GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3
Trang 1 Tiểu luận Thị trường liên ngân hàng ở Việt Nam – Thực trạng
và giải pháp phát triển trong giai đoạn hiện nay
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3
Trang 2
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường liên ngân hàng là một thành phần cơ bản của thị trường tài
chính–ngân hàng, thị trường này là n
ơi
diễn ra các giao dịch vốn ngắn hạn giữa
các tổ chức tín dụng và định chế tài chính. Cùng với sự phát
t
r
iể
n của hệ thống
ngân hàng thương mại tại Việt Nam và quá trình hội nhập của ngành ngân hàng
vào
thị trường tiền tệ và hệ thống ngân hàng hiện đại. Đó cũng chính là lý do nhóm 3 –
Lớp TCDN Đêm 4 K22 quyết định chọn đề tài “Thị trường liên ngân hàng ở
Việt Nam – Thực trạng và giải pháp phát triển trong giai đoạn hiện nay” để
nghiên cứu
t
rong bài tiểu luận n
à
y.
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3
Trang 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG
1.1 Khái niệm:
Thị trường liên ngân hàng là một thành phần cơ bản của Thị trường tiền tệ, là
nơi diễn ra
các
g
hình thức tín chấp và dựa trên cơ sở uy tín, xếp hạng
tí
n dụng và định mức tín
nhiệm của các NHTM. Các giao dịch được thực hiện thông qua các
c
ông
c
ụ
giao dịch điện tử và xác nhận bằng hệ thống SWIF
T
.
1.3 Chủ thể tham gia
Do tính chất đặc điểm của thị trường, Thị trường liên ngân hàng là nơi diễn
ra các giao dịch tiền
tệ
giữa các đối tượng sau đâ
y
:
1.3.1 Ngân hàng trung ương
Ngân hàng Trung ương tham gia Thị trường liên ngân hàng với vai trò người điều
tiết, dẫn dắt và quản
l
ý
t
h
ị
trường, Ngân hàng trung ương cũng tham gia thị
trường với vai trò là nhà phát hành lần đầu các
c
ông cụ, sản phẩm giao dịch
ng Liên ngân hàng
(Interbank Market)
Th
ị
trư
ờ
ng Ti
ề
n t
ệ
(Money Market)
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3
Trang 4
trên thị trường. V
iệc
Ngân hàng trung ương tham gia vào thị trường sẽ giúp cho
việc nắm rõ tình hình thực tế và có nh
ữ
ng quy
ết
sách kịp thời nhằm quản lý và
điều hành thị trường hoạt động một cách hiệu qu
ả
.
1.3.2
kiện nhất định như quy mô vốn, tài sản, khả n
ă
ng quản lý rủi ro, trình độ và
đội ngũ nhân viên,…các tổ chức này tham gia thị trường không thường xuy
ê
n
do tính chất và phạm vi hoạt động của các tổ chức này.
1.4 Lãi suất liên ngân hàng
Lãi suất liên ngân hàng (interbank offered rate) chính là giá mua bán vốn trên
Thị trường liên ngân h
à
ng, lãi suất liên ngân hàng là mức lãi suất tham chiếu
h
ì
nh thành trên cơ sở lãi suất của các giao dịch gửi và nhận vốn giữa các ngân
hàng trên thị trường của
từ
ng khu vực, từng quốc qua.
Tùy theo khu vực hay quốc gia mà ta có lãi suất liên ngân hàng của khu vực h
a
y
quốc gia đó. Chẳng hạn lãi suất LIBOR là lãi suất liên ngân hàng trên thị trường
Luân Đôn, nó cũng đồng thời phản ánh mức lãi suất giao dịch của các loại tiền
tệ cơ bản tại khu vực Châu Âu; lãi suất SIBOR
là
lãi
suất liên ngân hàng trên
thị trường Singapore, nó cũng đồng thời phản ánh mức lãi suất giao dịch
c
hàng hó
a
.
1.6 Công cụ
1.6.1 Thỏa thuận tiền gửi (hay xác nhận hoặc hợp đồng tiền gử
i
)
Các chi tiết của một thỏa thuận tiền gửi như sau:
- Số tiền: là số lượng vốn mà hai bên thỏa thuận đồng ý gửi và nhận gửi lẫn nhau,
số tiền này được xác định trên nhu cầu và khả năng đáp ứng của các bên khi
tiến hành giao dịch.
