LUẬN VĂN: Công nghiệp Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước - Pdf 11


LUẬN VĂN:

Công nghiệp Việt Nam trong sự
nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại
hóa đất nước Mở đầu
Trong các ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân thì công nghiệp là
một ngành sản xuất vật chất rất quan trọng. Nó bao gồm tất cả các ngành như: khai
thác và chế biến các tài nguyên thiên nhiên, các loại sản phẩm các ngành nông - lâm
- ngư nghiệp thành các loại sản phẩm công nghiệp khác nhau. Sản phẩm của công

nghiệp hoá, hiện đại hóa theo hướng nào đây trong khi Việt Nam còn gặp nhiều khó
khăn như vậy?
Hướng chủ yếu để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở Việt Nam là phát
triển công nghiệp - là ngành có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và
nó cũng có vai trò to lớn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước.
Không thể nào công nghiệp hoá, hiện đại hóa nếu không có sự phát triển công nghiệp
vì công nghiệp hoá, hiện đại hóa không thể được thực hiện khi mà nền kinh tế lạc hậu
kém phát triển. Đồng thời quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa lại tạo điều kiện
cho công nghiệp ngày càng phát triển mạnh mẽ. Vì vậy việc nghiên cứu sự phát triển
công nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa là rất quan trọng và cần
thiết. Sau khi nghiên cứu môn học, em nhận thấy đề tài “Công nghiệp Việt Nam
trong sự nghiệp CNH-HĐH” là một đề tài rất lý thú. Nó đề cập tới một vấn đề vô
cùng quan trọng cần phải được quan tâm, nghiên cứu một cách kỹ lưỡng
(4)
.
Nguyện vọng chân thành và tha thiết của em khi làm bài viết cũng giống như
bao người làm sách đó là mong muốn có được những cuốn sách hay góp phần vào sự
trao đổi kiến thức cùng thế hệ trẻ - những người chủ của đất nước bước sang thế kỷ
21.
Trong nền kinh tế hàng hóa phát triển, sản xuất công nghiệp hoạt động theo nhu
cầu của các quan hệ sản xuất hàng hóa như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy
luật cạnh tranh,
Công nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất cơ bản của nền kinh tế
quốc dân, trình độ phát triển của công nghiệp là một trong những tiêu chuẩn đanh giá
trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia.
Trong những năm qua, công nghiệp nước ta đã trải qua một quá trình lịch sử
đầy thử thách gay go, ác liệt để tồn tại và phát triển. Công nghiệp nước ta đã bước
đầu xây dựng được một số cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế. Sản xuất công
nghiệp với tư cách là ngành sản xuất vật chất độc lập được xuất hiện trong lịch sử chỉ
từ khi có sự phân công lao động xã hội lần thứ hai tách thủ công nghiệp khỏi nông
nghiệp. Trong quá trình phát triển, công nghiệp được vận động theo một trình tự nhất
định như sau:
Công nghiệp với tư cách là một loại lao động sản xuất nằm trong nông
nghiệp do người nông dân sử dụng thời gian nông nhàn để sản xuất ra các sản phẩm
công nghiệp có tính chất tự cấp tự túc phụ thuộc nền kinh tế nông nghiêp. Như C.
Mác đã chỉ ra đó là sự phụ thuộc có tính chất nguyên thủy của công nghiệp đối với
nông nghiệp .
Công nghiệp tách khỏi nông nghiệp dưới hình thức nghề thủ công độc lập.
Nền sản xuất đó là nền sản xuất hàng hóa nhỏ. Quá trình phát triển công nghiệp từ nền sản xuất hàng hóa nhỏ lên nền đại công nghiệp cơ khí qua 3 giai đoạn đó là: hợp
tác giản đơn, công trường thủ công và đại công nghiệp cơ khí. Quá trình phát triển
của công nghiệp vừa thể hiện sự phát triển lực lượng sản xuất xã hội vừa thể hiện
trình độ phát triển của nền sản xuất hàng hóa trong sản xuất công nghiệp cũng như
ảnh hưởng của sự phát triển sản xuất công nghiệp đến trình độ phát triển sản xuất
hàng hóa nói chung của nền kinh tế quốc dân .
Nghiên cứu lịch sử phát triển công nghiệp cho thấy: “Công nghiệp không chỉ tái
sản xuất cơ sở vật chất cho xã hội mà còn tái sản xuất ra các quan hệ sản xuất khác

