Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật trên sân khấu Chèo truyền thống - Pdf 28

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của công trình
Nghệ thuật Chèo đã hiện hữu trong đời sống tinh thần của dân tộc
Việt Nam không phải một, hai thế hệ mà là lớp lớp thế hệ; không phải một hai
thế kỷ mà nhiều thế kỷ; không phải một hai nơi mà khắp cả vùng đồng bằng
châu thổ sông Hồng. Nó là kết tinh những vẻ đẹp tâm hồn của người lao động, là
thành quả của trí tuệ dân gian, là công trình sáng tạo nghệ thuật thẩm mỹ, là
khát vọng về tự do, công bằng và lý tưởng nhân văn hướng tới chân - thiện -
mỹ.
Từ thập kỷ văn hóa những năm 80 của thế kỷ XX, người ta thường
nhắc đến văn hóa như là một động lực để phát triển xã hội và đòi hỏi ở tất cả
các lĩnh vực của đời sống của hoạt động con người một chất lượng, một trình
độ văn hóa hay nói đúng hơn là trên mọi lĩnh vực đều cần có một sự đòi hỏi
được văn hóa hóa.
Hơn một nửa thế kỷ qua, ngành Chèo đã có nhiều công trình nghiên
cứu về nghệ thuật Chèo một cách sâu sắc. Tuy nhiên việc nghiên cứu Chèo
chủ yếu vẫn dừng lại xung quanh những vấn đề của nghệ thuật Chèo (tìm
hiểu, khảo sát Chèo với tư cách là một nghệ thuật...) cũng có một vài nhà
nghiên cứu mở rộng phạm vi tìm hiểu của mình theo xu thế của thập kỷ văn
hóa, chẳng hạn nghiên cứu Chèo dưới góc nhìn triết học, đạo đức học nhưng
mới chỉ là tiểu luận lẻ tẻ mà chưa có một chuyên luận tìm hiểu Chèo dưới góc
nhìn văn hóa. Lý do của hiện tượng này có thể là giới nghiên cứu đã mặc
nhiên coi Chèo là một loại hình văn hóa (nghệ thuật), một lý do khác rất ngẫu
nhiên là các nhà nghiên cứu chưa hoặc là không quan tâm đến vấn đề này, và
điều đó đã tạo nên một khoảng trống khiến cho chúng tôi là người nghiên cứu
đi sau bước đầu mạnh dạn đi vào tìm hiểu. Bởi vì, khi nói đến những vấn đề
mà người đi trước đã nói thì rất khó mà tìm kiếm phát hiện ra những điểm
1
mới. Và trong quá trình nghiên cứu về Chèo đặc biệt là những vở Chèo hiện
đại, chúng tôi thấy là có một số vở diễn cần phải xem xét và bàn bạc trên khía
cạnh văn hóa, đúng hơn là trên những yếu tố văn hóa phi nghệ thuật như triết

một sân khấu dân tộc mang màu sắc đa dạng của từng chiếng Chèo khác
nhau: Chèo Đông, Chèo Đoài, Chèo Kinh Bắc, Chèo Sơn Nam..."
(1)
.
Hoặc trong một loạt những chuyên luận nghiên cứu với chủ đề "Đi tìm
bản sắc dân tộc trong Chèo từ góc nhìn văn hóa", nghiên cứu về Thi pháp
Chèo dưới sức ép thẩm mỹ của ý đồ giáo huấn đạo đức, PGS Tất Thắng cũng
có những đóng góp đáng kể trong việc chỉ ra những bản sắc dân tộc trong
việc xây dựng các nhân vật nữ, trong ngôn ngữ Chèo, trong các yếu tố Trò,
hoặc cụ thể hơn là trong một vai diễn Thị Mầu, một vai diễn Súy Vân... Hiện
tượng Chèo chú trọng xây dựng các hình tượng nhân vật phụ nữ với quá trình:
tại gia - xuất gia - xa phu... được PGS phân tích tìm hiểu từ ngọn nguồn: ý đồ
giáo huấn đạo đức cùng với sức ép thẩm mỹ của nó.
