Website: Email : Tel : 0918.775.368
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
BỘ MÔN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
------
CHUYÊN ÐỀ TỐT NGHIỆP
Tên đề tài:
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU NÔNG SẢN VIỆT NAM: THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Họ và tên sinh viên: Đào Thị Ngát
Chuyên ngành: Thương mại quốc tế
Lớp: Thương mại quốc tế
Khóa: 47
Hệ: Chính quy
Giảng viên hướng dẫn: GS.TS Đặng Đình Đào
HÀ NỘI, NĂM 2009
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Trong những năm gần đây, nông nghiệp Việt Nam đã có bước tăng trưởng đáng
kể về sản xuất, tiêu dùng và đặc biệt là xuất khẩu nông sản. nhiều mặt hàng nông sản
xuất khẩu của Việt Nam có khối lượng đứng tốp đầu thế giới như mặt hàng gạo, cà
phê, hạt điều … nhưng điều bất cập là kim ngạch xuất khẩu còn kém nhiều nước
cùng xuất khẩu nông sản do hàng nông sản Việt Nam bị bất lợi về giá xuất khẩu. Thị
trường xuất khẩu cũng được mở rộng khắp thế giới: châu Âu, châu Á, châu Phi, châu
Mỹ và cả châu Úc nhưng mức độ thâm nhập sâu vào thị trường còn hạn chế. Tuy
nhiên, kết quả đó so với tiềm năng ngành nông nghiệp Việt Nam và nhu cầu tiêu
dùng của thế giới còn rất nhỏ bé, chưa tương xứng. Do đó cần phải khai thác và mở
rộng hơn nữa thị trường xuất khẩu cho hàng nông sản Việt Nam.
Bài chuyên đề xin tập trung đánh giá, phân tích thực trạng thị trường xuất khẩu
nông sản Việt Nam thời gian qua, từ đó chỉ ra những xu hướng, hạn chế tồn tại cũng
của các nước, nhưng cần hiểu như thế nào về CNH. Ngay từ năm 1963 Tổ chức phát
triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) đã đưa ra khái niệm qui ước về CNH:
“CNH là một quá trình phát triển kinh tế, trong đó một bộ phận nguồn lực ngày càng
tăng của đất nước được huy động để phát triển một cơ cấu kinh tế đa ngành với công
nghệ hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận chế biến luôn thay
đổi để sản xuất ra tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng có khả năng đảm bảo tốc độ tăng
trưởng cao cho toàn bộ nền kinh tế và sự tiến bộ về xã hội”.
Từ khái niệm qui ước trên đây, có thể đưa ra khái niệm khái quát nhất về CNH
như sau: “CNH là quá trình tác động của công nghiệp với công nghệ ngày càng hiện
đại vào hoạt động kinh tế và đời sống xã hội, làm biến đổi toàn bộ nền kinh tế, đưa
nền kimh tế từ nông nghiệp lạc hậu đến công nghiệp hiện đại”
Có thể xác định CNH bao hàm hai nội dung cơ bản:
Thứ nhất, CNH không chỉ là quá trình phát triển công nghiệp mà còn là quá
trình tác động của công nghiệp vào tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động kinh tế-
xã hội của đất nước, làm biến đổi toàn diện nền kinh tế, nhằm chuyển một nền kinh
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tế nông nghiệp là chủ yếu sang công nghiệp hiện đại, như vậy có thể nói CNH là sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước
Thứ hai, CNH là quá trình ứng dụng công nghệ mới, ngày càng hiện đại hơn vào
hoạt động kinh tế và đời sống xã hội nhằm cải biến phương tức lao động từ thủ công
lạc hậu tới tiên tiến hiện đại, tạo ra năng suất lao động ngày càng cao. Như vậy, có
thể nói CNH là sự chuyển dịch cơ cấu công nghệ trong sản xuất.
b.Vai trò của công nghiệp hóa với phát triển kinh tế xã hội.