- Kỳ hạn giao dịch: là kỳ hạn được xác định do thỏa thuận giữa hai bên trên cơ sở
nhu cầu và khả năng đáp ứng của mỗi bên.
- Ngày giao dịch, ngày giá trị và ngày đáo hạn: Ngày giao dịch là ngày mà hai
bên tiến hành thỏa thuận giao dịch với nhau, ngày giá trị là ngày có hiệu lực của
thỏa thuận và ngày đáo hạn là ngày hết hạn của kỳ hạn giao dịch tính từ ngày
giá trị.
- Lãi suất và phương thức trả lãi: lãi suất được hình thành trên cơ sở thỏa thuận
giữa hai bên theo lãi suất thị trường và theo quy định của pháp luật. Có hai loại
lãi suất là lãi suất cố định hay lãi suất thả nổi. Phương thức trả lãi bao gồm trả
lãi vào ngày đáo hạn, trả lãi trước hay trả lãi định kỳ; phương thức trả lãi do hai
bên thỏa thuận thông thường lãi được trả vào cuối kỳ.
- Cơ sở tính lãi: hai bên thỏa thuận xác định cơ sở tính lãi là một năm có bao
nhiêu ngày và tính lãi theo số ngày thực tế hay tính tròn tháng, thông thường cơ
sở tính lãi của các thỏa thuận tiền gửi là một năm có 360 ngày và tính trên số
ngày thực tế giao dịch.
- Chỉ dẫn thanh toán, là việc hai bên thỏa thuận và chỉ ra phương thức thanh toán
và tài khoản thanh toán cho thỏa thuận tiền gửi tại ngày giá trị của giao dịch và
ngày đáo hạn giao dịch.
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3
ằ
m mục đích kiếm lời do chênh lệch giá mua
bán hoặc hưởng lãi suất nếu xác định đầu tư giữ đến ngày đ
á
o hạn. Chứng chỉ tiền
gửi, kỳ phiếu, tín phiếu ngân hàng có thể dưới hình thức ghi danh hoặc không gh
i
danh. Lãi suất chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu thường là cố định.
1.6.3.2 Chứng chỉ tiền gửi (Certificate of Deposits), Tín phiếu, kỳ ph
iế
u
Các GTCG khác do Chính phủ, Ngân hàng trung ương hay các tổ chức tín dụng
phát hành như Công
t
r
ái
, chứng chỉ nợ và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác. Các
GTCG này được các đối tượng tham gia Thị
t
r
ườ
ng liên ngân hàng thỏa thuận mua
đi bán lại với những điều kiện cụ
t
h
ể
.
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3
Trang 7
ngân hàng cho những đối tác có nhu cầu trên cơ sở thỏa thuận chi tiết về các nội
dung và điều kiện giao dịch.
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3
Trang 8
- Để cung cấp được dịch vụ phái sinh, các NHTM và định chế tài chính phải
được Ngân hàng Trung ương cấp phép trên cơ sở thỏa mãn các điều kiện về
vốn, quy trình quản lý nghiệp vụ, quản lý rủi ro, khả năng và trình độ chuyên
môn của nhân viên nghiệp vụ; đồng thời phải tuân thủ các quy định của cơ quan
quản lý chuyên ngành.
1.7 Nguyên tắc thực hiện giao dịch
Các giao dịch trên Thị trường liên ngân hàng giữa các đối tác được thực hiện trên
nguyên tắc tự do thỏa thuận về các nội dung và điều kiện giao dịch trên cơ sở tự
nguyện, cùng có lợi và phù hợp với các quy định của pháp luật liên quan và các quy
định của NHNN.
1.8 Phương thức giao d
ịc
h:
Các đối tác thực hiện giao dịch với nhau thông qua các công cụ giao dịch được hai bên
đồng ý sử dụng. Theo tính chất và thông lệ giao dịch của Thị trường liên ngân hàng
hiện nay, phương thức giao dịch chủ yếu giữa các đối tác là giao dịch qua các phương
tiện điện tử, ít phát sinh giao dịch trực tiếp, các công cụ giao dịch điện tử như hệ thống
giao dịch điện tử kết nối toàn cầu, giao dịch qua điện thoại có ghi âm, qua các màn
hình giao diện giao dịch trực tuyến, qua fax, qua màn hình chat,…
1.9 Vai trò
Thị trường liên ngân hàng là một thành phần cơ bản và quan trọng hình thành nên
thị trường tiền tệ.
