của Lỗ Tấn ở Bắc Kinh: AQ, cái
tên chỉ là Trung Quốc thôi, nhưng tính cách, tâm lí của AQ, sự lừa dối mình, lừa
người để quên đi những đau khổ của mình, việc dùng phương pháp thắng lợi tinh
thần để tự an ủi mình những lúc thất bại đều là tính cách chung của nhân dân các
nước đã trải qua cuộc đời nô lệ. Nhân vật này ở ấn Độ chúng tôi cũng đã từng
thấy.
Trong xã hội Trung Quốc rối ren, đầy rẫy những bất công, những người
phụ nữ nông dân ít được thể hiện tâm tư tình cảm, suy nghĩ của mình. Người đời
không nghe tiếng nói của họ. Họ sinh ra là để nghe, để thực hiện chứ không phải
là để nói. Trong truyện ngắn của Lỗ Tấn, người phụ nữ cũng nói rất ít nhưng nội
dung câu nói là cả một hiện thực đầy chua chát, xót xa.
Thím Tường Lâm trong Lễ cầu phúc là một người phụ nữ có cuộc đời bất
hạnh, con chết, chồng chết, thím phải đi ở. Cuộc sống của Tường Lâm là một
chuỗi dài những ngày lăn lóc, đau đớn dưới áp lực tàn khốc của lễ giáo và thần
quyền phong kiến. Chính quyền, tộc quyền, nam quyền và thần quyền đã trở
thành bốn sợi dây thòng lọng thắt cổ thím, gây nên nỗi bất hạnh triền miên trong
cuộc đời thím và sự tự ti, sợ hãi trong tính cách của thím. Thím luôn nhẫn nhịn
chịu đựng. Mỗi lần gặp ai thím Tường Lâm cũng lặp lại một câu nói thường trực
trên miệng:
- Tôi thật ngu đần quá
- Tôi thật khờ, khờ quá

yếu là nam quyền phong kiến. Cô không chịu để cho chồng mình đi theo một
người đàn bà khác. Cô nói:
- Gạt tôi ra là không được Tôi phải làm cho nhà chúng nó vong gia bại
sản đi mới chịu [4.361]
- Cháu về làm dâu nhà hắn có cưới xin hẳn hoi, kiệu hoa rước đến, chứ có
phải Đã dễ mà rẫy ra được? Cháu nhất định làm cho chúng nó biết tay, dù có
phải đến cửa quan, cháu cũng cứ đến, huyện không xong thì lên phủ [4.366].
Ngôn ngữ của cô ái mạnh mẽ thể hiện sự phản kháng của cô với lễ giáo
phong kiến mà ít những người phụ nữ nào có thể nói ra được. Cô đã nói ra suy
nghĩ của chính bản thân, trong lời nói chứa đựng sự tức giận, bất bình. Chế độ
phong kiến đã bất công tàn nhẫn với người phụ nữ. Nhưng rốt cuộc sự phản
kháng ấy của cô ái đã thất bại vì cô nuôi ảo tưởng đối với pháp luật phong kiến


và những kẻ đại diện cho nó. Thằng chó già, Chó đểu - cô ái đã gọi bố
chồng và chồng như thế. Bọn chúng đã đút lót quan trên khiến vụ kiện của cô ái
không thành công. Thất bại này bắt nguồn từ con mắt thiển cận của những người
sản xuất nhỏ. Sự đấu tranh của cô ái còn quá mới mẻ, chưa được thời đại chấp
nhận bởi giai cấp thống trị còn mạnh, chế độ nam quyền còn tồn tại. Hạnh phúc
gia đình tùy thuộc vào người cha, người chồng thì cô ái làm sao có thể một mình
thay đổi được cả cái lịch sử có bề dày 4000 năm của Trung Quốc. Cô ái đã trở
thành nạn nhân của chính thời đại mà cô đang sống.
Qua Nhuận Thổ, AQ, thím Tường Lâm người đọc thấy được số phận
của những người nông dân trong xã hội phong kiến. Lỗ Tấn đã bỏ nhiều công
sức quan sát, phân tích nông dân - chủ lực quân cách mạng dân tộc dân chủ
Trung Quốc nhất là việc xây dựng ngôn ngữ đối thoại của họ. Người nông dân ít
bộc lộ tâm tư, tình cảm của mình. Nhưng qua những lời nói ít ỏi của họ ta thấy
được phần nào cuộc sống khổ cực của người nông dân. Tuy có lúc họ cũng nói ra
những lời thể hiện sự đấu tranh, sự phản kháng nhưng hủ tục quá khứ và hiện tại
còn đủ mạnh để đè bẹp mọi khát vọng, ước mơ và tương lai của họ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status