Công nghiệp Việt Nam trong sự nghiệp công nghiêp hóa - hiện đại hóa - Pdf 32

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mở đầu
Trong các ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân thì công nghiệp là
một ngành sản xuất vật chất rất quan trọng. Nó bao gồm tất cả các ngành như: khai
thác và chế biến các tài nguyên thiên nhiên, các loại sản phẩm các ngành nông - lâm
- ngư nghiệp... thành các loại sản phẩm công nghiệp khác nhau. Sản phẩm của công
nghiệp là loại toàn bộ công cụ lao động, vật phẩm tiêu dùng nhằm thỏa mãn nhu
cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong xã hội.
“Công nghiệp trở thành một ngành sản xuất vật chất to lớn và độc lập. Đó là
kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội”.
Trong nền kinh tế hàng hoá nước ta hiện nay có nhiều thành phần kinh tế cùng
nhau tham gia hoạt động đan xen nhau theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước thì vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở nước ta là một tất yếu khách
quan của lịch sử nước nhà. Quá trình này diễn ra trong điều kiện nước ta là một
nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển, tụt hậu khá xa so với các
nước phát triển, thua kém nhiều đối với các nước trong khu vực về trình độ, khó
khăn về vấn đề vốn, thị trường tiêu thụ, kinh nghiệm vận hành theo nền kinh tế thị
trường và quản lý sản xuất kinh doanh theo cơ chế mới. Trong điều kiện như vậy
việc nghiên cứu “phát triển công nghiệp Việt Nam theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hóa” là rất cần thiết. Liệu Việt Nam có thể đi lên thành một nước tiên tiến
phát triển nhờ con đường công nghiệp hoá, hiện đại hóa dựa trên cơ sở công nghiệp
được hay không đó là vấn đề cần nghiên cứu.
Thực tế đã chứng minh, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa nền sản xuất
là điều kiện tiên quyết đối với hầu hết các nước muốn vươn lên hàng các quốc gia
có thu nhập bình quân đầu người cao. Tuy nhiên đây không phải là một quá trình
đơn giản, nó không đơn thuần là sự chuyển tiếp kinh tế, cơ cấu ngành sản xuất theo
hướng tăng tỷ lệ công nghiệp trên nông nghiệp trong phạm vi toàn quốc, mà là một
quá trình phức tạp, lâu dài. Đây là một quá trình chuyển đổi tổng thể, bao quát
nhiều vấn đề quan trọng của nền kinh tế vĩ mô mà sự thành công hay không của quá
trình này có tính quyết định đến mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hóa nền kinh tế
quốc dân.

2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nội dung
Nội dung
I/ Vai trò của công nghiệp trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa.
1. Ví trí và vai trò của công nghiệp:
Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân
bao gồm tất cả các ngành công nghiệp chuyên môn hóa, các xí nghiệp công nghiệp
thực hiện chức năng khai thác, chế biến, sửa chữa. Công nghiệp trở thành một
ngành sản xuất vật chất to lớn và độc lập. Đó chính là kết quả của sự phát triển lực
lượng sản xuất và phân công lao động xã hội.
Trong nền kinh tế hàng hóa phát triển, sản xuất công nghiệp hoạt động theo
nhu cầu của các quan hệ sản xuất hàng hóa như quy luật giá trị, quy luật cung cầu,
quy luật cạnh tranh,...
Công nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất cơ bản của nền kinh tế
quốc dân, trình độ phát triển của công nghiệp là một trong những tiêu chuẩn đanh
giá trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia.
Trong những năm qua, công nghiệp nước ta đã trải qua một quá trình lịch sử
đầy thử thách gay go, ác liệt để tồn tại và phát triển. Công nghiệp nước ta đã bước
đầu xây dựng được một số cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế. Sản xuất công
nghiệp với tư cách là ngành sản xuất vật chất độc lập được xuất hiện trong lịch sử
chỉ từ khi có sự phân công lao động xã hội lần thứ hai tách thủ công nghiệp khỏi
nông nghiệp. Trong quá trình phát triển, công nghiệp được vận động theo một trình
tự nhất định như sau:
Công nghiệp với tư cách là một loại lao động sản xuất nằm trong nông
nghiệp do người nông dân sử dụng thời gian nông nhàn để sản xuất ra các sản
phẩm công nghiệp có tính chất tự cấp tự túc phụ thuộc nền kinh tế nông nghiêp.