2.3. Ở lĩnh vực nghiên cứu các tác phẩm văn chương, từ việc đặt vấn
đề nghiên cứu với tính cách là một (những) sản phẩm tinh thần đa trị, đa chiều,
đa tầng nghĩa... nhiều nhà nghiên cứu đã không còn thỏa mãn với việc khảo
sát tác phẩm bằng các tri thức của lý luận văn học mà cố gắng mở rộng môi
trường nghiên cứu thông qua thao tác vận dụng những lý thuyết có khả năng
hỗ trợ việc giải mã tác phẩm văn chương, sao cho có thể khám phá tác phẩm
ngày càng sâu sắc hơn, bản chất hơn như việc sử dụng thi pháp học, phân tâm
học, cấu trúc học... chẳng hạn. Gần đây, tại hội thảo quốc tế với chủ đề Văn
học Việt Nam trong bối cảnh giáo lưu văn hóa khu vực và quốc tế do Viện Văn
học (Việt Nam) phối hợp với Harvad Senching Institute (Hoa Kỳ), PGS.TS
Đỗ Lai Thúy trong bản tham luận "Mối quan hệ văn hóa - văn học nhìn từ lý
thuyết hệ thống" đã đề xuất ý tưởng nghiên cứu văn chương từ quan hệ giữa
văn hóa với văn học; còn TS. Nguyễn Hòa thì cho rằng nên tiếp cận văn hóa
và văn chương từ quan hệ giữa "cái chung" và "cái riêng", theo ông thì đây
(
1) Trần Bảng (1993), Chèo - Một hiện tượng sân khấu dân tộc, Nxb Sân khấu, H Nà ội, tr. 6.
3

thuật, số 10/2006, tr. 10.
(
2) M. Kagan, Tiếp cận văn hóa để nghiên cứu nghệ thuật sân khấu, Tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật, số 3/1983,
tr. 95
4
5. Phương pháp nghiên cứu
Công trình chọn lựa việc hệ thống hóa, so sánh, đối chiếu...đi từ diện
đến điểm làm phương pháp nghiên cứu chủ yếu.
Nhưng trên cơ sở thực tiễn của nghệ thuật Chèo truyền thống, một
nghệ thuật từ xa xưa, vốn là hình thức sân khấu được sáng tạo theo chu trình
mở: thế hệ này nối tiếp thế hệ kia và bổ sung, hoàn chỉnh để rồi lại làm cơ sở
cho thế hệ tiếp theo sáng tạo... nên trong quá trình triển khai thực hiện, công
trình sẽ phải kết hợp cả phương pháp nghiên cứu tiếp cận liên ngành (triết
học, mỹ học, lịch sử, dân tộc học, xã hội học...).
6. Mục đích và đóng góp của công trình
Từ góc nhìn văn hóa, công trình đi tìm hiểu một số phương diện cần
thiết của nhân vật Chèo, qua đó để thấy được bản sắc văn hóa tiềm ẩn trong
nhân vật Chèo. Có thể nhận thấy rằng, ngày nay, việc tìm kiếm, phát hiện các
công cụ lý thuyết mới, xác lập những góc độ tiếp cận mới đối với nghệ thuật
sân khấu nói chung và đối với nghệ thuật Chèo nói riêng không phải là ý
muốn chủ quan của những người làm lý luận, nghiên cứu, đó là đòi hỏi tự
thân, là sự đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong sự khám phá các tác phẩm
cũng như từng loại hình nghệ thuật. Đây thực sự là một vấn đề nghiên cứu
vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn. Tiếp cận từ góc nhìn văn
hóa, ta có thể thấy rõ những nét đặc thù của Chèo không phải là những ngẫu
nhiên tùy hứng, mà chính là những đặc thù cơ bản, khoa học, đảm bảo cho
nghệ thuật Chèo tồn tại và phát triển. Vấn đề nghiên cứu rất hay nhưng khó,
người viết không hy vọng trong phạm vi một công trình nghiên cứu có thể
giải quyết được vấn đề ấy. Toàn bộ nội dung cơ bản của công trình mới chỉ
bước đầu khám phá và cắt nghĩa thế giới văn hóa tinh thần kết tinh trong các

nước. Khái niệm văn hóa hiểu theo nghĩa nhân văn rất rộng. Nguyên tổng
giám đốc UNESCO, ông Mayo (F.Mayor), đưa ra một khái niệm văn hóa vừa
mang tính khái quát vừa có tính đặc thù: "Văn hóa bao gồm tất cả những gì
làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại
nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động". Khái niệm
này được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các
chính sách văn hóa tại Vơnidơ 1970"
(1)
.