Công nghiệp hóa tạo điều kiện cho đô thị hóa
Thông qua việc qui hoạch phát triển sản xuất công nghiệp, công nghiệp hóa thúc
đẩy quá trình phân bố lại dân cư ở các vùng, tạo điều kiện đô thị hóa đất nước.
Công nghiệp hóa với sự mở rộng sản xuất công nghiệp, theo đó là sự phát triển các
ngành dịch vụ. Sự phát triển của các ngành này đã thu hút một lượng lao động ở nông
Thông thường khả năng cạnh tranh được thể hiện rõ nhất ở yếu tố giá cả, nhưng
ngày nay điều đó chưa đủ. Do khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, tự động hóa và
công nghệ mới đã làm tăng năng suất lao động và giảm các yếu tố chi phí trực tiếp
trong giá trị sản xuất. Những chỉ tiêu như chất lượng sản phẩm, đổi mới sản phẩm đã
được tạo ra nhờ yếu tố công nghệ. Do đó năng lực cạnh tranh phụ thuộc rất nhiều vào
sự đổi mới công nghệ, khả năng áp dụng công nghệ mới trong sản xuất.
1.1.1.2.Công nghiệp hóa-hiện đaị hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ
2001-2010
a.Mục tiêu công nghiệp hóa-hiện đaị hóa nông nghiệp, nông thôn.
Mục tiêu tổng quát của CNH – HĐH nông nghiệp và nông thôn là xây dựng một
nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất
lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học -công nghệ
tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; Xây dựng nông thôn ngày càng
giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất
phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng cao.
CNH – HĐH nông nghiệp nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường. Thực hiện
cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ
trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các
Website: Email : Tel : 0918.775.368
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khâu sản xuất nông nghiệp, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh
tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường.
CNH – HĐH nông thôn nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng
tăng nhanh giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp – dịch vụ, giảm dần
tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái, tổ chức tái sản xuất
và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp
b.Phương hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
thuỷ lợi.
Phát triển mạnh mẽ mạng lưới giao thông trong cả nước, nhà nước có chính sách
hỗ
trợ thỏa đáng, cùng với các địa phương và đóng góp của nhân dân để phát triển mạnh
mạng lưới giao thông nông thôn.
Phát triển hệ thống điện nhằm cung cấp có hiệu quả, chất lượng điện cao cho nhu
cầu sản xuất và sinh hoạt ở nông thôn.
Phát triển các thị tứ, thị trấn trên địa bàn nông thôn để thực hiện chức năng trung
tâm công nghiệp, ngành nghề, dịch vụ, văn hoá-xã hội, hỗ trợ quá trình CNH-HĐH
nông thôn.
Đầu tư thoả đáng cho vùng nghèo, nhất là miền núi, vùng đồng bằng dân tộc thiểu
số để đạt được mục tiêu công bằng xã hội.
Xây dựng đời sống văn hóa – xã hội và phát triển nguồn nhân lực.Đẩy mạnh
phong trào xây dựng làng, xã văn hoá, phục hồi và phát triển văn hoá truyền thống,
duy trì tình làng, nghĩa xóm, sự giúp đỡ và hỗ trợ nhau phát triển trong cộng đồng
dân cư nông thôn.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả các thiết chế văn hoá, bảo vệ và tôn tạo các di tích lịch
sử, di sản văn hoá, danh lam thắng cảnh, đáp ứng yêu cầu hưởng thụ và phát huy tiềm
năng sáng tạo của nhân dân.