Trong cách mạng quan hệ sản xuất: công nghiệp quyết định sự phát triển của
các ngành kinh tế quốc dân chủ yếu lên sản xuất lớn, sản xuất hàng hóa. Công nghiệp
là ngành duy nhất trang bị công cụ lao động cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân.Vì
vậy, tốc độ và sự phát triển của công nghiệp quyết định đến trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất, năng suất lao động và hiệu quả sản xuất. Đồng thời quá trình đó
cũng tác động tới quá trình phân công lao động. Trong lĩnh vực cách mạng quan hệ
sản xuất, công nghiệp có vai trò to lớn trong củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất
xã hội chủ nghĩa. Công nghiệp có quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa tiên tiến nhất so
với ngành kinh tế quốc dân khác về tất cả mọi mặt. Do đó là mẫu mực để các ngành
kinh tế quốc dân khác noi theo trong quá trình phát triển của mình. Công nghiệp
thông qua việc trang bị kỹ thuật cho các ngành kinh tế (nhất là nông nghiệp) làm cho
ngành kinh tế quốc dân phát triển mạnh mẽ. Như vậy, sức mạnh của công nghiêp
không chỉ có tác dụng củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong
bản thân công nghiệp mà còn có tác dụng to lớn đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân .
Trong cách mạng khoa học kỹ thuật: "Công nghiệp giữ vai trò vô cùng to lớn
.Vai trò đó thể hiện chủ yếu ở việc đem các thanh quả của công nghệ áp dụng vào các
ngành kinh tế quốc dân bằng cách trang bị kỹ thuật cho nó làm cho các ngành đó có
những bước tiến mới về cơ sở vật chất kỹ thuật đẩy mạnh quá trình cách mạng khoa
học kỹ thuật của mình .
Trong lĩnh vực tư tưởng văn hóa: Công nghiệp là tiền đề vật chất để thay đổi
tận gốc các tư tưởng và văn hóa cũ, xây dựng tư tưởng và văn hoá mới, nânbg cao đời
sống vật chất và văn hóa của nhân dân góp phần bảo đảm sự phát triển và tiến bộ
đồng đều giữa các vùng: vùng miền núi - đồng bằng, thành thị - nông thôn, lao động trí óc - lao động chân tay, tạo sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân.
Ngoài ra trong các lĩnh vực khác: công nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng
trong quá trình phát triển của lĩnh vực đó. Trong quá trình chuyển hóa nền kinh tế từ
cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
thì vai trò chủ đạo của công nghiệp thể hiện ở các mặt sau:

lao động mà ngành công nghiệp trang bị và cung cấp cho các ngành khác còn bị hạn
chế, phần lớn phải nhập khẩu từ nước ngoài, lao động còn là thủ công. Năng suất ,
trình độ kỹ thuật công nghệ, trình độ phân công lao động xã hội và hợp tác hóa đều
thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới “Công nghiệp nước ta còn nhỏ
yếu, số lượng cơ sở vật chất kỹ thuật đã được xây dựng là đáng kể song quá thấp so
với nhu cầu. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế , đặc biệt là cơ cấu ngành công
nghiệp diễn ra còn chậm. Tuy nhà nước có chủ trương về chuyển dịch cơ cấu và l số
định hướng nhằm thúc đẩy sự chuyển dịch đó; Nhưng nhìn chung, quá trình này còn
mang nặng tính tự phát , cơ cấu mới của ngành công nghiệp chưa được ổn định thực
sự. Kết cấu hạ tầng nước ta còn kém phát triển nền công nghiệp chưa thể phát huy hết
khả năng vốn có của mình. Trong những năm gần đây cơ sở vật chất của hệ thống
thông tin liên lạc đã được cải thiện đáng kể nhưng hệ thống thông tin liên lác chưa
được cải thiện một cách thích hợp, mạng lưới giao thông còn khó khăn, đường xá,
kho tàng bến bãi chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu.
Tuy nhiên công nghiệp Việt nam đã có một thời kỳ phát triển khá dài. Trong
quá trình đó công nghiệp đã phát huy được vai trò của mình là tạo ra một hệ thống cơ
sở vật chất đáng kể bao gồm nhiều ngành tạo được một hệ thống nối nhiều doanh
nghiệp có sự kết hợp giúp đỡ lẫn nhau. Cơ cấu công nghiệp dần dần được hình thành
và cải biến cho phù hợp với nhu cầu của thị trường. Trong cơ cấu đã dần dần hình
thành một số ngành trọng điểm mũi nhọn có vai trò chi phối sự phát triển của công
nghiệp và của nền kinh tế. Đó là ngành công nghiệp nhiên liệu l6,4% giá trị tổng sản
lượng công nghiệp năm l995 so với l6,2% giá trị tổng sản lượng công nghiệp năm
l989.  Cơ cấu ngành công nghiệp :
Cơ cấu ngành công nghiệp có vai trò quan trọng trong việc phát huy vị trí chr
đạo của công nghiệp. Do đó, kế họach cơ cấu ngành công nghiệp là một bộ phận
trọng yếu trong kế hoạch hóa công nghiệp. Vì vậy để kế hoạch hóa kinh tế ngành
công nghiệp cần phải có sự nhận thức đầy đủ về các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu

Tực tiễn lịch sử đã chỉ rõ rằng để thủ tiêu tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, khai
thác tối ưu các nguồn lực và các lợi thế, bảo đảm nhịp độ tăng trưởng nhanh và ổn
định, giải quyết cơ bản các vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách, Con đường để đạt
được nhanh nhất là công nghiệp hóa (CNH). Sự nghiệp CNH ở nước ta được bắt đầu
từ năm l960. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9/l960) của Đảng lao động Việt
Nam đã quyết định: “ Nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ ở Miền Bắc nước ta là
CNH xã hội chủ nghĩa , mà mấu chốt là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng". Trải
qua quá trình lịch sử lâu dài thì quan điểm đó của Đảng vẫn tiếp tục được thực hiện.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng cộng sản Việt
Nam đã coi “Công nghiệp hóa không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của
công nghiệp trong nền kinh tế mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới
căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng nhanh hiệu quả cao và lâu bền của
toàn bộ nền kinh tế quốc dân" (KTQD) và cho đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ VIII Đảng ta đã quán triệt tư tưởng CNH: "Đẩy mạnh công nghiệp hóa với nhịp
độ tăng trưởng cao, bền vững và có hiệu quả"(1) và đại hội Đảng VIII đã quyết định :
"Tiếp tục nắm vững hai chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, đẩy
mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa".
Vậy CNH là gì ? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta hãy tham khảo thêm một số
câu trả lời đã có:
Theo một tác giả, B.Mazlish(13) thì công nghiệp hóa đã có được “hình thù”
của nó ở nước Anh vào đầu thế kỷ XIX (giai đoạn thứ nhất của lịch sử công nghiệp
hóa thế giới), cái hình thù đó nói một cách vắn tát là một quá trình: "được đánh dấu
bằng một sự chuyển động từ một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp sang một nền