Như thế, văn hóa chính là cốt lõi sáng tạo của trí tuệ và tâm hồn của
mỗi dân tộc, là tính năng động đầy sáng tạo được truyền từ thế hệ này sang
thế hệ khác, nó thâu tóm, xác định bản thể và sự tiến triển của một dân tộc đã
được xác định. Văn hóa của mỗi một dân tộc đều có một bản sắc riêng, bản
sắc văn hóa là căn cước của mỗi dân tộc giữa cộng đồng quốc tế, cái "căn
cước" được xác nhận bởi cách suy nghĩ, cách cảm nhận của mỗi dân tộc, bởi
(
1) Từ điển Bách Khoa Việt Nam, tập 4, Nxb Từ điển Bách khoa, H Nà ội, tr. 789.
7
sự tiến triển của tâm hồn mỗi dân tộc trước thiên nhiên, trước nhân loại và
cuối cùng bởi cảm quan của mỗi dân tộc về thế giới, cảm quan đó quyết định
mọi ứng xử của mỗi dân tộc. Tất cả các nền văn hóa, Việt Nam cũng như
Trung Quốc hay Pháp, Mỹ, Cuba… đều cho thấy một tổng thể các giá trị duy
nhất và không thể thay thế được, bởi vì chính là nhờ vào văn hóa mà mà mỗi
dân tộc có thể biểu lộ một cách trọn vẹn nhất sự hiện diện của mình trên thế
giới. Từ đây có thể phát hiện ra tính cách dân tộc, khám phá những đặc điểm
về tâm lý, tình cảm, tâm thức dân tộc. Vấn đề bản lĩnh, bản sắc mà chúng ta
thường nhắc trong quá trình phát triển và hội nhập của mỗi quốc gia không
phải là vấn đề gì khác, xa lạ với vấn đề nhận thức đầy đủ các giá trị văn hóa
của mỗi dân tộc.
1.2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM

còn là sự thích nghi và biến đổi thiên nhiên. Thiên nhiên đặt trước con người
những thử thách, những thách đố. Văn hóa là sản phẩm của con người, là
phản ứng, là sự trả lời của con người trước những thách đố của tự nhiên. Văn
hóa Việt cổ truyền vừa là sự hòa điệu, vừa là sự đấu tranh với thiên nhiên.
Bên cạnh đó, người Việt luôn có ý thức đối kháng bất khuất và thường
trực trước nguy cơ xâm lược từ phía phong kiến Trung Quốc. Các cuộc khởi
nghĩa ngoan cường liên tiếp xảy ra: Hai Bà Trưng, Triệu Thị Trinh, Lý Bôn,
Triệu Quang Phục, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng... và đỉnh cao là cuộc khởi
nghĩa thắng lợi của Ngô Quyền (năm 938).
Từ những thành tựu rực rỡ của nền văn hóa Đông Sơn, rồi đến nền
văn hóa Đại Việt (thế kỷ VI, VII trước công nguyên đến một vài thế kỷ sau
công nguyên), đến nền văn hóa Lý - Trần (thế kỷ XV)... đã thể hiện một
trình độ văn minh khá cao, một bản sắc dân tộc độc đáo từ thời người Việt
cổ... Có thể nói, chính những nền văn hóa này đã hun đúc cho người Việt
9
một ý chí, một bản lĩnh vững vàng để sẵn sàng đương đầu và chiến thắng với
bất kỳ một kẻ thù xâm lược nào. Trải qua một ngàn năm phong kiến Bắc
thuộc, 80 năm thực dân Pháp đô hộ, rồi đến 30 năm chiến tranh xâm lược
của đế quốc Pháp, Mỹ, người Việt đã chiến đấu hết mình với một khát vọng
độc lập dân chủ, kiên cường:
"Như nước Đại việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu"
Tư tưởng độc lập dân chủ như sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dân tộc
Việt 4.000 năm đã thấm sâu vào mọi hoạt động của người dân Việt.