Như C. Mác đã chỉ ra đó là sự phụ thuộc có tính chất nguyên thủy của công nghiệp
đối với nông nghiệp .
Công nghiệp tách khỏi nông nghiệp dưới hình thức nghề thủ công độc lập.

ngành với tư cách là hình mẫu về sử dụng tư liệu sản xuất tiên tiến, hiện đại về
phương pháp quản lý mới, về ý thức tổ chức lao động...
Mặt khác, sản xuất công nghiệp là sản xuất chuyên môn hóa phân công lao
động và hiệp tác lao động chặt chẽ. Hình thức sở hữu là hình thức toàn dân còn
phân phối theo hình thức tiền lương: đây là hình thức phân phối tối ưu nhất và hình
thức tổ chức quản lý ở trình độ cao nên hình thành các nhà máy, các xí nghiệp công
nghiệp. Còn so với nông nghiệp, hình thức sở hữu là hình thức tập thể hoặc sở hữu
cá nhân, phân phối dưới hình thức hiện vật và hình thức tổ chức quản lý ở trình độ
thấp nên chỉ hình thành các hợp tác xã.
Trong cách mạng quan hệ sản xuất: công nghiệp quyết định sự phát triển của
các ngành kinh tế quốc dân chủ yếu lên sản xuất lớn, sản xuất hàng hóa. Công
nghiệp là ngành duy nhất trang bị công cụ lao động cho tất cả các ngành kinh tế
quốc dân.Vì vậy, tốc độ và sự phát triển của công nghiệp quyết định đến trình độ
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phát triển của lực lượng sản xuất, năng suất lao động và hiệu quả sản xuất. Đồng
thời quá trình đó cũng tác động tới quá trình phân công lao động. Trong lĩnh vực
cách mạng quan hệ sản xuất, công nghiệp có vai trò to lớn trong củng cố và hoàn
thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Công nghiệp có quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa tiên tiến nhất so với ngành kinh tế quốc dân khác về tất cả mọi mặt. Do
đó là mẫu mực để các ngành kinh tế quốc dân khác noi theo trong quá trình phát
triển của mình. Công nghiệp thông qua việc trang bị kỹ thuật cho các ngành kinh tế
(nhất là nông nghiệp) làm cho ngành kinh tế quốc dân phát triển mạnh mẽ. Như
vậy, sức mạnh của công nghiêp không chỉ có tác dụng củng cố và hoàn thiện quan
hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong bản thân công nghiệp mà còn có tác dụng to lớn
đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân .
Trong cách mạng khoa học kỹ thuật: "Công nghiệp giữ vai trò vô cùng to
lớn .Vai trò đó thể hiện chủ yếu ở việc đem các thanh quả của công nghệ áp dụng
vào các ngành kinh tế quốc dân bằng cách trang bị kỹ thuật cho nó làm cho các
ngành đó có những bước tiến mới về cơ sở vật chất kỹ thuật đẩy mạnh quá trình

nghĩa to lớn biểu hiện:
Trang bị cơ cở vật chất kỹ thuật, công cụ sản xuất ,máy móc hiện đại ,đáp ứng
kịp thời và thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa.
Thu hút lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp bằng cách đưa công nghiệp vào
nông nghiệp phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp trong nông thôn để tổ chức
chế biến sản xuất tư liệu tiêu dùng.
Thu mua và chế biến kịp thời nông sản hàng hóa để khuyến khích nông nghiệp
phát triển.
Tạo ra thị trường tiêu thụ nông phẩm hàng hóa của nông nghiệp và trao đổi
hàng công nghiệp tiêu dùng cho nhân dân.