Vì
vậy, với tính chất và đặc điểm của TTLNH, nó có những chức
năng, vai trò như sau:
a
o gồm các loại hình ngân hàng thuộc các thành phần sở hữu khác
nhau, cụ thể
là:
- Ngân hàng thương mại quốc doanh.
- Ngân hàng thương mại cổ phần.
- Ngân hàng liên doanh.
- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
- Ngân hàng 100% vốn nước ngoài.
- Công ty tài chính và Công ty cho thuê tài chính.
- Ngoài ra còn có Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng phát triển VN và
hàng trăm quỹ tín dụng nhân dân trung ương và địa phương.
- Như vậy, sự hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại Việt
Nam là cơ sở tất y
ế
u, khách quan và cơ bản cho Thị trường liên ngân hàng ở
Việt Nam hình thành và phát triển. Ngay từ khi mới hình thành, mặc dù quy
mô giao dịch nhỏ và không thường xuyên nhưng Thị trường liên ngân hàng
đã đóng vai trò là nơi mu
a
b
á
n, trao đổi nguồn vốn giữa các ngân hàng nhằm
mục đích cân bằng và điều hoà nguồn vốn, giữa ng
â
n h
à
ng thừa vốn và thiếu
vốn, giúp sử dụng nguồn vốn có hiệu quả h
là một thị trường tập trung có tổ chức qua Ngân hàng Nh
à
nước (NHNN) và
gắn liền với các trung tâm thanh toán bù trừ (Thành phố Hồ Chí Minh và
Thành phố H
à
Nội), số lượng thành viên tham gia và doanh số hoạt động rất
hạn chế; trong đó, những thành viên là ng
â
n hàng TMQD có khả năng chi
phối trên cả lĩnh vực huy động vốn và cho vay vốn do có lợi thế về
tài
c
h
í
nh
và uy tín; chưa hình thành các quy tắc và thông lệ giao dịch trên thị trường,
quy mô và khối
lượ
ng giao dịch rất thấp và chưa thực sự có ý nghĩa đối với
hoạt động của ngân h
à
ng.
2.1.2.2 Giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2007:
- Từ năm 1997, hoạt động của Thị trường liên ngân hàng diễn ra theo hình thức
các ngân hàng trực tiếp v
a
y mượn lẫn nhau không thực hiện thông qua
NHNN. Các Ngân hàng thỏa thuận phương thức giao dịch,
T
rong giai đoạn này, thị
trường hoạt động khá an toàn và hiệu quả, không có sự biến động gì lớn, các
thông lệ v
à
quy tắc giao dịch trên thị trường được hình thành và duy trì, các
giao dịch đều thực hiện thông qua h
ì
nh thức tín chấp, với quy mô giao dịch
ban đầu chỉ vài ba tỷ đồng/giao dịch đã tăng lên hàng trăm tỷ đồng
/
g
ia
o dịch
và hàng ngày đều có hàng trăm giao dịch phát sinh trên thị trường giữa các
ngân hàng với nhau. Ph
ầ
n lớn các giao dịch liên ngân hàng được thực hiện
dưới các hình thức tín chấp, bảo đảm bằng số dư tiền g
ửi
đối ứng tại ngân
hàng cho vay; các ngân hàng đã thực hiện quan hệ vay mượn chủ yếu dưới
hình thức g
ửi
tiền lẫn nh
a
u.
2.1.2.3 Giai đoạn từ năm 2008 đến nay:
- Đây là giai đoạn phát triển khá đầy đủ của TTLNH cả về quy mô giao dịch,
mức độ thường xuyên, sản phẩm giao dịch và đối tượng tham gia thị trường
nh.
2.1.3 Các hoạt động nghiệp vụ chủ yếu trên Thị trường liên ngân hàng tại
V
iệ
t Nam.