Thế giới văn hóa người Việt là thế giới của những gì xuất phát từ cuộc
sống thực để vươn lên cái cao cả, cái chí thượng; song cũng chỉ là để trở về
với đời sống thực tế vốn cần được cao đẹp hơn, nhân văn hơn. Khát vọng độc
lập dân tộc còn chi phối trong cả quan điểm tư tưởng của người Việt.
Phương thức tồn tại là lấy thực tiễn dân tộc làm cốt lõi, nền tảng
Từ góc độ tư tưởng, phương thức tồn tại và các biểu hiện văn hóa (kể

nhất cách thức của người Việt - với truyền thống của nền văn hóa Đông Sơn,
đã tiếp thu hai nền văn hóa lớn của châu Á như thế nào. Đạo Phật ở Giao
Châu lúc bấy giờ vừa có dáng dấp của đạo Hoàng Lão vừa mang đậm dấu ấn
của tín ngưỡng thờ thần linh của người Việt xưa. "Phật được quan tâm như
một vị thần linh có nhiều phép lạ, có thể biến hóa thành các hiện tượng thiên
nhiên quanh con người, thành các vật thần, thánh, các vật linh thiêng mang
phúc trừ họa như hòn đá và tượng Tứ pháp trong "truyện Man Nương", hay là
cái gậy, cái nón trong chuyện Chử Đồng Tử"
(2)
.
Phật giáo ở Việt Nam kết hợp chặt chẽ việc đạo với đời. Vốn là một tôn
giáo xuất thế, nhưng vào Việt Nam, Phật giáo trở nên nhập thế (sự gắn bó đạo -
đời không chỉ thể hiện ở các nhà sự tham gia chính sự mà còn ở chỗ có quá
(
1) Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H Nà ội, tr. 28.
(
2) Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Sđd, tr. 40.
11
nhiều vua quan quý tộc đi tu. Đến đầu thế kỷ XX, Phật tử Việt Nam còn hăng
hái tham gia các hoạt động xã hội - vận động đòi ân xá Phan Bội Châu và tổ
chức đám tang Phan Chu Trinh. Trong phong trào đấu tranh đòi hòa bình và độc
lập dân tộc, các Phật tử xuống đường phản đối nền độc tài Ngô Đình Diệm,
đỉnh cao là sự kiện hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vào mùa hè 1963).
Có thể nói, sự chi phối mạnh mẽ của tính dung hợp truyền thống đã
khiến cho hầu hết các tôn giáo vào Việt Nam đều tìm được chỗ đứng thích
đáng của mình. Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo vào Việt Nam và tạo thành
"Tam giáo". Tam giáo đồng nguyên (ba tôn giáo cùng phát nguyên từ một
gốc), Tam giáo đồng quy (ba tôn giáo cùng quy về một mục đích). Sự dung
hòa tam giáo là một thực thể hình thành một cách tự nhiên trong tình cảm và
việc làm của người dân, và đến thời Lý - Trần thì triều đình công nhận rộng

múa Rối nước độc đáo của mình.
Nét hoa tay với những ngón đuổi nhau, cuộn vào và mở ra như cánh
hoa khép mở cùng với sự chuyển động uyển chuyển, mềm mại của đôi cánh
tay trong múa Chèo phải chăng là sự biến dạng tài tình và độc đáo của đôi
cánh tay và bàn tay trong múa Ấn Độ. Nhưng khác với múa Campuchia và
múa Chăm, hoa tay của Việt Nam đã thoát ra khỏi tính quy ước nghiêm ngặt
của múa cổ điển Ấn Độ trở nên thanh thoát, tự do. GS. Trần Bảng đã kể lại
rằng trong chuyến đi lưu diễn của Đoàn nghệ thuật Chèo sang Trung Quốc
năm 1960 mà ông làm Trưởng đoàn, báo chí đã nhanh chóng nhận ra tính độc
đáo của múa Chèo Việt Nam. Vương Văn Quyên, nghệ sĩ ưu tú của Đoàn
kinh kịch Thượng Hải đã gọi là đôi tay biết nói vì chúng có khả năng biểu
hiện không những tính cách nhân vật mà còn đủ các dạng khác nhau như
trong các nhân vật Súy Vân, Thị Mầu...