Phát triển công tác thông tin đại chúng và các hoạt động văn hoá, khuyến khích
động viên những nhân tố mới, kịp thời phê phán các hiện tượng tiêu cực trong xã hội,
xây dựng lối sống lành mạnh, bảo vệ thuần phong mỹ tục ở nông thôn.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đổi mới và nâng cao hệ thống giáo dục, y tế phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế
- xã hội nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ở nông thôn. Tăng ngân
sách cho giáo dục – đào tạo, đặc biệt vùng sâu, vùng xa, tạo điều liện nguời nghèo ở
nông thôn được học tập, phát triển trường nội trú cho con em dân tộc thiểu số có
chính sách tuyển chọn người giỏi để đào tạo cán bộ, công nhân phục vụ CNH – HĐH
nghệ lạc hậu, chậm đổi mới. Với công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản thì chủ yếu
là chế biến thô, chưa chế biến sâu, nhiều nông sản tỷ lệ chế biến còn thấp như chè
55%; rau quả: 5%; thịt: 1%. Với các ngành chế biến khác thì cơ cấu mặt hàng chế
biến còn nghèo, trình độ và chất lượng sản phẩm chế biến còn thấp.
- Khả năng cạnh tranh của sản phẩm do Việt Nam sản xuất còn kém.
- CNH, HĐH ở Việt Nam trong những năm qua đã tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng tiến bộ, nhưng chậm và hiệu quả chưa cao, chưa thúc đẩy sự liên kết
kinh tế giữa trong nước với nước ngoài, giữa các ngành kinh tế, các địa phương, các
doanh nghiệp.
1.1.2. Sự cần thiết phát triển thị trường xuất khẩu nông sản việt Nam.
Để phát huy lợi thế tuyết đối và lợi thế so sánh của đất nước về sản xuất và xuất
khẩu nông sản: Việt nam có nhiều lợi thế trong sản xuất và xuất khẩu nông sản. Cụ
thể:
Về đất đai: Việt Nam có diện tích đất nông nghiệp rộng lớn (khoảng 10-12 triệu
ha), đất ở Việt Nam có tầng dầy, kết cấu tơi xốp, nhiều chất dinh dưỡng cung cấp cho
cây trồng, nhất là phù xa. Những điều kiện này kết hợp nguồn nhiệt đới ẩm dồi dào
sẽ là điều kiện tốt để phát triển các loại cây trồng, thâm canh tăng vụ nếu chúng ta
biết biết khai thác một cách khoa học và hợp lý.
Về khí hậu: Việt Nam có khí hậu gió mùa do ảnh hưởng khá sâu sắc của chế độ
gió mùa châu Á. Khí hậu Việt Nam có tính đa dạng, phân biệt rõ ràng từ bắc xuống
nam. Đây là điều kiện thuận lợi để Việt Nam đa dạng hóa các loại cây trồng nông
nghiệp.
Cũng nhờ đặc trưng đất đai và khí hậu riêng biệt mà chỉ Việt Nam mới vậy đã tạo
cho các nông sản của Việt nam có các đặc trưng vượt trội về hương vị, chất lượng mà
các loại nông sản này của quốc gia khác không thể có được.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Về nhân lưc: Việt nam có cơ cấu dân số trẻ và chủ yếu sống bằng nghề nông
nghiệp. Người dân Việt Nam cần cù, sáng tạo, có khả năng lắm bắt khoa học công
trưòng trong nước đang bước vào giai đoạn bão hoà và suy thoái, cầu nội địa về hàng
nông sản đó giảm nhanh, kéo theo việc trượt giá nông sản. Tuy nhiên có thể khi đó
trên thị trường quốc tế mới chuẩn bị bước vàoviệc thu hoạch nông sản nhất định. Khi
đó cung nông sản trên thị trường còn nhỏ bé so với cầu nên thường đẩy giá lên cao.
Nếu chúng ta biết nắm bắt cơ hội này, cho xuất khẩu nông sản trong nước ra thị
trường quốc tế thì sẽ thu được nhiều lợi ích cho nhà sản xuất, nhà kinh doanh hơn
nhiều khi không xuất khẩu ra thị trường thế
giới.