Nhìn chung, công nghiệp Việt Nam chưa giữ được vai trò chủ đạo vì công cụ
lao động mà ngành công nghiệp trang bị và cung cấp cho các ngành khác còn bị hạn
chế, phần lớn phải nhập khẩu từ nước ngoài, lao động còn là thủ công. Năng suất,
trình độ kỹ thuật công nghệ, trình độ phân công lao động xã hội và hợp tác hóa đều
thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới “Công nghiệp nước ta còn nhỏ
yếu, số lượng cơ sở vật chất kỹ thuật đã được xây dựng là đáng kể song quá thấp so
với nhu cầu. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế , đặc biệt là cơ cấu ngành công
nghiệp diễn ra còn chậm. Tuy nhà nước có chủ trương về chuyển dịch cơ cấu và l
số định hướng nhằm thúc đẩy sự chuyển dịch đó; Nhưng nhìn chung, quá trình này
còn mang nặng tính tự phát , cơ cấu mới của ngành công nghiệp chưa được ổn định
thực sự. Kết cấu hạ tầng nước ta còn kém phát triển nền công nghiệp chưa thể phát
huy hết khả năng vốn có của mình. Trong những năm gần đây cơ sở vật chất của hệ
thống thông tin liên lạc đã được cải thiện đáng kể nhưng hệ thống thông tin liên lác
chưa được cải thiện một cách thích hợp, mạng lưới giao thông còn khó khăn, đường
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
xá, kho tàng bến bãi chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu.
Tuy nhiên công nghiệp Việt nam đã có một thời kỳ phát triển khá dài. Trong
quá trình đó công nghiệp đã phát huy được vai trò của mình là tạo ra một hệ thống
cơ sở vật chất đáng kể bao gồm nhiều ngành tạo được một hệ thống nối nhiều

7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
về diều kiện thuận lợi trong sản xuất ở các nước đòi hỏi bất kể nền kinh tế nào cũng
cần có sự trao đổi kết quả hoạt động lao động, Chính vì vậy cần phải mở rộng mối
liên hệ kinh tế giữa các nước, mở rộng thị trường thế giới.
Các nhân tố trên tạo thành một hệ thống phức tạp có quan hệ mật thiết với
nhau và đồng thời phát huy tác dụng ảnh hưởng đối với cơ cấu ngành công nghiệp.
Quá trình xây dựng và phát triển công nghiệp nước ta cũng là quá trình cải tiến cơ
cấu công nghiệp nói chung và cơ cấu ngành công nghiệp nói riêng. Vai trò
của công nghiệp trong sự nghiệp CNH-HĐH
Thực chất của CNH-HĐH:
Thực tiễn lịch sử đã chỉ rõ rằng để thủ tiêu tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, khai
thác tối ưu các nguồn lực và các lợi thế, bảo đảm nhịp độ tăng trưởng nhanh và ổn
định, giải quyết cơ bản các vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách,... Con đường để đạt
được nhanh nhất là công nghiệp hóa (CNH). Sự nghiệp CNH ở nước ta được bắt
đầu từ năm l960. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9/l960) của Đảng lao động
Việt Nam đã quyết định: “ Nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ ở Miền Bắc
nước ta là CNH xã hội chủ nghĩa , mà mấu chốt là ưu tiên phát triển công nghiệp
nặng". Trải qua quá trình lịch sử lâu dài thì quan điểm đó của Đảng vẫn tiếp tục
được thực hiện.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng cộng sản
Việt Nam đã coi “Công nghiệp hóa không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ
trọng của công nghiệp trong nền kinh tế mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với
đổi mới căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng nhanh hiệu quả cao và lâu
bền của toàn bộ nền kinh tế quốc dân" (KTQD) và cho đến Đại hội Đại biểu toàn
quốc lần thứ VIII Đảng ta đã quán triệt tư tưởng CNH: "Đẩy mạnh công nghiệp hóa
với nhịp độ tăng trưởng cao, bền vững và có hiệu quả"
(
1) và đại hội Đảng VIII đã
quyết định : "Tiếp tục nắm vững hai chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo

càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế
nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là
có một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng
tiêu dùng có khả năng bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao,
bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về kinh tế - xã hội" (dẫn theo Nguyễn Kế Tuấn l6). Định
nghĩa này đặt công nghiệp hóa trong bối cảnh chung của phát triển kinh tế với nội
dung cơ bản là phát triển cơ cấu kinh tế trên cơ sở công nghệ hiện đại nhằm đẩy
nhanh nhịp độ phát triển kinh tế đồng thời hướng vào việc thực hiện các mục tiêu
kinh tế - xã hội.
