TIỂU LUẬN PHÁT HUY VAI TRÒ của đội NGŨ TRÍ THỨC TRONG nền KINH tế THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG xã hội CHỦ NGHĨA ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 39

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ CHỦ
NGHĨA Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công
nghệ hiện đại, nhân loại đã đưa nền sản xuất hàng hóa đạt tới trình
độ kinh tế trí thức - thời đại kinh tế trí thức. Cho đến nay, sự phát
triển của kinh tế trí thức được đánh giá cao về mặt tăng trưởng kinh
tế với nhịp độ nhanh và tóc độ cao. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa
học - công nghệ và sự ra đời của nền kinh tế tri thức đã làm biến đổi
sâu sắc mọi mặt đời sống cả về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa.
Trước sự phát triển đó, nghiên cứu làm sáng tỏ sự tác động của nó
theo cả chiều thuận và nghịch để đề ra đường lối, chủ trương phát
triển xã hội của Đảng cộng sản Việt Nam nói riêng và các Đảng
cộng sản trên thế giới nói chung là một tất yếu khách quan.
Trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh hiện nay, con người và nguồn nhân lực luôn là
nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển nhanh, hiệu
quả và bền vững của đất nước. Nước ta xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước tiếp cận nền kinh tế
tri thức là một trong những mục tiêu có ý nghĩa chiến lược. Để xây
dựng và phát triển nền kinh tế trí thức, giữ vững định hướng xã hội
chủ nghĩa đặt ra cho Đảng ta cần phải nghiên cứu và phát huy vai trò


2

của đội ngũ trí thức, đặc biệt là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay.
Vai trò của trí thức đối với sự phát triển của xã hội được thể
hiện vào thời đại của C.Mác, ông nghiên cứu và xây dựng được học

Nghiên cứu xã hội loài người, C.Mác đã đi từ sản xuất vật chất
và khẳng định lao động là hoạt động có ý thức của con người nhằm
tạo ra những giá trị sử dụng nhằm đáp ứng yêu cầu của con người.
Trước kia, khi công cụ lao động của con người còn giản đơn, thô sơ
thì kỹ năng điều khiển nó phụ thuộc vào sự rèn luyện của người
công nhân. Chủ nghĩa tư bản phát triển, khi máy móc đã thay thế
vào chỗ công nhân, hoạt động của công nhân do sự vận hành của
máy móc quyết định, khi mà đại công nghiệp phát triển cùng với sự
tiến bộ của khoa học, C.Mác đã dự báo hệ thống máy móc tự động
sẽ ra đời. Đó chính là hình thái hoàn chỉnh nhất, thích hợp nhất của
hệ thống máy móc tự động, “gồm nhiều cơ quan cơ khí và cơ quan
trí tuệ, cho nên bản thân công nhân chỉ được xác định là những
thành viên có ý thức của nó mà thôi”1. Toàn bộ quá trình sản xuất
trong phương thức sản xuất có nền đại công nghiệp hiện đại “biểu
hiện ra không phải như là một quá trình phụ thuộc vào tài nghệ trực
tiếp của người công nhân, mà với tư cách là sự ứng dụng khoa học
trong lĩnh vực công nghệ”2. “Nếu xét về mặt lượng, lao động trực
tiếp được quy vào một phần nhỏ hơn, thì về mặt chất nó được
chuyển hóa thành một yếu tố nào đó, tuy cần thiết, nhưng là thứ yếu,
1
2

Sđd, tập 46, phần II, tr. 151-152.
Sđd, tập 46, phần II, tr. 358.


4

…đối với lao động khoa học phổ biến, đối với sự áp dụng khoa học
tự nhiên vào công nghệ”3.