Thúc đẩy cạnh tranh: Khi các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa ra thị trường
quốc tế thì họ không chỉ cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước mà còn phải
cạnh tranh với tất cả các đối thủ xuất khẩu nông sản trên toàn hế giới và các nhà sản
xuất nông sản tại thị trường nhập khẩu hàng nông sản Việt Nam. Để đứng vững trước
các đối thủ dày dặn kinh nghiệm thị trường và công nghệ sản xuất, quản lý tiên tiến
đó bắt buộc các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt nam, cũng như các nhà sản
xuất nông sản Việt Nam cũng phải thay đổi cung cách sản xuất kinh doanh để năng
cao sức cạnh tranh cho nông sản của mình và uy tin, vị thế của chính doanh nghiệp
mình.
Sử dụng khả năng dư thừa
Do quá trình sản xuất nông nghiệp là quá trình sản xuất kinh tế gắn liền với quá
trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ nhau,
song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp.
Mặt khác do sự biến động về thời tiết, khí hậu mỗi loại cây trồng lại có sự thích nghi
với điều kiện đó, dẫn đến những mùa vụ khác nhau. Vì vậy, hàng nông sản mang tính
chất thời vụ cao.
Thông thường khi đến vụ thu hoạch sản lượng nông sản tăng cục bộ, cung hàng nông
sản trông nước vượt xa cầu nội địa. Tuy nhiên, hàng nông sản phần lớn là cơ thể sống
cây trồng và vật nuôi nên chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, với mọi sự thay
đổi thời tiết. Vì vậy việc bảo quản nông sản chờ tiêu thụ tại thị trường trong nước sẽ
làm hao hụt lớn và giảm chất lượng nông sản. Việc phát triển thị trường xuất khẩu
Website: Email : Tel : 0918.775.368
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhất để nhập khẩu, công nghiệp hóa đất nước là xuất khẩu. Xuất khẩu quyết định qui
mô và tốc độ nhập khẩu.
Ở Việt Nam, thời kỳ 1986-1990 nguồn thu về xuất khẩu hàng hóa (một phần
không nhỏ là hàng nông sản) đảm bảo trên 70%nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu,
tương tự thời kỳ 1991-1995 là 66%, và 1996-2000 là 50%. Con số này tiếp tục tăng
vào các năm sau đó.
Trong tương lai nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng lên. Nhưng mọi cơ hội đầu tư và
vay nợ của nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ thuận lợi khi các chủ đầu tư và
người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu – nguồn vốn chủ yếu để trả nợ - trở
thành hiện thực.
1.2.1.2. Góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Để đánh giá tăng trưởng kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường, người ta có thể
sử dụng thước đo tăng trưởng kinh tế theo các chỉ tiêu của hệ thống tài sản quốc gia
(SNA).
Mà một trong số các chỉ tiêu quan trọng đó là chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Theo cách tiếp cận từ chi tiêu, GNP là tổng chi cho tiêu dùng cuối cùng của hộ gia
đình (C), chi tiêu của chính phủ (G), đầu tư tích lũy tài sản (I) và chi tiêu qua thương
mại quốc tế, tức là giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu (X-M).
GDP = C + G + I + (X – M)
Từ công thức trên có thể thấy kim ngạch xuất khẩu (X), trong đó có kim ngạch do
xuất khẩu nông sản mang lại, là một bộ phận trong kết cấu thu nhập quốc nội, nó tỷ lệ
thuận với thu nhập quốc nội. Có nghĩa là khi khi kim ngạch xuất khẩu nông sản càng
tăng sẽ góp phần làm tăng cao GDP, thể hiện được năng lực cạnh tranh của đất nước
về xuất khẩu. Như vậy kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng cao sẽ nâng cao tốc độ
tăng trưởng của nền kinh tế.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tăng. Do dó người sản xuất phải mở rộng hoạt động sản xuất nông nghiệp để tăng
lượng hàng nông sản đáp ứng nhu cầu thị trường. Vì khi xuất khẩu nông sản tăng sẽ
tạo nguồn thu lớn cho nhà sản xuất nên họ hoàn toàn có thể tăng vốn để tái sản xuất
mở rộng qui mô. Mặt khác do có nguồn thu lớn nên nhà sản xuất có điều kiện trang bị
các thiết bị, các công nghệ khoa học kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất. Chính điều đó
làm tăng năng suất, chất lượng, nâng cao giá trị hàng xuất khẩu, tăng trưởng ngành
nông nghiệp.
