Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Trong bất kỳ một nền kinh tế phát triển sôi động nào, vốn bao giờ cũng là
nguồn lực khan hiếm. Vì vậy sử dụng có hiệu quả nguồn vốn là mục tiêu của bất
kỳ nhà quản lý kinh tế nào, dù ở tầm vĩ mô hay vi mô. Tín dụng, nhất là trong
nền kinh tế thị trờng, là một trong những hình thức sử dụng vốncó hiệu quả nhất.
Nó giúp cho nguồn vốn luôn luôn vận động, có mật kịp thời ở những nơI, những
lúc cần thiết, nh mạch máu vận hành cơ thể kinh tế.
Tín dụng nói chung, tín dụng ngân hàng nói riêng ra đời có ý nghĩa cực kỳ
quan trọng đối với nền kinh tế. Nó góp phần thúc đẩy quá trình luân chuyển vổn
trong nền kinh tế, giải quyết mâu thuẫn vốn có của quá trình táI sản xuất xã hội,
trong thực tế cùng một lúc có những chủ thể thừa vốn, cũng có những chủ thể
thiếu vốn cần có vốn để đáp ứng những khoản chi tiêu hây kinh doanh của mình.
Tình trạng này nếu không đợc giải quyết nhanh thì nó sẽ làm cho quá trình sản
xuất bị ngng trệ, nền kinh tế kém phát triển. Ngày nay, trong thời kỳ Công nghiệp
hoá, Hiện đại hoá đất nớc, tín dụng dờng nh dã đáp ứng đợc những nhu cầu bức
xúc về vốn đó.
Còn ở nớc ta, sau cuộc khủng hoảng kinh tế, gặp rất nhiều khó khăn. Năm
1999 là mốc đánh dấu nền kinh tế bắt đầu phục hồi và vợt qua nhiều thử thách do
tác động bất lợi của cuộc khủng hoảng kinh tế, hạn hán, lũ lụt liên tiếp xảy ra.
Bên cạnh đó, nền kinh tế nớc ta còn gặp những khó khăn nh: sức hấp thụ vốn nền
kinh tế không tốt, sản phẩm kém sức cạnh tranh, khu vực dịch vụ tăng chậmcác
doanh nghiệp trong nớc bộc lộ nhiều yếu kém, đầu t nớc ngoài giảm sút, sự mất
cân đối mang tính cơ cấu ngày càng rõ nét, chỉ số hàng tiêu dùng giảm rõ rệt.
Đứng trớc tình hình nh vậy, chính sách tiền tệ nới lỏng đợc thực hiện, tín dụng
ngân hàng đợc u tiên về mọi mặt để cố gắng đáp ứng tốt đòi hỏi của nền kinh tế
nhng phảI vẫn có hiệu quả.
Với những vấn đề bức xúc đó, tín dụng ngân hàng luôn là vấn đề đợc
quan tâm và đặt lên hàng đầu đối với Đảng và Nhà nớc ta. Bởi nếu quan hệ tín
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
KháI quát về tín dụng và
tín dụng ngân hàng
1. Cơ sở lý luận về tín dụng:
1.1. Lịch sử ra đời và phát triển của tín dụng:
1.1.1. Lịch sử ra đời của tín dụng:
Tín dụng, chữ cái Latinh Credittium có nghĩa là tin tởng,tín nhiệm. Tiếng
Anh gọi là Credit. Còn theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam thì tín dụng có nghĩa là
sự vay mợn.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về sự ra đời của tín dụng. Nhng đặc
điểm chung của các ý kiến đó đều cho rằng tín dụng đợc ra đời từ rất sớm. Nếu có
sự so sánh sự ra đời giữa tiền tệ và tín dụng thì ta có thể khẳng định rằng tín dụng
có trớc tiền tệ. Thật vậy cuối thời kỳ công xã nguyên thuỷ diễn ra quá trình trao
đổi giữa H-H (gọi là trao đổi trực tiếp)góp phần thúc đẩy sự phân công lao động
sản xuất và kích thích chuyên môn hoá. Song sự hạn chế trong việc trao đổi trực
tiếp, đòi hỏi phải có sự trùng kép về nhu cầu giữa những ngời tham gia trao đổi về
thời gian, đặc điểm, cũng nh giá trị mang trao đổi. Khả năng trao đổi rất có hạn
vì chi phí cơ hội của việc giao dịch cao, khối lợng giao dịch ngày càng nhiều. Do
vậy ngời ta chuyển sang tín dụng gián tiếp, điều đó có nghĩa tiền tệ đã xuất hiện.