(1) Trang 33- Văn kiện Đại hội Đảng VIII
(13)
(14) (15)
: Tài liệu tham khảo
nhờ sự xuất hiện ngày càng nhiều những công nghệ mới và việc áp dụng ngày càng
rộng rãi hơn những công nghệ đó; toàn bộ quá trình được đặt trong bối cảnh chung
của phát triển kinh tế và phát triển nói chung. Ngày nay đối với các nước đi sau tình hình đã đổi khác, để giải quyết một vấn
đề trong công nghiệp hóa có rất nhiều giải pháp hay công nghệ để sẵn sàng đem ra sử
dụng; vấn đề ở đây là phải nắm bắt kịp thời những công nghệ hiện đại nhất phù hợp
với hoàn cảnh của đất nước. Do đó CNH gắn với HĐH là một khả năng, nhu cầu mới
của các nưóc đi sau như nước ta và nếu kết hợp tốt thì sẽ rút ngắn được rất nhiều quá
trình CNH .
Vậy HĐH là gì? hiện đại hóa (HĐH) là khắc phục sự lạc hậu một hiện tượng
mang tính hệ thống sự phát triển cũng là quá trình tổng hợp về các phương diện kinh
tế, văn hóa xã hội và chính trị.
Hiện đại hóa kinh tế được quyết định bởi mức sống cao hơn do công nghiệp
công nghệ, trình độ chuyên môn cao trong sản xuất và năng suất lao động cao. Hiện
đại hoá kinh tế còn được biểu hiện ở sự gia tăng của vốn với quy mô tích lũy và đầu
tư hiện đại, sự tham gia rộng rãi vào thị trường trên cơ sở môut kết cấu hạ tầng hiện
đại về giao thông vận tải và thông tin liên lạc .
Hiện đại hóa kinh tế cũng không tách rời một bộ phận hành chính quản lý hữu
hiệu, một trình độ học vấn ngày càng nâng cao của người lao động, một sự phổ cập
rộng rãi các tri thức khoa học và đổi mới công nghệ .
Hiện đại hóa xã hội và chính trị là hoàn thiện cơ cấu xã hội, CNH các chức
năng của cả cơ chế xã hội, làm chuyển biến lối ứng sử của con người, thực hiện cuộc
cách mạng tri thức thông qua việc phát triển các phương tiện thông tin, tăng chi phí
giáo dục. Đảm bảo sự ổn định chính trị, tập trung quyền lực thực hiện vào nông
nghiệp để tiến hành cải cách và đổi mới một cách triệt để . Công nghiệp hóa là một
chuyển biến căn bản về kinh tế xã hội của đất nước. Không thể CNH với kỹ thuật cổ
điển và cơ chế quản lý cũ. ở thời điểm hiện nay, CNH nhất thiết phải gắn liền HĐH.
“Công nghiệp hóa” không chỉ là sự tăng thêm một cách đơn giản tốc độ và tỷ trọng

tới trong quá trình CNH - sự vươn lên về trình độ công nghệ lại bị ràng buộc bởi yêu
cầu đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội; HĐH chỉ là phương tiện để đạt được mục tiêu
của quá trình CNH.
Quá trình CNH không chỉ liên quan đến phát triển công nghiệp mà là quá trình
bao trùm tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động của một nước. Công nghiệp luôn là ngành quan trọng như giai đoạn đầu các nước đang phát triển chỉ có lực lượng công
nghiệp nhỏ bé, sản xuất hàng tiêu dùng đơn giản và khai thác sản phẩm của tài
nguyên thiên nhiên. Công nghiệp luôn luôn giành được sự ưu tiên phát triển.Tuy
công nghiệp không đồng nhất với CNH nhưng không thể CNH nếu không phát triển
công nghiệp. Bởi vậy công nghiệp dấn dần chiếm vị trí hàng đầu, trong cơ cấu
KTQD.
Quá trình CNH trong bất cứ giai đoạn nào đều “vừa là quá trình kinh tế kỹ thuật
vừa là quá trình kinh tế xã hội". Thực hiện CNH sẽ thủ tiêu tình trạng lạc hậu kinh tế
thấp kém về kinh tế. Đồng thời gắn với thủ tiêu tình trạng lạc hậu về xã hội, nâng cao
dân trí, mức sống của nhân dân đưa xã hội đến văn minh công nghiệp. Hai quá trình
này ràng buộc lẫn nhau, quá trình kinh tế kỹ thuật tạo điều kiện vật chất kỹ thuật cho
việc thực hiện các nội dung của quá trình kinh tế xã hội. Ngược lại quá trình kinh tế
xã hội góp phần tạo nên động lực cho quá trình kinh tế kỹ thuật.
Quá trình công nghiệp hóa cũng đồng thời là quá trình mở rộng quan hệ kinh tế
quốc tế. Trong điều kiện ngày nay mở rộng phân công lao động quốc tế và quốc tế
hóa đời sống kinh tế trở thành một xu thế phát triển ngày càng mạnh mẽ . Mỗi nước
là một bộ phận của hệ thống kinh tế thế giới ở tác động hỗ trợ ở mức độ khác nhau
của các nước khác và chịu ảnh hưởng của biến động kinh tế xã hội chung của thế
giới. Cần phải đạt được phát triển của kinh tế đất nước trong xây dựng hệ thống kinh
tế mở, tăng cường quan hệ thương mại quốc tế tham gia tích cực vào quá trình cạnh
tranh và liên kết KTQD. Về nguyên tắc việc thực hiện CNH phải dựa vào nguồn lực
trong nước trong nước là chủ yếu, phát huy lợi thế so sánh trong nước để tham gia
vào quá trình kinh tế quốc tế.