1.2.1.4. Góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu.
Nông sản hiện là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Hàng năm kim ngạch
do xuất khẩu nông sản mạng lại chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tổng kim ngạch xuất
khẩu nông sản nói chung mang lại chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tổng kim ngạch
xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, trung bình trong giai đoạn 2001-2008 chiếm
khoảng 22,64% tổng kim ngạch xuất khẩu. Riêng kim ngạch xuất khẩu nông sản
Website: Email : Tel : 0918.775.368
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
(không bao gồm lâm sản và thủy sản ) chiếm khoảng 9,17% tổng kim ngạch xuất
khẩu hàng hóa cả nước. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu nông sản về giá trị tuyệt đối
vẫn có xu hướng tiếp tục tăng những năm tới.
Bảng 1.2: Kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam một số năm gần đây (triệu USD)
Chỉ tiêu 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Trung
bình 2001-
2008
Tổng KN XK
hàng hóa
15029,2 16706,1 20149,3 26485 32447,1 39605 48561,462906,0 32736,1
Trong đó
KN xuất khẩu
nông sản
nghiệp.
1.2.1.6. Xuất khẩu nông sản tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ,
góp phần cho sản xuất nông nghiệp trên qui mô lớn, ổn định.
Xuất khẩu tạo điều kiện mở khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất nông
nghiệp: nhập khẩu phân bón, giống cây trồng mới, công nghệ sản xuất tiên tiến, nâng
cao năng lực sản xuất trong nước.
Thông qua xuất khẩu, hàng nông sản của Việt Nam sẽ tham gia vào cuộc cạnh
tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi
chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi được
với thị trường.
Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công
việc quản trị sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sản xuất mở rộng thị trường.
1.2.1.7. Tác động tích cực tới giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống
nhân dân.
Một trong những đặc điểm nổi bật của Việt Nam và môt số nước đang phát triển
khác là tốc độ tăng lực lượng lao động nhanh,từ đó việc làm luôn là vấn đề nóng cần
quan tâm của nền kinh tế. Tác động của xuất khẩu nói chung và xuất khẩu nông sản
nói riêng tới việc làm và đời sống bao gồm rất nhiều mặt. Quan trọng hơn cả là việc
xuất khẩu giải quyết đầu ra cho quá trình sản xuất. Do đó người sản xuất có thể thu
hồi được vốn để tiếp tục tái đầu tư và mở rộng qui mô kinh doanh. Từ đó giải quyết
công ăn việc làm cho thêm nhiều lao động.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mặt khác xuất khẩu nông sản kéo theo sự phát triển của ngành công nghiệp chế
biến, công nghiệp phục vụ nông nghiệp. Đó chính là nơi thu hút hàng triệu lao động
và mang lại cho họ nguồn thu nhập ổn định, không nhỏ.
Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ
trực tiếp đời sống và đáp ứng ngày một phong phù hơn nhu cầu của nhân dân.
1.2.1.8. Là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của
xuất khẩu ra nước ngoài mà thông qua các doanh nghiệp kinh doanh hàng nông sản
xuất khẩu hoặc các doanh nghiệp chế biến hàng nông sản chế biến xuất khẩu, các
doanh nghiệp này sẽ thu mua hàng của nông dân để chế biến hoặc xuất khẩu tươi.
Cung hàng nông sản của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào điều kiện thời tiết, khả
năng
sản xuất hàng nông sản của nông dân, năng lực của từng doanh nghiệp kinh doanh
hàng
nông sản xuất khẩu về vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý, tay nghề của lao
động. Ngoài ra cung hàng nông sản còn phụ thuộc trực tiếp vào chính sách xuất khẩu
hàng năm của chính phủ đối với từng mặt hàng nông sản xuất khẩu.