Kết luận : Có thể hiểu “Công nghiệp hóa" là một quá trình mà các xã hội
chuyển từ một kiểu kinh tế về chủ yếu dựa trên nông nghiệp với đặc điểm năng suất
thấp và tăng trưởng cực thấp hay không tăng trưởng sang một kiểu kinh tế về cơ
bản dựa trên công nghiệp với đặc điểm năng suất cao và tăng trưởng tương đối cao,
sự chuyển đó cũng là sự biến đổi hay chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế quốc dân
từ khu vực nông nghiệp là chủ yếu sang khu vực công nghiệp là chủ yếu và sự biến
đổi trong khu vực công nghiệp mà trước hết là công nghiệp chế tạo, sự chuyển đã
diễn ra nhờ sự xuất hiện ngày càng nhiều những công nghệ mới và việc áp dụng
ngày càng rộng rãi hơn những công nghệ đó; toàn bộ quá trình được đặt trong bối
cảnh chung của phát triển kinh tế và phát triển nói chung.
Ngày nay đối với các nước đi sau tình hình đã đổi khác, để giải quyết một vấn
đề trong công nghiệp hóa có rất nhiều giải pháp hay công nghệ để sẵn sàng đem ra
sử dụng; vấn đề ở đây là phải nắm bắt kịp thời những công nghệ hiện đại nhất phù
hợp với hoàn cảnh của đất nước. Do đó CNH gắn với HĐH là một khả năng, nhu
cầu mới của các nưóc đi sau như nước ta và nếu kết hợp tốt thì sẽ rút ngắn được rất
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhiều quá trình CNH .
Vậy HĐH là gì? hiện đại hóa (HĐH) là khắc phục sự lạc hậu một hiện tượng
mang tính hệ thống sự phát triển cũng là quá trình tổng hợp về các phương diện
kinh tế, văn hóa xã hội và chính trị.

nghệ. Đối với khu vực công nghệ truyền thống và cơ khí thì khuyến khích chủ yếu
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
bằng chính sách kinh tế, chính sách công nghệ, bằng các hoạt động thông tin phổ
biến, khoa học và công nghệ, bằng chính sách khuyến khích việc thâm nhập của
công nghệ truyền thống. Còn về mặt đầu tư của nhà nước để phát triển tiềm lực
khoa học và định hướng cho các hoạt động nghiên cứu triển khai chủ yếu là phải
tập trung vào công nghệ cao như: điện tử, tin học, công nghệ tin học, vật liệu mới,
cơ khí chính xác và tự động hóa,... để tạo mọi điều kiện cần thiết cho việc đi nhanh,
đi thẳng vào các ngành công nghệ cao không tự hạn chế trong phạm vi các điệu
kiện, tiền đề hiện có.
Để tìm hiểu sâu hơn về CNH ta tìm hiểu bản chất của CNH :
Công nghiệp hóa là một quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại
cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân. Trước hết, là những ngành chiếm vị trí trọng
yếu, do vậy phải gắn liền quá trình CNH với HĐH cả phần cứng và phần mềm của
công nghệ là quá trình xác định xã hội văn minh công nghiệp và cải tiến các ngành
kinh tế hoạt động theo phong cách của nền công nghiệp lớn hiện đại .HĐH là cái
đích vươn tới trong quá trình CNH - sự vươn lên về trình độ công nghệ lại bị ràng
buộc bởi yêu cầu đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội; HĐH chỉ là phương tiện để đạt
được mục tiêu của quá trình CNH.
Quá trình CNH không chỉ liên quan đến phát triển công nghiệp mà là quá trình
bao trùm tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động của một nước. Công nghiệp luôn
là ngành quan trọng như giai đoạn đầu các nước đang phát triển chỉ có lực lượng
công nghiệp nhỏ bé, sản xuất hàng tiêu dùng đơn giản và khai thác sản phẩm của tài
nguyên thiên nhiên. Công nghiệp luôn luôn giành được sự ưu tiên phát triển.Tuy
công nghiệp không đồng nhất với CNH nhưng không thể CNH nếu không phát triển
công nghiệp. Bởi vậy công nghiệp dấn dần chiếm vị trí hàng đầu, trong cơ cấu
KTQD.