nghiệp. Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất to lớn trong nền KTQD, là ngành
cung cấp công cụ lao động cho tất cả các ngành khác nên các ngành khác không thể
phát triển nếu thiếu ngành công nghiệp. Chính vì lẽ này, trong quá trình CNH-HĐH
đất nước, phát triển công nghiệp luôn chiếm vị trí hàng đầu, luôn được ưu tiên phát
triển. Không thể CNH-HĐH đất nước nếu không phát triển ngành công nghiệp vì
không thể CNH-HĐH trên cơ sở nền kinh tế kém phát triển. Hai quá trình luôn đi liền
nhau và bổ trợ cho nhau.3. Kinh nghiệm CNH-HĐH của thế giới:
Lịch sử CNH được bắt đầu từ nước Anh có chiều dài 200 năm. Giờ đây các nước CNH mới NICS ở châu á đã thực hiện thành công quá trình CNH đất nước
trong thời gian ngắn. Nước Anh cần 120 năm, các nước Tây Âu khác và Mỹ cần trên
dưới 80 năm, Nhật cần hơn 60 năm còn những con rồng châu á chỉ cần 20 năm.
ở các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng CNH đang là điều
cấp bách sống còn. Từ một nước vẫn mang tính chất nông nghiệp lạc hậu, công
nghiệp nhỏ bé, tổng sản phẩm quốc dân theo đầu người vào loại thấp nhất thế giới
(220USD tính đến tháng 9/1993) chỉ bằng 1/9 Thái Lan, 1/14 Malaysia, 1/45 Đài
Loan thấp hơn Lào và Bănglađet. Tốc độ tăng trưởng bình quân của nước ta không
còn cách nào đi lên thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội văn minh ngoài
con đuờng CNH-HĐH. Nước ta là nước thực hiện CNH-HĐH sau các nước Châu Âu
và các nước công nghiệp mới châu á do vậy ta học được nhiều kinh nghiệm của các
nước đã trải qua và thành công trong quá trình CNH-HĐH. Sau đây chúng ta sẽ cùng
điểm qua một số kinh nghiệm về CNH-HĐH.
Kinh nghiệm quan trọng của quá trình CNH ở các nước ASEAN là rất linh hoạt
trong việc chuyển hướng CNH thay thế nhập khẩu sang CNH hướng về xuất khẩu.
Hầu hết các nước ASEAN sau khi giành được độc lập đều áp dụng mô hình hướng
nội. Để thực hiện chiến lược hàng xuất khẩu các nước đều tập trung phát triển công
nghiệp dân tộc, đẩy mạnh công nghiệp chế biến nguyên liệu hoặc lắp ráp các hàng
tiêu dùng đơn giản. Hàng công nghiệp chế tạo dùng cho xuất khẩu nhìn chung là
không đáng kể. Mặc dù có những đóng góp nhất định cho nền kinh tế song chiến lược