thành lực lượng sản xuất trực tiếp, do đó nó cũng là chỉ số cho thấy
những điều kiện của chính quá trình sống của xã hội đã phục tùng
đến mức độ nào sự kiểm soát của trí tuệ phổ biến và đã được cải tạo
đến mức độ nào cho phù hợp với quá trình ấy. Những lực lượng sản
xuất xã hội đã được tạo ra đến mức độ nào không những dưới hình
thức, mà cả như là những cơ quan thực hành xã hội trực tiếp, những
cơ quan trực tiếp của quá trình sống hiện thực”1
Trong nền đại công nghiệp, hệ thống máy móc phát triển cùng
với sự tính lũy những tri thức xã hội và sản xuất, mối quan hệ giữa
khoa học - công nghệ - sản xuất ngày càng trở nên chặt chẽ. Tri
thức, khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Do vậy, “theo
đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải thực sự trở nên
ít phụ thuộc vào thời gian lao động và số lượng lao động đã chi phí
hơn là vào sức mạnh của những tác nhân được khởi động trong thời
gian lao động, và bản thân những tác nhân ấy, đến lượt chúng (hiệu
quả to lớn của chúng) tuyệt đối không tương ứng với thời gian lao
động trực tiếp và cần thiết để sản xuất ra chúng, mà đúng ra chúng
phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và vào sự tiến bộ của kỹ
thuật, hay phụ thuộc vào việc ứng dụng khoa học ấy vào sản xuất” 1.
Chính vì vậy: “Thay vì tác nhân chủ yếu của quá trình sản xuất,
1
1

Sđd, H.2000, tr. 372-373.
Sđd, H. 2000, tr. 368 - 369.


6

người công nhân lại đứng bên cạnh quá trình ấy” 2. Tri thức đã trở

hiện và không phải là thời gian trong đó anh ta lao động, mà là sự
chiếm hữu sức sản xuất phổ biến của chính con người, là nhận thức
của con người về giới tự nhiên và sự thống trị giới tự nhiên do sự tồn
tại của con người với tư cách là một cơ thể mang tính xã hội” 1. Như
vậy, theo C.Mác trình độ chinh phục giớ tự nhiên của con người
đánh giá sự phát triển của xã hội loài người trong từng giai đoạn lịch
sử. Trước hết là những tư tưởng khoa học và sau nữa, cần và đủ là
con người trong hoạt động thực tiễn. Trong tác phẩm “gia đình thần
thánh” C.Mác viết: “tư tưởng căn bản không thể thực hiện được cái
gì hết. Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng
lực lượng thực tiễn”2. Theo C.Mác tự bản thân khoa học không thể
tạo ra bất kỳ tác động nào, mà phải thông qua sự vận dụng và hoạt
động thực tiễn của con người thì mới phát sinh tác dụng. Trong lời
nói đầu “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê ghen”
C.Mác viết: “vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế
được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể đánh đổ
bằng lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng” 3. Ở
đây C.Mác đã giải trình rõ ràng rằng lý luận khoa khoa học phải
thông qua hoạt động của con người thì mới trở thành lực lượng vật
chất. Khoa học là sản phẩm của tư duy, nếu không qua hoạt động
của người lao động (công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức…), mà
Sđd, tr. 370.
Sđd, tập 2, tr. 181.
3 Đã dẫn, tập 1, tr. 580.
1
2


8


loại đã tạo ra, đồng thời vừa là người sáng tạo và áp dụng tri thức
vào thực tiễn đời sống xã hội. Hoạt động của tri thức có mặt trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Như vậy, theo nhận định và
đánh giá của C.Mác, Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Đối với Mác,
khoa học là một động lực lịch sử, một lực lượng cách mạng”2, và
người nghiên cứu, sáng tạo, phổ biến, áp dụng những tri thức nhân
loại vào thực tiễn để thức đẩy sự phát triển của xã hội giữ một vai
trò hết sức quan trọng, “phát minh trở thành một nghề đặc biệt”.
Như vậy, cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ,
lao động trí óc sẽ chiếm vị chí chủ đạo trong quá trình sản xuất.
Người lao động hiện nay sẽ dần dần được trí thức hóa và sẽ trở
thành chủ thể của xã hội. Vai trò của trí thức trong sự phát triển kinh
tế - xã hội ngày càng chiếm một vị thế cao hơn, tức là không chỉ
nhấn mạnh vào kỹ năng kỹ thuật mà còn nhấn mạnh vào việc giáo
dục một tri thức toàn diện nhằm bồi dưỡng và tạo ra sức sáng tạo
mới của người lao động. Căn cứ vào nguyên lý của lao động phức
tạp và bội số của lao động giản đơn, thì giá trị của kinh tế tri thức
được tạo nền bởi lao động sáng tạo có tri thức, chứ không phải là lao
động phức tạp. Xét trên ý nghĩa đó thì giá trị lao động của kinh tế tri
thức cũng là giá trị tri thức. Vì thế, phải nhanh chóng đào tạo đội
ngũ lao động có tri thức, để thực hiện đầy đủ những yêu cầu của nền
kinh tế tri thức, từng bước đưa xã hội đến văn minh, hiện đại.