Quá trình CNH trong bất cứ giai đoạn nào đều “vừa là quá trình kinh tế kỹ
thuật vừa là quá trình kinh tế xã hội". Thực hiện CNH sẽ thủ tiêu tình trạng lạc hậu

thế trong nước, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, xây dựng cơ cấu kinh tế, nhiều
ngành với nhiều trình độ khoa học công nghệ ngày càng hiện đại.
Bước vào những năm 60 thì các nước công nghiệp mới, châu á mới chỉ là nước
kém phát triển điển hình là thu nhập quốc dân thấp (Nam Triều Tiên năm 1961 đạt
87USD thua xa Việt Nam). Thế nhưng tới năm 1988 các nước này đã trở thành các
nước phát triển cùng Nhật và châu á. Giá trị tổng sản phẩm chung các ngành công
nghiệp mới châu á năm 1988 là 396 tỷ USD và dự tính tới năm 2000 là 1039 tỷ
USD lớn hơn giá trị sản phẩm của phần châu á còn lại. Tốc độ phát triển công
nghiệp của các nước ngày càng cao: Singapore: 12,2% từ năm 1965-1980 và hơn
6% từ năm 1980-1987; Nam Triều Tiên: 16.6% từ năm 1965-1980 và hơn 10% từ
năm 1980 -1985. Sự phát triển kinh tế của các nước này là do đã nhanh chóng
CNH đất nước.
Do vậy, tất yếu phải CNH-HĐH để đưa đất nước đi lên thoát khỏi tình trạng
yếu kém về kỹ thuật, lạc hậu về mọi mặt nhất là đối với những nước kém phát triển
như nước ta.
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong quá trình CNH-HĐH đất nước không thế thiếu được ngành sản xuất
công nghiệp. Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất to lớn trong nền KTQD, là
ngành cung cấp công cụ lao động cho tất cả các ngành khác nên các ngành khác
không thể phát triển nếu thiếu ngành công nghiệp. Chính vì lẽ này, trong quá trình
CNH-HĐH đất nước, phát triển công nghiệp luôn chiếm vị trí hàng đầu, luôn được
ưu tiên phát triển. Không thể CNH-HĐH đất nước nếu không phát triển ngành công
nghiệp vì không thể CNH-HĐH trên cơ sở nền kinh tế kém phát triển. Hai quá trình
luôn đi liền nhau và bổ trợ cho nhau.3. Kinh nghiệm CNH-HĐH của thế giới:
Lịch sử CNH được bắt đầu từ nước Anh có chiều dài 200 năm. Giờ đây các
nước CNH mới NICS ở châu á đã thực hiện thành công quá trình CNH đất nước
trong thời gian ngắn. Nước Anh cần 120 năm, các nước Tây Âu khác và Mỹ cần
trên dưới 80 năm, Nhật cần hơn 60 năm còn những con rồng châu á chỉ cần 20 năm.
ở các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng CNH đang là điều

Chính sách tích cực thâm nhập thị trường nước ngoài.
Có chính sách thu hút vốn đầu tư: Lý luận CNH chỉ ra là sự thành bại của quá
trình CNH là ở vấn đề vốn đầu tư và con người. Trong bối cảnh những năm 50 đến
cuối thập kỷ 90 xu hướng vận động của vốn đầu tư có sự thay đổi. Do nhiều lý do
khác nhau mà vốn đầu tư chuyển sang các nước công nghiệp phát triển. Song ở
hoàn cảnh đó các nước ASEAN đã thực hiện chính sách khuyến khích cho đầu tư
chảy vào nước mình:
Mở cửa không hạn chế đầu tư nước ngoài
Tạo môi trường đầu tư thuận lợi
Khuyến khích vật chất để thu hút vốn đầu tư
Đặc biệt phát triển các khu chế xuất để phát triển ngoại tệ thu hút vốn, giải
quyết công ăn việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu và khuyến khích khu vực kinh tế dân
tộc.