triển rộng rãi mạng lưới giáo dục đầu tư nghiên cứu khoa học kỹ thuật.
Chú trọng công nghiệp hướng về xuất khẩu đồng thời quan tâm đến phát triển
công nghiệp vừa và nhỏ. Quá trình này đòi hỏi phát triển mạnh mẽ các ngành công
nghiệp có kỹ thuật cao, có giá trị gia tăng lớn. Các ngành công nghiệp nhỏ chiếm tỷ
trọng nhỏ bé tuy vậy thị trường phát triển lại đòi hỏi quan tâm đến doanh nghiệp nhỏ
vì nhiều lý do và để khuyến khích phát triển công nghiệp nhỏ các nước đã:
Từng bước xóa bỏ quan niệm chưa đúng về vai trò của công nghiệp nhỏ.
Tăng cường vai trò của chính phủ để hỗ trợ việc cung cấp thông tin thị trường
cho doanh nghiệp nhỏ. Hỗ trợ đào tạo cho công nghiệp nhỏ
Tổ chức Marketing quốc tế
- áp dụng các chính sách khuyến khích doanh nghiệp nhỏ
Tăng cường sự điều tiết của Nhà nước vào CNH. Sự can thiệp của Nhà nước
vào CNH ở ASEAN là vừa phải theo chuẩn mực quốc tế. Mục tiêu của các nước này
là:
Điều tiết công nghiệp nhằm tăng tỷ lệ công nghiệp trong GDP, thay đổi cơ cấu
kinh tế và có lợi cho công nghiệp.
Phát triển công nghiệp cân đối nhằm xây dựng cơ cấu thị trường có sự cạnh
tranh, cân đối giữa các địa phương.
Giải quyết cơ bản về xã hội, cải tiến cuộc sống của người nghèo.
Giải quyết cân bằng dân tộc
Gia tăng thu nhập ngoại hối
Để thực hiện các nước này đã sử dụng biện pháp: Về tổ chức, thành lập ban đầu
từ BOI kết hợp quản lý kinh tế. Về chính sách kinh tế: có định hướng chiến lược cho
phát triển công nghiệp, can thiệp vào ngoại thương, bảo hộ kinh tế và can thiệp vào
thị trường lao động thông qua định mức lương tối thiểu, can thiệp vào thị trường vốn
thông qua ngân hàng Nhà nước quy định giá cả, thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
II/ Công nghiệp và quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam trong thời gian qua:

nặng trong năm 1960-1965. Vốn đầu tư cho công nghiệp nhóm A tăng 11,2 lần, nhóm
B: 6,9 lần trong thời kỳ 1960-1965. Giá trị xuất khẩu thấp nền kinh tế luôn ở tình
trạng nhập siêu.
Những cơ sở đầu tiên của các ngành công nghiệp nặng quan trọng đã được xây
dựng và phát triển như điện, than, cơ khí, luyện kim, hóa chất, vật liệu xây dựng. Tốc
độ phát triển của các ngành công nghiệp thuộc nhóm A nhanh hơn tốc độ phát triển

1 Đảng Lao động Việt Nam . Nghị quyết Đại hội đại
biểu toàn quốc lần III, 1960.
2 Đảng Lao động Việt Nam . Nghị quyết Đại hội đại
biểu toàn quốc lần III, 1960. chung của toàn ngành công nghiệp. Năm 1975 so với 1955 giá trị sản lượng ngành
điện lực gấp 22,3 lần, của ngành cơ khí gấp 59,8 lần và ngành hóa chất gấp 79,1 lần,
trong lúc toàn ngành công nghiệp chỉ tăng 16,2 lần. Một số vùng lãnh thổ đã hình
thành trung tâm công nghiệp như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Bắc, Việt Trì,
Thái Nguyên, Thanh Hóa, Vinh Dần dần hình thành nên những vùng công nghiệp
chuyên môn hóa, nhờ chủ trương kết hợp phát triển công nghiệp trung ương với công
nghiệp địa phương, nên hầu hết các tỉnh, thành phố, thị trấn đều phát triển công
nghiệp địa phương. Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân kỹ thuật tăng khá
nhanh, là vốn quý quan trọng cho quá trình CNH ở thời kỳ này và thời kỳ sau. Năm
1975 so với năm 1955 số cán bộ có trình độ đại học và trên đại học tăng nhanh hơn
129 lần, cán bộ có trình độ trung học chuyên nghiệp tăng gấp hơn 84 lần, công nhân
kỹ thuật năm 1975 tăng gấp 6 lần năm 1960.
Chúng ta đã cố gắng lớn trong việc tăng cường trang bị kỹ thuật và ứng dụng
khoa học trong các ngành kinh tế, hầu hết đều được trang bị máy móc thiết bị của
nước ngoài. Đi liền quá trình phát triển công nghiệp hàng loạt thành phố thị trấn đã
xuất hiện quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh. Thời giani này Đảng có chủ trương ưu
tiên phát triển hệ thống y tế, văn hóa, giáo dục.