2

C.Mác - Ăngghen, Đã dẫn, tập 19, tr. 500


10


về chính sách kinh tế, xã hội được cương lĩnh của Đảng xác định:
“Khoa học và cộng nghệ giữ vai trò then chốt trong sự phát triển lực
lượng sản xuất và nâng cao trình độ quản lý, bảo đảm chất lượng và
tốc độ phát triển của nền kinh tế. Các chiến lược khoa học và công
nghệ nhằm mục tiêu công nghiệp hóa theo hướng hiện đại, vươn lên
trình độ tiên tiến của thế giới”2. Những định hướng lớn trong cương
lĩnh là cơ sở cho các kỳ đại hội của Đảng đề ra chủ trương , giải
pháp cụ thể cho từng giai đoạn của cách mạng. Đại hội VIII, đã
khẳng định: “Nước ta đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội
nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm, tuy còn một số mặt chưa vững
chắc, song đã tạo được tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát
triển mới: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” 3. Như
vậy, đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được Đảng ta
xác định trên cơ sở hiện thực của tiền đề vật chất, khoa học - kỹ
thuật trong từng giai đoạn cụ thể. Đến đại hội IX của Đảng “Đại hội
trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi mới” diễn ra trong bối cảnh trong nước
và thế giới có nhiều biến đổi. Với việc thực hiện chiến lược ổn định
và phát triển kinh tế - xã hội 1991 - 2000, thế và lực của đất nước đã
lớn mạnh. Hoàn cảnh quốc tế đã có nhiều thuận lợi cho đất nước
1 2
2
3

Cương lĩnh xây dựng đất nước TKQĐ lên CNXH, Nxb Sự thật, H.1991, tr. 4, 13.

ĐCSVN, văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H. 1996, tr. 12.


12


các công nghệ tiên tiến được áp dụng phổ biến; đại bộ phận lao động
đã qua đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng của khoa học vào sản xuất
cao; công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong GDP và lao
động xã hội… cần phải rút ngắn thời gian thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Đây cũng là lý do để Đảng ta xác định công
nghiệp hóa đất nước phải gắn liền với hiện đại hóa, nó vừa là bước
tuần tự bước đi của công nghiệp hóa theo tính quy luật chung, vừa
nhảy vọt đi tắt, đón đầu để hoàn thiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
để đất nước thực sự trở thành nước công nghiệp. Trong điều kiện
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, quá
trình toàn cầu hóa đang diễn ra như một xu thế khách quan; sự phát
triển của kinh tế tri thức… Con đường công nghiệp hóa, được thực
hiện bằng sự phát triển rút ngắn thời gian nhưng không bỏ qua các
vấn đề có tính quy luật chung là một tất yếu khách quan đặt ra cho
cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã
hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội VI của
Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất
nước, thực hiện có hiệu quả công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đại hội đã đưa ra quan niệm mới về con đường, phương pháp xây
dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là quan niệm về công nghiệp hóa
thời kỳ quá độ; về cơ cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan
của sản xuất hàng hóa, vận động theo cơ chế thị trường của sự quản
lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa; xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu


14

bao cấp, chuyển sang hoạch toán kinh tế kinh doanh. Đại hội chủ
trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức

ngũ trí thức giữ một vai trò hết sức quan trọng trong nghiên cứu,
sáng tạo và ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất.
Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, do phát triển
kinh tế, xã hội của đất nước trong tình hình mới, vai trò của trí thức
càng được đặt ra quan trọng hơn bao giờ hết. Trí thức luôn là thành
tố quan trọng trong khối liên minh giai cấp dưới sự lãnh đạo của
Đảng, là lực lượng xung kích trong sự phát triển kinh tế - xã hội văn hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta hiện nay. “Không có tri thức, không thể xây dựng chủ nghĩa
xã hội được và đó là quan điểm nhất quán trước sau như một của
Đảng”2
Vai trò của đội ngũ trí thức trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa được biểu hiện cụ thể trên một số mặt sau.
Một là; Đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt trong nghiên
cứu lý luận, vận dụng sáng tạo những quy luật vận động các lĩnh
vực kinh tế - chính trị - xã hội … vào sự phát triển chung của đất
nước.
Kinh tế thị trường, cũng như kinh tế tri thức là sản phẩm của
sự phát triển tri thức nhân loại, nó ra đời gắn liền với sự phát triển
của lực lượng sản xuất xã hội. Kinh tế thị vận động theo những quy
luật khách quan vốn có, đồng thời chịu sự tác động của những chủ
2

Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Nxb CTQG, H. 1995, tr. 13.