2.1.3.1 Nghiệp vụ gửi và nhận vốn giữa các TCTD (vay và cho vay).
- Nghiệp vụ gửi và nhận vốn (vay và cho vay) giữa các định chế tài chính chiếm
đến 80 - 90% khối lượng giao dịch trên Thị trường liên ngân hàng tại Việt
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3
Trang 12
Nam. Nghiệp vụ gửi nhận vốn nhằm đáp ứng nhu cầu đảm bảo thanh khoản
hàng ngày của các chủ thể tham gia, điều tiết và cân bằng nguồn vốn giữa
ngân hàng thừa vốn và ngân hàng thiếu vốn ngắn hạn, giúp các ngân hàng sử
dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động. Hình thức giao dịch thông qua thỏa
thuận giữa các ngân hàng với nh
a
u trên nguyên tắc tín nhiệm và tự nguyện về
số lượng gửi và nhận, kỳ hạn giao dịch, mức lãi suất và các đ
iề
u kiện kh
ác
.
Điều kiện giao d
ịc
h:
- Ngân hàng nhà nước hiện nay chưa có văn bản nào quy định các điều kiện cụ
thể để có thể tham gia g
ia
o dịch trên TTLNH đối với các định chế tài chính.
toàn dựa v
à
o thỏa thuận giữa hai đối tác trên cơ sở nhu cầu vốn của một bên
và khả năng đáp ứng về nguồn vốn của b
ê
n còn
lại
.
Khối lượng giao d
ịc
h:
- Khối lượng giao dịch là số lượng vốn mà hai bên thỏa thuận vay và cho vay
(gửi hay nhận gửi) lẫn nh
a
u, khối lượng giao dịch được thỏa thuận trên cơ
sở nhu cầu và khả năng đáp ứng của các b
ê
n.
Lãi suất giao d
ịc
h:
- Lãi suất giao dịch chính là giá của nguồn vốn trên thị trường, lãi suất được
hình thành trên cơ sở
t
hỏ
a
t
hu
ậ
Phương thức thanh toán giao d
ịc
h:
- NHNN là cơ quan duy nhất cung ứng các dịch vụ thanh toán liên ngân hàng,
gồm có
các
kênh thanh toán như thanh toán điện tử liên ngân hàng, thanh
toán bù trừ theo phiên, thanh toán bù trừ
t
r
ực
tiếp trong đó thanh toán điện tử
liên ngân hàng được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay, nó đảm bảo tiện
lợi
,
nhanh chóng, chính xác và an toàn.
Các điều kiện khá
c
:
- Các điều kiện giao dịch khác do hai bên thỏa thuận trên cơ sở phù hợp các
quy định hiện hành. Các đ
iề
u kiện giao dịch khác có thể là phương pháp
tính lãi, trả lãi, hình thức đảm bảo giao dịch, hình thức xử
l
ý tài sản đảm
bảo, điều kiện tất toán trước hạn hợp đồng giao d
ịc
h,…
2.1.3.2 Nghiệp vụ mua bán các giấy tờ có g
hiện mua đi bán lại giữa các TCTD tùy theo nhu cầu. Ngoài ra, các TCTD
cũng thực h
iệ
n mu
a
bán các GTCG do các TCTD và các tổ chức khác phát
hành như chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết k
iệ
m, kỳ phiếu, tín phiếu, trái
phiếu ngân hàng, thương phiếu, Việc mua bán có thể thực hiện ngay tại
t
h
ời
điểm phát hành và từ nhà phát hành hoặc mua đi bán lại trên thị trường.
Các GTCG hiện đang được các TCTD thực hiện giao dịch trên thị
trường tiền
tệ
Việt Nam hiện nay
l
à:
Nhóm các GTCG do Chính phủ, Kho bạc nhà nước và Ngân hàng nhà
nước phát hành, bao gồm
:
Tín phiếu kho bạc.
Tín phiếu Ngân hàng nhà nước.
Công trái các loại.
Trái phiếu ngắn hạn NHNN hoặc Kho bạc nhà nước.
Các GCTG ngắn hạn khác do Chính phủ phát hành.