Đồng thời chính sự trao đổi gián tiếp đã làm xuất hiệ các tầng lớp khác nhau
trong xã hội. Xã hội lúc này chia ra hai giai cấp chủ yếu, đó là: ngời lao động trực
tiếp (là chủ yếu) và ngời lao động gián tiếp (là thứ yếu). Có thể nói rằng tín dụng
đã mang tính chất sơ khai của nó.
Sự xuất hiện tín dụng có thể do sự phân hoá giai cấp là bởi vì ngời lao
động trực tiếp,những ngời đi làm thuê để kiếm thu nhập cho mình, sản phẩm mà
họ làm ra phụ thuộc vào tự nhiên, sự may rủi... và họ lại phải trả một phần thu
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhập của mình cho ông chủ. Do đó thu nhập của những ngời lao động trực tiếp
này là rất thấp và bấp bênh. Đặc biệt khi mất mùa xảy ra, họ không có khoản thu
nhập của mình mà vẫn phải nộp sản phẩm theo sự phân phối lại. Họ muốn tồn tại
toán cả gốc và lãi. Qua đó ta khẳng định rằng tín dụng mang tính chất có hoàn trả
nhng mang tính không ngang giá (thu về khoản tiền lớn hơn khoản tiền ban đầu).
Đây là dấu hiệu cơ bản để nhận biết quan hệ tín dụng.
*Quan hệ tín dụng đợc xây dựng trên cơ sở sự tin tởng giữa ngời cho
vay và ngời đi vay. Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín
dụng, bởi vì có tin tởng thì họ mới cho vay, ở đây tin có nghĩa là họ sẽ thu hồi nợ
là một lợng giá trị lớn hơn lợng giá trị ban đầu.
Tín dụng theo nghĩa rộng bao gồm hai mặt là huy động vốn và tiến hành
cho vay. Trong hoạt động thực tiễn, quan hệ tín dụng đợc hình thành hết sức đa
dạng nhng ở bất cứ dạng nào tín dụng cũng luôn là một quan hệ kinh tế của nền
sản xuất hàng hoá, nó tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của
những quan hệ hàng hoá - tiền tệ. Mục đích và tính chất của tín dụng do mục đích
và tính chất của nền sản xuúât hàng hoá quyết định. Sự vận động của tín dụng
luôn luôn chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế của phơng thức sản xuất trong
xã hội đó.
1.1.3. Sự phát triển của tín dụng:
* Tín dụng nặng lãi:
Thời kỳ chiếm hữu nô lệ xuất hiện sự t hữu dẫn đến quan hệ vay mợn ra
đời dới hình thức cho vay nặng lãi. Hình thức này ra đời trong điều kiện sản xuất
thấp kém, có nhiều rủi ro. Vì vậy việc vay mợn xảy ra nhằm giải quyết những
khó khăn cấp bách trong đời sống, chẳng hạn nh mua lơng thực, đóng thuế... Còn
các tầng lớp khác đi vay là để giải quyết những thiếu hụt tạm thời với các nhu cầu
cao. Tín dụng nặng lãi nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của ngời đi
vay, không có tác dụng phục vụ cho sản xuất. Hình thức biểu hiện của vốn trong
quan hệ tín dụng nặng lãi biểu hiện rất đa dạng. Ví dụ cho vay bằng tiền, thu nợ
bằng tiền; cho vay bằng tiền thu nợ bằng hiện vật. Tín dụng nặng lãi xuất hiện ở
thời kỳ chiếm hữu nô lệ với mức cung tiền nhỏ hơn rất nhiều cầu tiền. Vay với
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
mọi giá và cha có quy định về lãi suất. Chủ nghĩa T bản ra đời lạI đẩy lùi tín dụng
của các cơ quan đoàn thể, các tổ chức xã hội và ngân sách các cấp. Quan trọng
nhất là bộ phận vốn để dành của mọi tầng lớp dân c trong xã hội. Trong khi đó
chính các chủ thể kinh tế này lại phát sinh nhu cầu bổ sung vốn để mở rộng sản
xuất, thực hiện thanh toán tiền hàng, mua sắm máy móc thiết bị, đảm bảo chi tiêu
đúng thời hạn khi tạm thời cha có khoản thu...