Chú trọng giáo dục văn hóa truyền thống và giáo dục hướng nghiệp cho người
lao động. Trước hết chính phủ chú trọng giáo dục luật pháp và truyền thống dân
tộc. Đặc biệt quan tâm đến giáo dục hướng nghiệp từ phổ thông đến đại học, thúc
đẩy áp dụng khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao trình độ cho người lao động. Cho
phép phát triển rộng rãi mạng lưới giáo dục đầu tư nghiên cứu khoa học kỹ thuật.
Chú trọng công nghiệp hướng về xuất khẩu đồng thời quan tâm đến phát triển
công nghiệp vừa và nhỏ. Quá trình này đòi hỏi phát triển mạnh mẽ các ngành công
nghiệp có kỹ thuật cao, có giá trị gia tăng lớn. Các ngành công nghiệp nhỏ chiếm tỷ
trọng nhỏ bé tuy vậy thị trường phát triển lại đòi hỏi quan tâm đến doanh nghiệp
nhỏ vì nhiều lý do và để khuyến khích phát triển công nghiệp nhỏ các nước đã:
Từng bước xóa bỏ quan niệm chưa đúng về vai trò của công nghiệp nhỏ.
Tăng cường vai trò của chính phủ để hỗ trợ việc cung cấp thông tin thị trường
cho doanh nghiệp nhỏ.
Hỗ trợ đào tạo cho công nghiệp nhỏ
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tổ chức Marketing quốc tế

lấy nông nghiệp làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý
1 Đảng Lao động Việt Nam . Nghị quyết Đại hội đại biểu to n quà ốc lần III,
1960.
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đồng thời ra sức phát triển công nghiệp và công nghiệp nhẹ”
2
. Chiến lược này được
củng cố và bổ sung qua các thời kỳ đại hội IV (12/1976) V(1981) và các hội nghị
trung ương, đại hội Đảng.
Để thực hiện chiến lược này, chúng ta đã tập trung mọi nguồn lực trong nước
và nước ngoài, chúng ta đã tập trung mọi nguồn lực trong nước và nước ngoài,
tranh thủ sự viện trợ và giúp đỡ của các nước bạn XHCN... chú trọng một khoảng
thời gian chúng ta đã hình thành được một nền kinh tế đa ngành, có các ngành quan
trọng như cơ khí, luyện kim, điện năng, khai thác than...
Trong thời kỳ 1961-1965 tốc độ tăng bình quân giá trị tổng sản lượng công
nghiệp là 13,4%, của nông nghiệp là 4,1%. Do vậy, tỷ trọng của công nghiệp trong
TNQD tăng 16% Năm 1957 lên 18,2%, năm 1960 và 22,2% năm 1965. Còn tỷ
trọng nông nghiệp giảm từ 44,3% năm 1957 xuống 42,3% (1960) và 41,7% (1965).
Đến năm 1964 miền Bắc nước ta đã căn bản giải quyết được vấn đề lương thực và
đáp ứng được 90% nhu cầu hàng tiêu dùng và đồng thời bắt đầu tạo nguồn tích lũy
trong nước. Trong những năm có chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ với chi phí
phát triển kinh tế vẫn tăng lên 5,7 lần so với năm 1955-1957, gấp 2,4 lần so với
1960 và 1,8 lần so với 1964. Nhà nước đã giành đến 80% tổng số vốn đầu tư cho
công nghiệp nặng trong năm 1960-1965. Vốn đầu tư cho công nghiệp nhóm A tăng
11,2 lần, nhóm B: 6,9 lần trong thời kỳ 1960-1965. Giá trị xuất khẩu thấp nền kinh
tế luôn ở tình trạng nhập siêu.
Những cơ sở đầu tiên của các ngành công nghiệp nặng quan trọng đã được xây
dựng và phát triển như điện, than, cơ khí, luyện kim, hóa chất, vật liệu xây dựng.
Tốc độ phát triển của các ngành công nghiệp thuộc nhóm A nhanh hơn tốc độ phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status