Nhóm
ủ
a
m
ì
nh, các NHTM luôn phát sinh tình trạng thừa hoặc thiếu vốn tạm
thời. Tại những thời điểm như v
ậ
y,
các
NHTM sẽ sử dụng công cụ mua bán
có kỳ hạn các GTCG để cân bằng nguồn vốn, các NHTM có
t
h
ể
mua trước và
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3
Trang 15
cam kết sẽ bán ra chính GTCG đó trong một kỳ hạn nhất định (repo) hoặc bán
và cam k
ết
mua lại chính GTCG đó trong một kỳ hạn nhất định (reverse
repo), tùy theo tình trạng của Ngân hàng
l
ú
c
đó là thừa vốn hay thiếu vốn.
Nghiệp vụ mua bán lại GTCG được sử dụng khá rộng rãi trên thị trường
liê
n
Các GCTG khác do Chính phủ phát hành.
Nhóm các GTCG do các tổ chức tín dụng phát hành, bao gồm
:
Chứng chỉ tiền gửi.
Kỳ phiếu ngân hàng
Tín phiếu ngân hàng
Trái phiếu ngân hàng
Các GTCG khác do các TCTD phát hành.
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3
Trang 16
Các GTCG khác do các tổ chức phát hành như trái phiếu doanh nghiệp,
thương ph
iế
u (trên cơ sở thỏa thuận và đồng ý của các bên giao d
ịc
h).
2.1.3.3 Nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu, vay cầm cố GTCG, vay tái cấp
vốn, nghiệp vụ th
ị
trường mở và nghiệp vụ hoán đổi tiền t
ệ
.
- Đây là những nghiệp vụ của NHNN đối với các NHTM và định chế tài chính,
tùy theo chính sách tiền
tệ
từng thời kỳ mà NHNN sẽ quyết định thực hiện
nghiệp vụ nào, phương thức, khối lượng vốn, lãi suất v
a
y
hàng hóa trên thị trường mở cũng được mở rộng nhanh chóng, ban đầu chỉ là
các tín phiếu do Kho bạc v
à
NHNN phát hành, hiện nay danh mục các
GTCG được thực hiện trên thị trường mở đã khá rộng rãi nh
ư tí
n phiếu các
loại, trái phiếu do Chính phủ, Kho bạc nhà nước, NHNN, Chính quyền địa
phương, Ng
â
n hàng phát triển Việt Nam, Ngân hàng chính sách xã hội VN
phát hành được Chính phủ bảo
lã
nh,
Nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ (SWAP) đã được NHNN triển khai áp dụng từ
n
ă
m 2009, đây là nghiệp vụ mà NHNN sẽ thực hiện việc mua bán hoán đổi
giữa USD và VND với các
TCT
D nhằm cung ứng nguồn vốn VND cho các
TCTD với một mức lãi suất nhất định. Theo đó, NHNN sẽ
t
h
ực
hiện mua
giao ngay và bán kỳ hạn USD cho các TCTD, tỷ giá mua bán hình thành trên
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3
thấp hơn, buộc
các
ngân hàng phải sử dụng vốn trên TTLNH để cho vay tín
dụng đối với cá nhân và tổ chức kinh tế, kỳ hạn cho vay thường dài h
ơ
n
t
rong khi nguồn vốn liên ngân hàng là nguồn vốn ngắn hạn, khi nguồn vốn có
biến động do các chính s
ác
h của NHNN, lập tức các ngân hàng rơi vào tình
trạng thiếu thanh khoản trầm trọng, TTLNH trở lên qu
á
nóng, lãi suất qua đêm
trên thị trường đẩy lên mức 43%/năm, cá biệt có những giao dịch lãi
suất
lê
n tới
t
r
ê
n 60%/năm. Đứng trước tình hình đó, NHNN cũng đ
ã
có
một số biện pháp nhằm bình ổn thị trường như hỗ trợ thanh khoản cho các
ngân hàng nhỏ thông qu
a
nghiệp vụ cho vay tái cấp vốn, vay cầm cố, đồng
thời quy định mức lãi suất trần giao dịch trên
t
â
n hàng đã vào cuộc đua lãi suất. Song
song với việc thực hiện các biện pháp tăng cường huy động, các TCTD
cũng hạn
c
h
ế
tăng trưởng tín dụng, hạn chế cho vay đối với khách hàng, chỉ
thực hiện cho vay đối với các khách h
à
ng quen thuộc và thật sự có uy tín và
năng lực kinh doanh hiệu qu
ả
.