Các khoản vốn nhàn rỗi tạm thời cũng nh những nhu cầu vốn phát sinh rất
đa dạng về thời gian, số lợng, yêu cầu tính lỏng, mức rủi ro. Sự phát triển các
hình thức tín dụng phong phú cho phép thoả mãn yêu cầu chuyển nhợng vốn phức
tạp này. Bằng cách đó tín dụng thực chất là chiếc cầu nối liền nhu cầu tiết kiệm
với nhu cầu đầu t của xã hội.
1.2.2. Chức năng của tín dụng:
* Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc có hoàn
trả:
Theo chức năng này, tín dụng thu hút đại bộ phận tiền tệ nhàn rỗi trong
nền kinh tế và phân phối lại vốn đó dới hình thức cho vay để bổ sung vốn cho xí
nghiệp, cá nhân có nhu cầu về vốn nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh và tiêu
dùng. Trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế, phân phối lại vốn tín dụng đợc thực
hiện bằng hai cách là phân phối trực tiếp và phân phối gián tiếp.
Phân phối trực tiếp là phân phối từ chủ thể có vốn tạm thời cha sử dụng
sang chủ thể trực tiếp sử dụng vốn đó cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.
Phân phối gián tiép là việc phân phối vốn đợc thực hiện thông qua các tổ
chức tài chính trung gian.
* Chức năng tiết kiệm tiền mặt:
Trong nền kinh tế thị trờng, hoạt động tín dụng ngày càng mở rộng và phát
triển đa dạng, từ đó nó đã thúc đẩy việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt
và thanh toán bù trừ giữa các đơn vị kinh tế. Điều này sẽ làm giảm đợc lợng giáy
bạc trong lu thông và giảm đợc chi phí lu thông giấy bạc ngân hàng.
* Chức năng phản ánh một cách tổng hợp và khái quát quá trình hoạt động
của nền kinh tế, Mặt khác tín dụng còn đợc coi là một trong những công cụ quan
8
thanh toán đến hạn, bổ sung nhu cầu vốn lu động hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
cá nhân.
Đặc điểm của loại hình tín dụng này là có mức rủi ro thấp vì thời hạn hoàn
vốn nhanh tránh đợc các rủi ro về lãi suất, về lạm phát cũng nh sự bất ổn định của
môi trờng kinh tế vĩ mô. Do đó loại tín dụng này thờng có lãi suất thấp hơn so
với các loại tín dụng khác.
* Tín dụng trung và dài hạn:
Tín dụng trung và dài hạn là loại tín dụng có thời hạn dài, từ trên 1 năm
đến vài chục năm (tín dụng trung hạn có thời hạn từ trên 1 năm đén 5 năm; tín
dụng dài hạn có thời hạn từ trên 5 năm đến vài chục năm và dài hơn nữa).
Loại hình tín dụng này thờng đợc sử dụng để thực hiện quá trình tái sản
xuất theo chiều rộng hoặc chiều sâu làm tăng mức sản xuất và của cải xã hội. Vì
thời hạn dài và hiệu quả đầu t thờng là dự tính nên loại tín dụng này chứa đựng
mức rủi ro cao, kể cả rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống. Do có mức rủi ro cao nh
thế nên lãi suất của nó tăng lên cùng với thời hạn vay.
1.3.2. Căn cứ vào tính chất luân chuyển vốn:
Theo cách phân loại này, ta có hai loại hình quan hệ tín dụng là tín dụng
trực tiếp và tín dụng gián tiếp.
* Tín dụng trực tiếp:
Tín dụng trực tiếp thể hiện quan hệ chuyển nhợng vốn trực tiếp từ ngời sở
hữu vón sang ngời sử dụng vốn. Bằng cách đó ngời cho vay trực tiếp hởng lợi
nhuận cũng nh chịu rủi ro từ khoản vốn đầu t của mình.
Điểm thuận lợi của tín dụng trực tiếp là thủ tục vay và cho vay đơn giản,
thu nhập cao đối với ngời cho vay (không phải mất khoản chi phí cho tổ chức
trung gian). Song bất lợi của loạI hình tín dụng này là rủi ro cao và tính lỏng
kém.
* Tín dụng gián tiếp:
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tín dụng gián tiếp là quan hệ chuyển nhợng vốn gián tiếp từ ngời sở hữu
T - H ... SX ... H - T
- Công cụ lu thông là kỳ phiếu thơng mại (thơng phiếu)
- Tính chất luân chuyển vốn: trực tiếp chuyển nhợnh vốn nên nó
mang đầy đủ những lợi thế và bất lợi của tín dụng trực tiếp.