1.2.2. Khát vọng dân chủ, tinh thần nhân văn - nét nổi trội của
văn hóa Việt
(
1) Nguyễn Đăng Thục, Thiền học Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1997, tr. 137.
13
Nền văn hóa Đại Việt ngay từ thuở ban đầu đã tỏ ra phong phú và có
một bản sắc ổn định. Phật giáo đã phát triển thành quốc giáo có những nét đặc
sắc, đại diện sau này có giáo phái Trúc Lâm.
Nhà lý về Thăng Long, nơi thật sự là "địa linh nhân kiệt", mở đầu sự
nghiệp xây dựng đất nước bằng chính sách dân tộc và dân chủ. Nêu cao ý
thức "tự chủ tự cường", các vua Lý chủ trương: "Quốc gia trị có pháp độ,
không cần mô phỏng Đường, Tống", khuyến khích trồng dâu, nuôi tằm để tự
cung cấp vải lụa, gấm vóc. Xuất phát từ tinh thần bình đẳng, bác ái của đạo
Phật, các vua Lý – Trần theo chính sách thân dân, Trong dân ai có oan ức có
thể "đánh chuông" để tâu lên với vua. Vua và dân cùng vui cùng buồn, cùng
tham dự hội hè, cùng xem biểu diễn văn nghệ. Các hình thức nghệ thuật sân
khấu như diễn xướng, rối, xiếc thường diễn ra ngoài trời và phát triển mạnh. Ý

cá nhân đầy đủ, nên cũng ít phát triển cá nhân chủ nghĩa cực đoan. Phụ nữ
Việt vốn là con người của trách nhiệm và bổn phận một cách tự giác. Có tinh
thần trách nhiệm với tất cả mọi người, với cả quá khứ, hiện tại lẫn tương lai.
Họ thường tự coi mình là một khâu của cả một dây chuyền, nếu không phải là
hệ quả của kiếp luân hồi thì chí ít cũng có thừa hưởng âm phúc của tổ tiên, cố
tránh "ăn mặn" để con cháu sau này không phải "khát nước"... Từ đó có sự
gắn bó trong gia đình, coi trọng chữ "hiếu thảo", chữ "thủy chung", cũng từ
đó mà có mối quan hệ khăng khít với gia đình, với bà con làng xóm. Thước
đo giao tiếp xã hội không phải chỉ là lý mà thiên về tình... Khát vọng dân chủ
thể hiện rất rõ ở những nhân vật mà chế độ phong kiến gọi là "nghịch nữ".
Một Thị Mầu xuất hiện như một ngọn lửa rừng rực tình yêu, táo báo, thách
thức, phá tan mọi ràng buộc của lễ giáo phong kiến đi tìm quyền tự do yêu
đương. Một Súy Vân giả dai để thoát khỏi cảnh cô đơn lạnh lùng... ở sân khấu
Chèo. Bên cạnh đó những truyện cười, truyện sử, những sáng tác của văn học
dân gian (đặc biệt là tác phẩm Thiên nam ngữ lục), các tích trò của múa Rối...
15
cũng lên tiếng khá mạnh mẽ đòi quyền tự do dân chủ... đến nỗi ở nhiều nơi
chính quyền phong kiến phải sợ hãi ra lệnh cấm mà vẫn không ngăn nổi.
Bên cạnh cái tình, người Việt còn coi trong cái nghĩa. Cái nghĩa của
dân tộc Việt nam bao trùm lên mọi thứ mà sinh thời nhà văn hóa Nguyễn
Khắc Viện cho rằng không thể dịch sang cái ngôn ngữ Âu - Mỹ được. Cái
nghĩa đó luôn luôn điều chỉnh lại các hành vi ứng xử của mọi thành viên trong
xã hội.
Cũng chính từ cái nghĩa này mà các tác giả vở Chèo Nàng Thiệt Thê
đã xây dựng nhân vật Chu Mãi Thần thành một nhân vật chính nhân quân tử
đặc biệt Việt Nam, đã được GS. Vũ Khiêu đánh giá rất cao.