16

trương, chính sách của chủ thể thực hiện. Hay nói cách khác, sự vận
động của nền kinh tế thị trường vừa chịu tác động của “Bàn tay vô
hình”, vừa chịu tác động của “Bàn tay hữu hình”, do đó, nó đòi hỏi

nhuận, sức tiêu thụ, mức tăng trưởng, năng lực chiếm lĩnh và làm
chủ thị trường. Do vậy, trong nền kinh tế thị trường, kinh tế tri thức
đòi hỏi phải có sự tích cực, năng động trong nghiên cứu, ứng dụng,
phát minh, sáng chế khoa học, công nghệ vào quá trình sản xuất,
tăng năng suất lao động xã hội. Bất kỳ đơn vị kinh tế nào, lĩnh vực
gì đều phải thực hiện tốt chu trình này, nếu không sẽ gặp khó khăn,
thậm chí phá sản. Để đáp ứng yêu cầu đó đòi hỏi phải có sự nỗ lực
của đội ngũ trí thức, sự giao lưu hợp tác chặt chẽ giữa nhà khoa học
và nhà sản xuất, do vậy, trong nền kinh tế thị trường, kinh tế tri thức
thì vai trò của đội ngũ trí thức càng được đề cao, coi trọng.
Ba là; Đội ngũ trí thức tham gia quản lý xã hội trên mọi lĩnh
vực, đấu tranh ngăn chặn, khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường,
toàn cầu hóa kinh tế, quốc tế hóa đời sống xã hội.
Trước kia, người sản xuất và người quản lý là một, song cùng
với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự tách rời giữa người sản
xuất và người quản lý ngày một gia tăng, thậm chí có lúc đối lập gay
gắt. Và ngày nay, sự phát triển cao của lực lượng sản xuất, ở trình độ
cao của trí tuệ trong quá trình sản xuất, đã và đang diễn ra xu thế


18

xích lại gần nhau giữa người sản xuất và người quản lý. Trong nền
kinh tế thị trường, kinh tế tri thức, người sản xuất và người quản lý
xích lại, thậm chí hội tụ trong một cá thể, trong đó, mặt quản lý ngày
càng chiếm ưu thế hơn mặt lao động trong việc tạo ra sản phẩm.
Như vậy, trong nền kinh tế thị trường, kinh tế tri thức trình độ dân trí
toàn xã hội nói chung, công nhân có trình độ học vấn cao, có trí thức
thì việc quản lý mọi mặt xã hội, quản lý quá trình sản xuất trình độ
cao, đòi hỏi chủ thể quản lý phải có trình độ và luôn nâng cao trình

chống phá của kẻ thù.
Như vậy, trí thức là một lực lượng xã hội, là một thành tố trong
cơ cấu giai cấp - xã hội có vai trò không thể thiếu được trong mọi
chế độ xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế tri thức ở nước
ta hiện nay, đặc biệt là sự bùng nổ của cách mạng khoa học, công
nghệ, trí thức ngày càng có vai trò quan trọng hơn, là một thành tố
trong khối liên minh trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta. Nhận thức rõ vai trò của đội ngũ trí thức, Đảng ta khẳng
định: “Tầng lớp trí thức nói chung hăng hái tham gia cách mạng và
là một trong những động lực đáng kể của cách mạng họ là đồng
minh tin cậy của giai cấp công nhân”1.
Đánh giá đúng về vai trò của đội ngũ trí thức, Đảng ta đã có
nhiều đường lối đúng đắn tạo mọi điều kiện cho đội ngũ trí thức phát
1

ĐCSVN, văn kiện Đại hội Dảng, toàn tập Nxb CTQG, H. 2000, tập 4, tr. 94.