- Thời hạn: có thời hạn ngắn (1 tuần, 30 ngày, ... , nhỏ hơn 12
tháng), gọi là tín dụng ngắn hạn nên có quy mô nhỏ, điều kiện tín dụng và lãi
suất hết sức linh hoạt.
- Sự vận động và phát triển: Nó luôn luôn phù hợp với sự vận động
trong quá trình tái sản xuất.
- Tín dụng thơng mại chỉ diễn ra trong từng nhóm các nhà sản xuất
kinh doanh hàng hoá
-Tín dụng thơng mại chỉ diễn ra theo một chiều duy nhất.
Ưu điểm:
- Đẩy nhanh quá trình tiêu thụ hàng hoá.
- Đáp ứng ngay nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp đI vay để duy
trì liên tục quá trình sản xuất.
Từ 2 u điểm trên ta rút ra kết luận là tín dụng thơng mạI có tác dụng đẩy
nhanh quá trình tuần hoàn vốn, sử dụng vốn một cách có hiệu quả, Từ đó đẩy
nhanh tốc đọ tăng trởng.
- Tạo công cụ lu thông là thơng phiếu, do đó tiết kiệm điều kiện
đáng kể về khối lợng tiền mặt trong lu thông, giảm chi phí lu thông tiền mặt.
- Thủ tục vay đơn giản, điều kiện vay không chặt chẽ
Hạn chế:
- Quan hệ tín dụng thơng mại bị giới hạn về quy mô, thời hạn và
phơng hớng vận động: Quy mô của nó bị giới hạn trong phạm vi lợng giá trị hàng
hoá đợc bán chịu, lợng hàng hoá này lại phụ thuộc vào quy mô sản xuất của
doanh nghiệp. Thời hạn cho vay phụ thuộc vào sự ngắt quãng cho phép của chu
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kỳ kinh doanh của ngời bán chịu. Còn về phơng hớng vận động, nó chỉ vận động
để xây dựng các công trình và cơ sở hạ tầng.
+ Nguồn trả chủ yếu là nguồn thu từ thuế.
1.3.4. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng:
* Tín dụng sản xuất và lu thông hàng hóa: Đây là loạI tín dụng đợc cung cấp
cho các nhà doanh nghiệp để tiến hành sản xuất và kinh doanh.
* Tín dụng tiêu dùng: Là những quan hệ vay mợn giữa các Ngân hàng và các
đơn vị bán lẻ hàng hóa tiêu dùng thông qua hình thức trả dần hay trả chậm.
Đây là tín dụng chậm, phụ thuộc vào khả năng nắm bắt nguồn thu nhập
của ngời tiêu dùng, nó có độ rủi ro lớn và lãi suất cao. Loại hìn này khó có thể
phát triển, nó phụ thuộc vào những tiến bộ của khoa học kỹ thuật.
1.3.5. Căn cứ vào đối tợng tín dụng:
* Tín dụng vốn lu động: Là loạI tín dụng đợc cung cấp nhằm hình thành vốn lu
động của doanh nghiệp hay cho vay để bù đắp mức vốn lu động thiếu hụt tạm
thời.
* Tín dụng vốn cố định: Là loạI tín dụng đợc cung cấp nhằm hình thành vốn cố
định của doanh nghiệp.
2.Những vấn đề lý luận về tín dụng ngân hàng:
2.1. Khái niệm và bản chất tín dụng ngân hàng:
Khái niệm: Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhợng vốn giữa ngân
hàng với các chủ thể kinh tế khác trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò
vừa là ngời đi vay và vừa là ngời cho vay.
Bản chất: Tín dụng ngân hàng mang bản chất chung của tín dụng, đó là
quan hệ vay mợn có hoàn trả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ
chuyển nhợng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng và hai bên cùng
có lợi, ở đây tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mợn giữa ngân hàng và tất
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cả các doanh nghiệp, cá nhân khác. Mối quan hệ tín dụng này không phải là mối
quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu mà thông
qua cơ quan trung gian là NHTM.
Trong nền kinh tế thị trờng, tín dụng ngân hàng đóng một vai trò quan
trọng đợc biểu hiện cụ thể nh sau:
Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung điều hoà nguồn vốn giữa
các chủ thể kinh tế. Điều này đợc thể hiện ở việc vốn tiền tệ đợc lu chuyển từ nơi
thừa sang nơi thiếu nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất và tiêu dùng. Từ đó có thể
thấy tín dụng ngân hàng đã thúc đẩy sự tăng nhanh tốc độ lu thông hàng hoá và
chu chuyển tiền tệ.