Cung hàng nông sản càng lớn thì áp lực bảo vệ và phát triển thị trường xuất khẩu
nông sản càng lớn. Các doanh nghiệp xuất khẩu và chính phủ càng cần tăng cường
xuất khẩu hơn. Mặt khác khi cung hàng nông sản của Việt Nam lớn thì Việt Nam
càng có nhiều cơ hội tác động đến giá cả thế giới hàng nông sản, khả năng cung lớn
và ổn định sẽ thu hút các khách hàng lớn nên việc mở rộng thị trường cũng thuận lợi
hơn.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng 1.3: Xuất khẩu một số hàng nông sản Việt Nam so với tổng nhập khẩu của thế
giới năm 2007(USD)
XK của Việt Nam Tổng NK của TG Tỷ trọng (%)
Gạo 1001101017 6651179232 15,05
Cà phê 1890559044 16950526371 11,15
Cao su 684529989 15069687066 4,54
Điều 531043714 2372657013 22,38
Tiêu 142186958 671857610 21,16
Chè 83074129 2736090301 3,04
Nguồn: Trung tâm Thông tin-Viện Chnhs sách và Chiến lược Phát triển NNNT
Hiện nay, Việt Nam cũng đã xây dựng được một số ngành hàng nông sản xuất
lo ngại về vấn đề sức khỏe và giá cả, thị phần thịt đỏ trong tổng số thịt tiêu dùng
giảm từ 79%/năm 1970 xuống còn 62% 30 năm sau đó. Tương tự, tiêu thụ rau quả
tính theo đầu người ở Mỹ giai đoạn 1997-1999 tăng 25%.
1.2.2.3. Mức giá thế giới hàng nông sản.
Việt Nam là một nền kinh tế qui mô nhỏ nên có đặc điểm là phải chấp nhận mức
giá thế giới khi xuất khẩu hang hoá ra thị trường thế giới. Khi mức giá hàng nông sản
thế giới biến động, ngay lập tức nó tác động tới hoạt động xuất khẩu nông sản của
VIệt Nam. Trao đổi với báo giới, TS. Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách
và Chiến lược, cho rằng, nhìn chung, giá nông sản rất nhạy cảm. Khi cung thiếu thì
giá tăng vọt và cung thừa giá cũng giảm rất nhanh chứ không co giãn như những mặt
hàng khác. Khi mức giá thế giới tăng cao thì nhu cầu tiêu dung một số mặt hàng nông
sản nhạy cảm với giá như: cà phê, chè, hạt tiêu… lượng tiêu thụ giảm theo sự tăng
giá đó. Ngay cả những mặt hàng ít nhạy cảm với giá như lương thực cũng giảm xút
do người tiêu dùng chi tiêu tiết kiệm hơn. Sự sụt giảm cầu thị trường này có thể thấy
rõ ở các nước nhập khẩu nông sản mà dân cư có mức thu nhập thấp như các nước
châu Phi, các nước Asean. Ngược lại, khi mức giá hàng nông sản xuống thấp thì dù
cầu có lớn thì thị trường xuất khẩu nông sản cũng khó có thể mở rộng vì mức giá
xuất khẩu thấp làm giảm lợi ích của nhà sản xuất và nhà xuất khẩu nên không khuyến
Website: Email : Tel : 0918.775.368
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khích họ sản xuất, xuất khẩu. Do đó lượng cung hàng nông sản của Việt nam giảm
gây ảnh hưởng đến việc duy trì, phát triển thị trường xuất khẩu.