2.2.1.2 Diễn biến tổng quan thị trường năm 2009.
- Năm 2009 cũng là năm các TCTD tiếp tục thực hiện chính sách thắt chặt tín
dụng, tăng trưởng tín dụng được khống chế ở mức 38%. Tình hình
t
h
a
nh
khoản của các TCTD tiếp tục được cải thiện một cách rõ rệt, giao dịch trên
TTLNH diễn ra ổn định và
là
nh mạnh hơn, các giao dịch vẫn tuân theo trần
lãi suất do NHNN quy định.
- Kinh tế Việt Nam cũng bị ảnh hưởng trực tiếp của cuộc khủng hoảng này,
n
ề
n kinh tế đang từ lạm phát cao chuyển sang thiểu phát, tăng trưởng sa sút.
khả năng thu hồi vốn đúng h
ạ
n, trong khi đó đã lạm dụng nguồn vốn liên
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3
Trang 19
ngân hàng vào các mục đích cho vay và đầu tư trung dài hạn. Mộ
t
lần nữa,
NHNN lại phải ra thực hiện các biện pháp hỗ trợ bằng cách cho vay tái cấp
vốn đối với các
t
ổ chức n
à
y.
- Lãi suất huy động vốn trong khối các thành phần kinh tế tiếp tục có sự cạnh
tranh khốc liệt. Trước tình hình đó, NHNN đã đưa ra khuyến cáo
các
NHTM
không được tăng lãi suất huy động thị trường vượt quá mức trần lãi suất do
NHNN ấn định (b
ắt
đầu từ thời điểm cuối năm 2009 là 10,5%/năm và kéo dài
đến tháng 5/2010 thì điều chỉnh lên là 11,5%
/
n
ă
m sau khi có quyết định tăng
lãi suất cơ bản lên 8%/năm. Tuy không có bất cứ văn bản nào quy định vấn đ
ề
NHTM , và mua ròng một khối lượng lớn USD từ thị trường (khoảng
01 tỷ USD), làm cho lượng cung
tiề
n tăng
lê
n.
2.2.1.4 Tổng quan diễn biến thị trường năm 2011:
- Đầu năm 2011, triển khai Nghị quyết số 11 của Chính phủ, chỉ tiêu tăng trưởng
tín dụng năm giới hạn dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán khoảng 15% -
16%. Thế nhưng, kết quả ước tính lần lượt chỉ là 12% và 10%, góp phần đáng
kể vào việc kiềm chế lạm phát. Đó là kết quả của chính sách thắt chặt tiền tệ
Ngân hàng Nhà nước áp dụng suốt năm qua.
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3
Trang 20
- Các lần tăng lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu trong năm 2011 vừa
qua:
Ngày áp dụng Lãi suất tái cấp vốn Lãi suất tái chiết khấu
17/02/2011 11% 7%
08/03/2011 12% 12%
01/04/2011 13% 12%
01/05/2011 14% 13%
10/10/2011 15% 13%
- Năm 2011, NHNN đã 2 lần tăng lãi suất chiết khấu (từ 7% năm 2010 lên 13%),
4 lần tăng lãi suất tái cấp vốn (từ 9% lên 15%), 5 lần tăng lãi suất OMO (từ 8%
lên 15%). Lãi suất cơ bản đã được giữ nguyên 9% kể từ năm 2010.