Tín dụng ngân hàng cũng là công cụ chủ yéu để tài trợ, đầu t cho các
ngành kinh tế then chốt và các ngành, các vùng kinh tế kém phát triển. Muốn
phát triển phải có vốn, có công nghệ, mà ở các vùng kém phát triển thì chỉ có tìm
đến tín dụng ngân hàng là thuận lợi nhất, tín dụng ngân hàng cũng giúp cho các
ngành kinh tế then chốt có đợc lợng vốn đủ lớn để áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật hiện đại đẩy nhanh tốc độ phát triển.
Vì nguyên tắc có hoàn trả cả vốn và lãi của tín dụng ngân hàng nên nó góp
phần tác động tới các đơn vị sử dụng nguồn vay vốn ngân hàng có hiệu quả.
Bên cạnh đó tín dụng ngân hàng cũng thúc đẩy sự mở rộng và phát triển
ngành ngoạI thơng và góp phần bình ổn giá cả trong nền kinh tế
Một vai trò quan trọng nữa của tín dụng ngân hàng là tạo tiền trong nền
kinh tế thông qua bội số tiền gửi.
2.5. Các nguyên tắc của tín dụng ngân hàng:
Thực chất là quản lý tiền cho vay của hệ thống NHTM. Tiền cho vay có
một vai trò hết sức quan trọng, chiếm một tỷ lệ quy mô lớn trong tổng số tài sản
có của NHTM. Tiền cho vay thông thờng là khoản mục có tỷ lệ sinh lời cao đồng
thời có mức rủi ro cao nhất. Nó là khoản quyết định sự tồn tại và phát triển của
NHTM, do đó cần quản lý chặt chẽ khoản mục này.
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.5.1. Lựa chọn và giám sát:
Qúa trình lựa chọn: các hoạt động của ngân hàng của các cán bộ tín dụng
diễn ra trớc khi cho vay vốn. Trong quá trình lựa chọn đòi hỏi các cán bộ của
yếu tố khác không đổi. Còn lợi ích của khách hàng là đợc vay vốn với u đãi hơn
về lãi suất (vì khách hàng quen thuộc thì rủi ro thấp) và có thể vay dễ dàng hơn.
2.5.3. Thế chấp tài sản:
Ngân hàng muốn khoản cho vay của mình có thể đảm bảo và lợi tức, lãi
suất đợc thu hồi một cách đầy đủ, đảm bảo tín dụng bằng cách đa ra thế chấp tài
sản. Đây là một điều kiện ràng buộc các doanh nghiệp, khách hàng phải thực hiện
dự án sao cho có hiệu quả.
Ngân hàng chỉ cho vay với một tỷ lệ nhất định /giá trị tài sản thế chấp. Tỷ
lệ này tuỳ thuộc vào uy tín của khách hàng và tài sản thế chấp nh thế nào.
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng II:
Thực trạng hoạt động tín dụng của các
Ngân hàng thơng mạI việt nam hiện nay.
Trong thời gian qua, gắn với sự đổi mớivà thành tựu phát triển kinh tế, xã
hội của đất nớc, sự đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam
cũng đạt đợc những bớc tiến mới. Trớc đây là hệ thống ngân hàng một cấp với
hình thức cấp phát tín dụng, nay đã chuyển sang hệ thống ngân hàng hai cấp là
quản lý Nhà nớc và kinh doanh đầu t tín dụng theo đúng nghĩa của nó đáp ứng đ-
ợc nhu cầu lớn về vốn phát triển của nền kinh tế, đóng góp đáng kể cho ngân sách
Nhà nớc.
Sau 10 năm qua, hệ thống NHTM đã không ngừng đợc củng cố và phát
triển góp phần đẩy lùi lạm phát phi mã, ổn định giá cả đồng tiền, ổn định kinh tế
vĩ mô làm nòng cốt trong huy động vốn, phục vụ có hiệu quả nhu cầu kinh tế, xã
hội, xoá đói giảm nghèo, cảI thiện đời sống nhân dân.
Trong bối cảnh đầy khó khăn và thử thách của cơ chế thị trờng, rồi nền
kinh tế nớc ta còn ở trình độ thấp, đang chuyển đổi, phải vừa làm, vừa học; cộng
với những năm gần đây thiên tai dồn dập và phải chống đỡ với tác động mạnh của
cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế khu vực. Song NHTM Việt Nam vẫn giữ đợc