Yếu tố dân chủ thấm sâu trong đời sống tinh thần làng xã Việt Nam.
Có một hiện tượng kỳ thú - đó là bất kỳ nhà nho nào, hễ cầm bút viết bằng
chữ Nôm là "quên" ngay hệ tư tưởng Khổng giáo. Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh
Khiêm dùng tục ngữ trong thơ của mình; Lê Quý Đôn trong Kinh nghĩa nói

gian, chú ý đến quy luật vận động đặc thù của diễn xướng dân gian.
Theo nhà nghiên cứu Đặng Văn Lung thì tất cả các hình thức tồn tại
trên thực tế của sáng tác dân gian đã và chỉ tồn tại khi có nghệ thuật diễn
xướng. Điều này chứng tỏ cái xu thế là nhân dân biểu đạt tư tưởng tình cảm
của mình không những bằng lời, bằng nhạc, bằng kết cấu nghệ thuật mà còn
cả bằng giọng nói, điệu bộ, nét mặt…. Trong những cái có khả năng tạo ra
một hình tượng kịch nhất định. Ông viết: "... màu sắc sân khấu chung của tất
cả các loại hình văn nghệ dân gian, không phân biệt loại hình nào được xác
định bằng tính trình diễn, tức là tính diễn xướng, hay tính truyền miệng của nó
17
(…) Văn bản cổ tích nếu không kể đến tính trình diễn của nó thì chỉ còn là một
cái xác không hồn"
(1)
.
Chỉ trong một hình thức kể chuyện cổ tích đơn giản nhất ta cũng thấy
có hai yếu tố:
- Yếu tố tái tạo của người kể.
- Yếu tố phản ứng trực tiếp chủ quan của người nghe.
Cả hai yếu tố này tác động qua lại một cách tự nhiên, đơn giản, nhưng
vô cùng hào hứng (sự hứng khởi của cả người nghe và người kể) - chân lý
nghệ thuật nằm ngay trong cái đơn giản, tự nhiên ấy. Ông còn cho rằng:
"Thực chất của việc nghiên cứu diễn xướng là nghiên cứu con người diễn
xướng. Sở dĩ có con người diễn xướng là do có con người chiếm lĩnh thẩm mỹ
thế giới. Sẽ như thế nào mà con người tạo nên lại tác phẩm giả và tạo nên một
hình thức diễn xướng phù hợp với loại tác phẩm ấy"
(1)
.
Khi bàn về Diễn xướng dân gian và nghệ thuật sân khấu, nhà nghiên
cứu Nguyễn Hữu Thu đã đưa ra hàng loạt những yếu tố cấu thành nên diễn
xướng như: Con người, tác phẩm, địa điểm, động tác, ngôn ngữ, hóa trang,

âm điệu, sắc thái, tình cảm khác với cách nói bình thường. Chính đó là nhịp
cầu nối tiếp, là một trong những yếu tố làm nền tảng cho hình thức nói riêng
của nghệ thuật phô diễn của nhân vật Chèo.
Trong những tiền đề dẫn đến hình thành một sân khấu Chèo, chúng tôi
đặc biệt chú ý đến trò nhại. Trò nhại là một hình thức "bắt chước", "mô
phỏng" lại những sinh hoạt trong xã hội. Trò nhại là một đặc điểm mang màu
sắc Việt rất rõ, nó không những là một trong những cội nguồn của Chèo mà
còn đi vào đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật như một nguyên tắc lớn, một thành
tố quan trọng.
Đến thời Lý - Trần, những hình thức hát, múa, trò nhại đã phát triển
khá cao và được ghi lại trên văn bia, sử sách. Bia Sùng thiện diên linh (1121)
đã chép tỷ mỷ về một đội múa "Đội của Thiên Vương từ bốn phương đến
(Chùa Một Cột) nhất tề giơ khí cụ lên, quanh co đi lại dâng điệu múa... ở giữa
bậc dưới, những cô gái tiên lượn vòng. Nhạc quan đứng thành hàng dưới sân
nhảy lướt một lúc...".