dụng đến phát triển kinh tế - xã hội và CNH. Bình quân hàng năm sản xuất công
nghiệp tăng 0,5%; TNQD tăng từ 20,5% năm 1980 lên 30% năm 1985.
Giai đoạn từ năm 1986 đến nay:
Đây là thời kỳ đổi mới toàn diện và đồng bộ cả về nhận thức quan điểm và tổ
chức chỉ đạo thực hiện Đại hội lần thứ VI đã xác định rõ quan điểm và chủ trương,
phương hướng đổimới kinh tế - xã hội ở nước ta trong chặng đường đầu tiên của thời
kỳ quá độ lên CNXH, Đại hội khẳng định: “Tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết
cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường tiếp theo”2 và “Trước
mắt là kế hoạch 5 năm 1986-1990, phải thật sự tập trung sức người, sức của vào việc
thực hiện cho được 3 chương trình mục tiêu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu
dùng và hàng xuất khẩu”3.

1 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V
2 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V
3 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V Từ quan điểm và chủ trương mới trên Đảng và Nhà nước ta đã cụ thể hóa bằng
cơ chế và bằng các chính sách biện pháp thực hiện cụ thể là: chính sách kinh tế nhiều
thành phần, chính sách kinh tế đối ngoại và thu hút vốn đầu tư nước ngoài, chính
sách tài chính tiền tệ kiềm chế lạm phát, chuyển cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan
liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Nhờ vậy nền kinh tế đã vượt qua trạng thái suy giảm lạm phát đáng kể, điều
chỉnh cơ cấu kinh tế hợp lý hơn, tiếp tục công nghiệp hóa. Lạm phát từ mức 3 con số
năm 1986: 5887,2%; năm 1987:417,6% ; năm 1988: 410,9%; giảm xuống còn hai
con số năm 1989: 30%; năm 1990: 52,8%. Tốc độ tăng bình quân hàng năm của tổng
sản phẩm xã hội là 4,8%. Thu nhập quốc dân: 3,9%; giá trị tổng sản lượng công
nghiệp 5,2%, giá trị tổng sản lượng nông nghiệp 3,5%; giá trị xuất khẩu 28%; giá trị
nhập khẩu 8%. Một số mặt hàng xuất khẩu cơ bản được hình thành như dầu mỏ, than
đá, lâm hải sản, gạo. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong tất cả các lĩnh vực tăng nhanh.

nông nghiệp tăng 1,9%; xuất khẩu tăng 13,2%.
Sự phát triển công nghiệp trong những năm đổi mới không chỉ thể hiện ở tốc độ
tăng trưởng mà quan trọng hơn là ở sự chú trọng đổi mới công nghệ, tăng khả năng
cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp, và ở sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng sản
xuất gắn với thị trường trong và ngoài nước, phát triển nhanh các ngành có lợi thế so
sánh, các ngành có tác động đến sự phát triển chung của nền KTQD và đa dạng hóa
các loại hình tổ chức kinh doanh. Ngành dầu khí có sự phát triển vượt bậc, ngành
than có khối lượng xuất khẩu vượt 1,6 triệu tấn, ngành sản xuất điện phát triển mạnh,
ngành dệt và may mặc cũng phát triển phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm đã có bước tiến mới góp phần đưa sản
lượng gạo xuất khẩu đạt 2 triệu tấn.
Qua nghiên cứu hai giai đoạn phát triển của CNH ta thấy trong suốt 30 năm qu
quá trình CNH XHCN ở nước ta đã giành được thành tựu và thắng lợi. Kiên trì thực
hiện CNH không chỉ trong những năm hòa bình mà ngay cả trong thời kỳ chống
chiến tranh phá hoại. Bước đầu tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật trong các ngành KTQD