Bảng 1.5: Giá của một số mặt hàng nông sản trên thế giới (USD/tấn)
Trung
bình
01/02-
05/06
07/08 08/09 09/10 10/11 11/12 12/13 13/14 14/15 15/16 16/17
Lúa mỳ 152 204.5 197.5 191.8 186.1 184.6 184.5 183.1 181.7 182.4 183.2
Nguồn: Báo cáo thường niên ngành nông nghiệp Việt Nam 2007 và triển vọng 2008
1.2.2.4. Yếu tố cạnh tranh trên thị trường nông sản
Mặc dù hiện nay Việt Nam là một quốc gia xuất khẩu một số nông sản lớn trên
thế giới nhưng khả năng cạnh tranh và khả năng tác động tới thị trường nông sản thế
giới còn nhỏ. Việ duy trì và phát triển thị trường xuất khẩu nông sản Việt Nam phụ
thuộc lớn vào sức cạnh tranh của các đối thủ. Các đối thủ có thể gây ảnh hưởng ở đây
gồm các nhóm:
Đối thủ tiền ẩm gia nhập ngành: Đó là các quốc gia hiện nay chưa xuất khẩu nông
sản nhưng họ có thể trở thành nước xuất khẩu những mặt hàng nông sản giống của
Việt Nam. Với những đột phá liên tục trong khoa học công nghệ, đặc biệt trong công
nghệ sinh học thì việc đối thủ tiềm ẩn của Việt Nam gia nhập ngành hoàn toàn có thể
có sức cạnh tranh hơn các doanh nghiệp Việt Nam nên chúng ta luôn luôn chủ động
tăng sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp và sản phẩm của mình
Khách hàng: Cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội thì nhu cầu của người tiêu
dùng ngày càng phong phú, đa dạng hơn và trình độ tiêu dùng sản phẩm cũng cao
hơn. Do đó họ yêu cầu ngày càng cao đối với sản phẩm, các yêu cầu có thể về vệ sinh
an toàn thực phẩm, về qui cách đóng gói, nhãn mác hoặc yêu cầu về sản phẩm liên
Website: Email : Tel : 0918.775.368
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quan tới các tiêu chuẩn và tác động tới môi trường. Bất kỳ một doanh nghiệp nào mà
không đáp ứng đước yêu cầu của người tiêu dùng, của công chúng thì xâm nhập thị
trường đã khó, nhiều khi là không thể thì nói chi đến cơ hội mở rộng và phát triển thị
trường. Đồng thời, nhu cầu của con người luôn biến đổi nên để muốn có được thị
phần lớn trên thị trường thì việc nghiên cứu và dự báo nhu cầu tương lai để chủ động
sản xuất và nhanh chóng tung ra thị trường sản phẩm đáp ứng nhu cầu mới đó trước
các đối thủ sẽ giúp doanh nghiệp thành công trên thị trường.
Các quốc gia đang sản xuất và xuất khẩu nông sản: Mặc dù, hàng nông sản Việt
Nam bước đầu đã tạo được chố đứng trên thị trường thế giới nhưng vị trí đó luôn bị
các đối thủ đe dọa. Nếu cạnh tranh về giá thì hàng nông sản Việt Nam luôn phải nép
Việt Nam
1.3.1.1. Yếu tố kinh tế
Thị trường tài chính thế giới.
Cuộc khủng hoảng tài chính nặng nề tại các thị trường chủ chốt như Mỹ, EU,
Trung Quốc, Nhật Bản... chính là nguyên nhân khiến sức cầu sụt giảm mạnh. Rắc rối
của hệ thống ngân hàng tại những thị trường lớn làm hạn chế khả năng thanh khoản
của các doanh nghiệp (DN) nhập khẩu hàng từ Việt Nam. Chính điều này làm thị
trường xuất khẩu nông sản Việt Nam tại nước khủng hoảng tài chính khó mà duy trì
thậm trí còn có thể sụt giảm kim ngạch.
Tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái là giá của một đơn vị tiền tệ của một quốc gia được tính bằng tiền
tệ của một quốc gia khác. Do đó, thông qua việc phản ánh tương quan giá trị đồng
tiền của các nước khác nhau mà tỷ giá hối đoái có được vai trò nhất định đối với quá
trình trao đổi ngang giá và cùng một loạt các nhân tố khác, nó tác động tương quan
giữa giá cả xuất khẩu với giá cả nhập khẩu tới khả năng cạnh tranh của các công ty.