Các trò diễn thời kỳ này đã có những bước phát triển vượt bậc, các trò
diễn từ áng trò bước vào sân chùa như những mẫu phác thô sơ đã được gọt rũa,
bổ sung, nâng cao để dần dần chuyển hóa thành những mảnh đời. Sách Hý
19
phường phả lục đã ghi tên các hậu tổ cuối ngành Chèo như Đào Hoa, Từ Đạo
Hanh, Sai Ất, Chính Vinh Càn... đã có công làm cho "Chèo hát tiến hóa mạnh
mẽ từ cấp độ hồn nhiên lên cấp độ ước lệ và tổng hợp; trong trò diễn dung
hợp cả lời trò, đối thoại và hát múa trong thời gain và không gian ước lệ"
(1)
.
Chúng tôi lưu ý đến những hậu tổ ngành Chèo nói trên ở phương diện là
những cá nhân tài năng vượt trội trong đội ngũ những người sáng tạo của diễn
xướng dân gian, tiền thân của nghệ thuật Chèo. Chính nhờ những đóng góp
trong diễn xuất của họ (hát, múa, diễn) mà những trò diễn dần được hoàn
chỉnh hơn. Ở thời điểm này, các diễn viên mới chỉ đóng trò (đóng các vai, chứ

các trấn xung quanh, gọi là "Chèo tứ chiếng". GS. Đinh Gia Khánh đã nhận
định: "Một hiện tượng văn hóa dân gian lúc đầu có thể sinh thành ở một vùng
nào đó rồi về sau lưu hành sang các vùng khác. Khi nhập một vùng khác, hiện
tượng ấy có thể địa phương hóa, tức là nhuốm đượm sắc thái độc đáo của
vùng ấy. Các hiện tượng văn hóa dân gian nào đã phổ cập được khắp toàn
quốc trong một thời kỳ lịch sử lâu dài thì lại thể hiện được tính cách chung của
dân tộc, tức là được dân tộc hóa"
(1)
.
Từ sau thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, trong phong trào Phục hưng
của cả nền văn học nghệ thuật, Chèo cổ đạt tới sự thịnh vượng với những trò
diễn mẫu mực như: Quan Âm Thị Kính, Trương Viên, Lưu Bình - Dương Lễ,
Kim Nham...
Việc kể lại một sự tích bằng biểu diễn đến thể hiện số phận con người
bằng nghệ thuật đã là cả một giai đoạn đáng kể. Trong quá trình kể chuyện
bằng sân khấu ấy, thì những trò nhắc phát triển lên, ông cha ta còn biết thu
hút kết hợp các hình thức văn nghệ dân gian vốn phổ biến trong dân dã như
hát, múa để hình thành nên Chèo với những hình tượng nghệ thuật độc đáo
tồn tại đến hôm nay.
(
1) Đinh Gia Khánh, Dư địa chí văn hóa dân gian Thăng Long - Đông Đô - H Nà ội, Nxb Sở Văn hóa thông
tin, H Nà ội, 1995, tr. 21.
21
1.3.2. Nghệ thuật Chèo - sản phẩm đặc trưng của văn hóa Việt
Nghệ thuật sân khấu Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong tổng
thể văn hóa dân tộc. PGS Tất Thắng cho rằng: "Sân khấu là bộ mặt và thể
chất của văn hóa dân tộc, do đó là bộ phận quan trọng của văn hóa nhân loại"
(2)
, bởi tính tổng thể rất đặc trưng của loại hình nghệ thuật này, trên sân khấu,
đời sống tinh thần, tâm lý, phong tục tập quán và trí tuệ của một dân tộc được

đậm dấu vết sáng tạo và hưởng thụ văn hóa theo kiểu làng xã. Mỗi phường
mỗi gánh thường có khoảng 11 đến 15 người, phần lớn là những người nông
dân say mê nghề ca hát.