1 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên CNXH
2 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII nhất là trong công nghiệp (điện, dầu mỡ, xi măng, luyện kim ) thúc đẩy quá trình
thay đổi từ giản đơn, lạc hậu trì trệ kém hiệu quả, dần dần tiến tới một cơ cấu có
nhiều ngành, nhiều thành phàn trong những năm đàu của quá trình đổi mới CNH-
HĐH đã mang sắc thái mới, đã có sự điều chỉnh mục tiêu, nội dung và bước đầu
đồng bộ hóa, cụ thể bằng cơ chế và chính sách. Do vậy CNH-HĐH đã được tiến hành
phù hợp hơn với hoàn cảnh quốc tế và điều kiện khả năng trong nước, các tiềm năng
nguồn lực của đất nước bước đầu được khơi dậy, kinh tế phát triển thực chất hơn.
Tạo ra nguồn lao động và đội ngũ lao động dồi dào với trình độ dân trí được nâng
cao, tỷ trọng lao động có trình độ nghề nghiệp kỹ thuật ngày càng cao.

khẩu. Nhiều xí nghiệp đòi hỏi được trang bị và HĐH nhưng lại gặp phải khó khăn về
nguồn vốn đầu tư.
Phần lớn các xí nghiệp chỉ mới hoạt động 50%-60% công suất máy. Trình độ sử
dụng tài sản thấp phổ biến là làm việc 1 ca (36%). Hệ số sinh lợi của vốn cố định (lợi
nhuận trên 1000đồng VCĐ) trong năm 1989: bình quân toàn quốc đạt 70 đồng trong
đó công nghiệp chỉ đạt 30 đồng.
Sự phát triển quá lớn về lượng của các xí nghiệp công nghiệp địa phương càng
làm gay gắt thêm tình trạng mất cân đối của nền kinh tế và gây lãng phí lớn trong sử
dụng vốn đầu tư, tài nguyên, nguyên vật liệu. Hiện nay bình quân mỗi tỉnh, thành phố
có 60%-70% xí nghiệp công nghiệp, quá khả năng cho phép của một địa phương.
Tuy nhiên cùng với chính sách chuyển dịch cơ cấu, chuyển đổi cơ chế quản lý
kinh tế theo đường lối Đại hội lần thứ VII của Đảng đề ra, nhiều cơ sở kinh tế, nhất là
các xí nghiệp quốc doanh trung ương đang thích ứng dần với môi trường kinh doanh
mới, bước đầu duy trì, ổn định và phát triển sản xuất. Nhiều loại sản phẩm công
nghiệp chủ yếu tăng nhanh và chất lượng nâng lên rõ rệt, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị
trường như điện, than, dầu thô, máy biến thế, xi măng, động cơ điezen Điểm nổi
bật là hầu hết các xí nghiệp dần dần gắn sản xuất với thị trường, chú ý đầu tư chiều
sâu, đổi mới mặt hàng, quan tâm đến chi phí giá thành. Một số xí nghiệp bắt đầu làm
ăn có lãi thực sự và tăng nhanh khoản nộp cho ngân sách Nhà nước (như liên hiệp xí
nghiệp xi măng năm 1990 nộp ngân sách gấp 19 lần năm 1991). Nhiều điển hình tốt
xuất hiện như liên hiệp xí nghiệp dệt Long An; Liên hiệp xí nghiệp giày dép xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status