Trong trường hợp tỷ giá hối đoái giảm xuống, có nghĩa là đồng bản tệ có giá trị
thấp hơn so với đồng ngoại tệ, nếu như không có các nhân tố khác ảnh hưởng thì sẽ
tác động khuyến khích xuất khẩu vì các nhà xuất khẩu sẽ nhận được lãi do đổi ngoại
tệ lấy đồng bản tệ đã bị rẻ đi, đồng thời có khả năng bán hàng hóa theo giá thấp hơn
giá thế giới, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh cho hàng hóa của nhà xuất khẩu
Website: Email : Tel : 0918.775.368
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trên thị trường thế giới. Nhưng đồng thời, tỷ giá tăng lên sẽ gây nhiều bất lợi cho
xuất khẩu, vì hàng xuất khẩu trỏ nên đắt khó bán ở thị trường nước ngoài.
Việc đồng USD tăng giá mạnh so với đồng Euro cũng gây sức ép lên giá nông sản
thế giới. Hiện nay so với tháng 5/2008, đồng USD lên giá đến 23% so với đồng Euro.
Do Hoa Kỳ là nước xuất khẩu nông sản lớn, và các nước xuất khẩu nông sản khác
chủ yếu cũng sử dụng đồng USD trong thương mại quốc tế, và thị trường EU là một
thị trường nông sản quan trọng do đó giá hàng nông sản khi vào EU trở nên đắt tương
sống...
ảnh hưởng nhiều đến hoạt động phát triển và mở rộng thị trường xuất khẩu của doanh
nghiệp. Bất kỳ -doanh nghiệp nào khi muốn thâm nhập vào thị trường nước ngoài
đều phải nghiên cứu kĩ vấn đề này bởi chúng có tác động sâu sắc và rộng rãi nhất đến
nhu cầu, hành vi tiêu dùng của khách hàng.
Nền văn hóa tạo nên cách sống của một cộng đồng sẽ quyết định cách thức tiêu
dùng, thứ tự ưu tiên cho nhu cầu muốn được thỏa mãn và cách thức thỏa mãn nhu
cầu của con người sống trong cộng đồng ấy. Các quốc gia khác nhau sẽ có nền văn
hóa khác nhau, do đó để thành công trong việc phát triển và mở rộng thị trường xuất
khẩu các doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ văn hóa – xã hội của từng thị trường. Qua
đó sẽ phân đoạn thị trường, chọn ra những đoạn thị trường phù hợp và đưa vào đó cơ
cấu mặt hàng xuất khẩu hợp lý nhằm thu lợi nhuận cao nhất.
1.3.1.3. Yếu tố chính trị, luật pháp
Tình hình chính trị và pháp luật của chính quốc gia xuất khẩu sẽ ảnh hưởng lớn
đến hoạt động xuất khẩu. Nó có thể tạo ra cơ hội kinh doanh, môi trường thuận lợi
cho các nhà sản xuất và nhà xuất khẩu, nhưng nó có thể tạo ra các trở ngại cho họ.
Về vấn đề bảo hộ hàng nông sản của các thị trường nhập khẩu nông sản của Việt
Nam: Cung với vấn đề tự do hóa kinh tế đã xuất hiện nhiều hình thức mới trong bảo
hộ mậu dịch tại các nước phát triển đối với hàng hóa nông, lâm, thủy sản - thường
được coi là nhạy cảm đối với nền kinh tế. Các nước thường sư dụng một số biện
pháp chủ yếu dưới đây để bảo hộ nông, lâm, thủy sản như: thuế quan, các hàng rào
định lượng, các biện pháp quản lý giá, các hàng rào ký thuật, hỗ trợ trong nước trong
nông nghiệp và trợ cấp xuất khẩu hàng nông sản xuất khẩu, các biện pháp phòng vệ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
25