20

huy khả năng, năng lực của mình vào sự nghiệp nghiên cứu và ứng
dụng khoa học, công nghệ, phát triển lực lượng xã hội, lực lượng trí
thức trẻ đã chú trọng đào tạo vươn lên ngang tầm quốc tế. Mối quan
hệ giữa trí thức với các giai cấp tầng lớp khác trong xã hội ngày
càng được củng cố xích lại gần nhau. Mô hình kết hợp giữa “Bốn
nhà” ngày càng được nhân rộng cả nước, đã và đang mang lại những
thành tựu đáng khích lệ trong sự phát triển kinh tế - xã hội của nước
ta hiện nay.
Tuy nhiên, sự phát triển của trí thức và cơ chế quản lý trí thức
ở nước ta hiện nay cũng còn nhiều bất cập, như: tỷ lệ trí thức trên số

hiện đại, làm chủ tri thức mới. Để thực hiện được ý đồ chiến lược
phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa là
vấn đề đang đặt ra. Trong những năm qua nhờ có những quan điểm
chính sách đúng đắn của Đảng, sự nghiệp giáo dục, đào tạo có
những phát triển đáng khích lệ trên quy mô cả nước. Nhiều hình
thức giáo dục đào tạo xuất hiện: tập trung, không tập trung; dài hạn
và ngắn hạn; trực tiếp và từ xa… Tuy nhiên, sự nghiệp giáo dục, đào
tạo cũng còn nhiều bất cập: quy hoạch và đào tạo còn dàn trải, thiếu
chuyên sâu, nội dung đào tạo thiếu đồng bộ; chưa có sự kết hợp lý
thuyết với thực hành; tiêu cực trong giáo dục và đào tạo còn nan
giải… Để đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, đào tạo khoa học và công


22

nghệ ở nước ta hiện nay cần đổi mới cả nội dung và phương thức
đào tạo; mở rộng quy mô và tăng cường trang thiết bị hiện đại; kết
hợp chặt chẽ giữa giáo dục toàn diện với chuyên sâu. Thực hiện
công bằng trong giáo dục đẩy lùi các tệ nạn tiêu cực, phát huy mọi
tiềm năng, nguồn lực trong nước, thực hiện xã hội hóa giáo dục và
đào tạo.
Thứ hai; Đổi mới giáo dục đào tạo, xã hội hóa công tác
nghiên cứu khoa học và công nghệ.
Xuất phát từ thực tiễn phát triển khoa học, công nghệ hiện nay,
do đó sản xuất công nghệ trở thành loại hình quan trọng hàng đầu,
phát minh trở thành nghề đặc biệt, nên giáo dục, đào tạo phải
khuyến khích tư duy sáng tạo, chứ không phải là nhồi nhét kiến
thức. Hơn nữa do tốc độ phát triển của khoa học, công nghệ mà giáo
dục, đào tạo phải được cập nhật bổ sung trong suốt cuộc đời, người
học cần được học tập ngay trong quá trình sản xuất. Đổi mới giáo

chỉnh chính sách tiền lương, có chế độ ưu đãi đối với những phát
minh, sáng chế, động viên khen thưởng kịp thời những người có
công phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất.
Thứ tư; Đẩy mạnh hợp tác, giao lưu quốc tế, tạo điều kiện cho
trí thức tiếp cân những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại trên
thế giới.
1

ĐCSVN, văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội. 2001, tr. 206.


24

Hợp tác khoa học quốc tế là môi trường thuận lợi để đội ngũ trí
thức nâng cao nhận thức và khả năng tư duy cho các nhà khoa học.
Hợp tác khoa học được thể hiện bằng nhiều hình thức phong phú, đa
dạng, song phương, đa phương, hội thảo khoa học, gửi cán bộ đi đào
tạo nước ngoài; hợp tác nghiên cứu khoa học… Đại hội IX của Đảng
xác định: “Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học và
công nghệ. Thực hiện tốt chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ, có chính
sách ưu đãi đặc biệt đối với nhà khoa học có công trình nghiên cứu
xuất sắc”1
Muốn xây dựng thành công nền kinh tế thị trường và nền kinh
tế tri thức phải phát triển khoa học, công nghệ, phát triển giáo dục và
đào tạo là quốc sách hàng đầu; coi công nghiệp hóa, hiện đại hóa là
nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
để tạo ra lực lượng sản xuất mới. Thực hiện nhất quán chính sách
phát triển kinh tế nhiều thành phần là vấn đề có ý nghĩa chiến lược
lâu dài, để hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, mở rộng quan hệ hợp
tác kinh tế đối ngoại, nhằm tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status