Hình thức biểu diễn Chèo xưa, từ trò diễn đến diễn viên, từ khán
phòng đến khán giả đều là sản phẩm, hoặc ít nhất cũng mang bóng dáng của
văn hóa làng xã. Sân khấu biểu diễn Chèo xưa chỉ khoanh trên mấy chiếc
chiếu trải trên mặt phẳng như sân đình, sân miếu, sân nhà... Một tấm màn nhỏ
ngăn nơi diễn với hậu trường. Khán giả đứng (hoặc ngồi) xung quanh. Dàn
nhạc ngồi ở ngay phần đầu chiếu sát nơi để trống chầu, ngăn cách người xem
và diễn viên đồng thời cũng là người đưa đạo cụ cho diễn viên khi cần. Các
đạo cụ thường để tập trung trên chiếu diễn. Một hòm đồ gỗ để sẵn, lúc dùng
làm ghế ngồi lúc dùng làm bàn tiệc, lúc làm núi non… Trang trí nơi diễn là là
khung cảnh ngày hội: cây nêu, những lá cờ ngũ sắc, những bức cửa vòm sơn
son thiếp vàng. Chèo diễn theo lối ước lệ. Cảnh trí được thể hiện trong ngôn
ngữ và động tác cách điệu của diễn viên
Nếu như nghệ thuật Tuồng thường kể về những nhân vật và sự kiện
xảy ra trong cung đình để bảo vệ một ngai vua, một ngôi chúa, một triều đình
đứng đầu sơn hà, một dòng dõi trị vì xã tắc với những nhân vật điển hình:
Khương Linh Tá, Đổng Kim Lân, Tạ Ngọc Lân, Triệu Tư Cung, Viên Hòa
Ngạn, Đào Phi Phụng, Triệu Tử Long... thì nghệ thuật Chèo (cổ) lại dành cho
cuộc đời của những con người bình thường, ngợi ca những tấm gương cao cả
trong tình bạn, tình yêu chung thủy, lòng hiếu thảo, sự khao khát hạnh phúc,
23
tự do trong cuộc sống và những nhân vật nổi tiếng Thị Kính, Thị Phương, Phi
Nga, Trinh Nguyên, Châu Long…
Các tích Chèo (cổ) dường như đều lấy việc kể lại cuộc đời những số
phận con người khác nhau trong xã hội làm nhiệm vụ trung tâm. Có thể nói,
mỗi một tích Chèo là một câu chuyện kể về một thân phận con người mặc dầu
mỗi câu chuyện đều có một nội dung triết lý rõ ràng, nhưng vấn đề thân phận
con người đã là một đề tài nổi lên hàng đầu. ở mỗi vở đều có một nhân vật

thành từng màn, từng lớp, bỏ múa và bỏ động tác cách điệu trong diễn xuất,
không chấp nhận cách trình bày ước lệ những sự việc trên sân khấu. Về hát,
Chèo Cải lương chủ trương tiếp tục xử lý những mô hình làn điệu Chèo cổ,
không sáng tạo mô hình mới mà đưa nguyên những bài dân ca, trống quân...
bổ sung cho hát Chèo.
Chèo hiện đại: Là loại hình nghệ thuật Chèo từ sau Cách mạng tháng
Tám năm 1945. Chèo hiện đại kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo (cổ) với
nội dung phong phú, phản ánh xã hội Việt Nam hiện đại. Ba khuynh hướng
nổi bật của Chèo hiện đại là:
1- Những vở Chèo (cổ) được chỉnh lý, cải biên hoặc viết lại dàn dựng
cho phù hợp với yêu cầu thưởng thức nghệ thuật của công chúng hiện đại.
2- Những vở Chèo mới, diễn theo tích dân gian, lịch sử hoặc dã sử
hoặc đề tài nước ngoài.
3- Những vở phản ánh cuộc sống hiện đại.
Trên cơ sở bảo tồn những tinh hoa của truyền thống, Chèo hiện đại có
nhiều thử nghiệm khi dè dặt, lúc táo bạo, khi thành công, có lúc chưa thành
công..., nhưng nhìn chung đều tìm hướng phát triển cho phù hợp với thời đại
25

Trích đoạn Những nhân vật trực tiếp tham gia vào cuộc cách mạng vì độc lập dân tộc (cụ thể là trong các phong trào cách mạng trước 1945 và sau Hình tượng nhân vật từ lịch sử dân tộc Hình tượng nhân vật từ các lĩnh vực khác như văn chương, truyện cổ tích, truyện dân gian Hình tượng nhân vật Chèo cổ được chỉnh lý cải biên dưới ánh sáng văn hóa mớ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status