- Quy định trần lãi suất 14%/năm khiến các NHTM gặp khó về thanh khoản và
phải đi vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao. Cá biệt, có những
thiếu thanh khoản, lại càng thêm khốn đốn. Không muốn phải thế chấp tài sản,
một số ngân hàng phải chạy đi tìm vay ở ngân hàng khác. Đó là lý do lãi suất
liên ngân hàng đã từng tăng lên đến 40%/năm kỳ hạn một tháng trong thời điểm
tuần cuối tháng 10 vừa qua. Việc tăng cường đòi hỏi điều kiện đi kèm theo việc
cho vay vốn không chỉ đẩy lãi suất liên ngân hàng lên cao, mà còn khiến các
ngân hàng co mình lại, giảm cho vay trên thị trường này, hoặc cho vay và đòi
hỏi lãi suất cao ngất. Cơ chế bảo đảm, thế chấp này lập tức tạo một không khí
ngột ngạt và ảnh hưởng tới sự điều hòa các dòng vốn trong hệ thống, căng
thẳng thanh khoản tại một số thành viên. Lý do xuất hiện đòi hỏi có thế chấp
trên liên ngân hàng, là trước đây thị trường liên ngân hàng chỉ là nơi giải quyết
những thanh khoản ngắn hạn như qua đêm, 1 tuần, nửa tháng, tối đa là 1 – 2
tháng. Nhưng một vài năm gần đây đã biến tướng, có những khoản vay cả năm
trời. Điều này không những cho thấy có thiếu hụt thanh khoản kéo dài trong hệ
thống, mà còn khiến tiền nằm trong hệ thống ngân hàng mà không đi ra nền
kinh tế phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh.
- Các ngân hàng nhỏ với tốc độ tăng trưởng nóng trong những năm trước, có xu
hướng vay ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Do đó, khi thị trường biến
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3
Trang 22
động, nguồn vốn khó khăn thì ngân hàng mất khả năng thanh khoản tạm thời.
Trước tình hình này, NHNN đã có hỗ trợ nhằm giúp cải thiện đáng kể khả năng
thanh khoản của các ngân hàng. Trong khi đó, HĐQT của 3 ngân hàng (Ngân
hàng Đệ Nhất, Ngân hàng Tín Nghĩa và Ngân hàng Thương mại cổ phần
(TMCP) Sài Gòn ) đã nhóm họp và đi tới quyết định tự nguyện sáp nhập thành
ngân hàng mới. Đây là 3 ngân hàng đầu tiên sáp nhập sau khi Chính phủ trong
phiên họp thường kỳ tháng 11 vừa qua cơ bản nhất trí với đề án tái cấu trúc hệ
thống ngân hàng thương mại nhằm tái cơ cấu toàn diện hệ thống ngân hàng cả
nước. Thực hiện việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, từ nay đến hết quý I-
2012, sẽ hoàn thành việc đánh giá, phân loại các ngân hàng.
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3
Trang 24
Lãi suất cơ bản giảm 5% so với cuối năm 2011, từ mức trần 14%/năm xuống 9%/năm.
Song song việc áp trần lãi suất huy động kỳ hạn ngắn, NHNN đã cho thả nổi lãi suất
kỳ hạn 12 tháng trở lên.
Các mức lãi suất điều hành khác cũng giảm mạnh. Lãi suất tái chiết khấu giảm
từ 13%/năm xuống còn 8%/năm trong khi lãi suất tái cấp vốn giảm từ 15%/năm xuống
10%/năm. Lãi suất cho vay giảm mạnh từ 3 – 8%/năm. Lãi suất cao nhất chỉ còn
15%/năm, theo chỉ đạo của NHNN. Cuối năm, lãi suất cho vay phổ biến từ 12 –
15%/năm.NHNN quy định trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VNĐ đối với 4 lĩnh
vực ưu tiên là nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công
nghiệp hỗ trợ ở mức không quá +/-3% lãi suất cơ bản.
và 3 nguyên phó chủ tịch Lê Vũ Kỳ, Trịnh Kim Quang, Phạm Trung Cang của ACB bị
khởi tố hồi tháng 8 và tháng 9 do cố ý làm trái quy định của Nhà nước gây hậu quả
kinh tế nghiêm trọng.
Vụ việc công ty cho thuê tài chính II thuộc Agribank gây thất thoát 3.600 tỷ
đồng bị phanh phui hồi năm ngoái và hiện vẫn còn nợ Bảo hiểm Xã hội Việt Nam hơn
1.000 tỷ đồng, cùng với nhiều vụ điều tra, khởi tố, xét xử các cán bộ nhân viên của nhà
băng này cũng là sự việc thu hút sự chú ý trong năm nay.
Năm 2012, NHNN đã có nhiều chính sách quản lý phù hợp bối cảnh chung
của nền kinh tế trong nước và quốc tế. Nhằm kìm hãm đà tăng trưởng tín dụng quá