LUẬN VĂN:
Công nghiệp Việt Nam trong sự
nghiệp CNH-HĐH Phần I: Mở đầu
ở nước ta, từ Đại hội Đảng (năm 1960) đã đề ra chủ trương công nghiệp hóa để
tiến lên chủ nghĩa xã hội và qua một thời gian dài trên ba mươi năm qua thì chủ trương
đó của Đảng vẫn được quán triệt và thực hiện triệt để. Vậy chúng ta phải công nghiệp
hoá, hiện đại hóa theo hướng nào đây trong khi Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn như
vậy?
Hướng chủ yếu để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở Việt Nam là phát
triển công nghiệp - là ngành có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và nó
cũng có vai trò to lớn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Không
thể nào công nghiệp hoá, hiện đại hóa nếu không có sự phát triển công nghiệp vì công
nghiệp hoá, hiện đại hóa không thể được thực hiện khi mà nền kinh tế lạc hậu kém
phát triển. Đồng thời quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa lại tạo điều kiện cho
công nghiệp ngày càng phát triển mạnh mẽ. Vì vậy việc nghiên cứu sự phát triển công
nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa là rất quan trọng và cần thiết. Sau
khi nghiên cứu môn học, em nhận thấy đề tài “Công nghiệp Việt Nam trong sự
nghiệp CNH-HĐH” là một đề tài rất lý thú. Nó đề cập tới một vấn đề vô cùng quan
trọng cần phải được quan tâm, nghiên cứu một cách kỹ lưỡng
(4)
.
Nguyện vọng chân thành và tha thiết của em khi làm tiểu luận cũng giống như bao
người làm sách đó là mong muốn có được những cuốn sách hay góp phần vào sự trao
đổi kiến thức cùng thế hệ trẻ - những người chủ của đất nước bước sang thế kỷ 21.
Công nghiệp với tư cách là một loại lao động sản xuất nằm trong nông nghiệp do
người nông dân sử dụng thời gian nông nhàn để sản xuất ra các sản phẩm công nghiệp
có tính chất tự cấp tự túc phụ thuộc nền kinh tế nông nghiêp. Như C. Mác đã chỉ ra đó
là sự phụ thuộc có tính chất nguyên thủy của công nghiệp đối với nông nghiệp .
Công nghiệp tách khỏi nông nghiệp dưới hình thức nghề thủ công độc lập. Nền
sản xuất đó là nền sản xuất hàng hóa nhỏ. Quá trình phát triển công nghiệp từ nền sản
xuất hàng hóa nhỏ lên nền đại công nghiệp cơ khí qua 3 giai đoạn đó là: hợp tác giản
đơn, công trường thủ công và đại công nghiệp cơ khí. Quá trình phát triển của công
nghiệp vừa thể hiện sự phát triển lực lượng sản xuất xã hội vừa thể hiện trình độ phát
triển của nền sản xuất hàng hóa trong sản xuất công nghiệp cũng như ảnh hưởng của
sự phát triển sản xuất công nghiệp đến trình độ phát triển sản xuất hàng hóa nói chung
của nền kinh tế quốc dân .
Nghiên cứu lịch sử phát triển công nghiệp cho thấy: “Công nghiệp không chỉ tái
sản xuất cơ sở vật chất cho xã hội mà còn tái sản xuất ra các quan hệ sản xuất khác
nhau trên bước đường phát triển của mình. Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Tóm lại, công nghiệp là một phạm trù kinh tế với nhiều hình thức phát triển ở mức
độ khác nhau như: công nghiệp gia đình, thủ công nghiệp, tiểu công nghiệp, công
nghiệp hiện đại, công nghiệp tư bản chủ nghĩa, công nghiệp xã hội chủ nghĩa.
Nhưng đặc điểm chủ yếu của công nghiệp được biểu hiện trong việc áp dụng rộng
rãi các hình thức phân công có tính chất kỹ thuật, trong sản xuất, sản phẩm có sự tồn
tại của hệ thống máy móc, tính liên tục của quá trình sản xuất. Quá trình sản xuất sản
phẩm luôn luôn gắn với máy móc. Và từ khi đưa chi phí đầu vào đến khi ra sản phẩm
là một quá trình liên tục. Sản xuất công nghiệp có tính chuyên môn hóa nơi làm việc
cũng như tính đa dạng, nhiều vẻ của nghề nghiệp và chuyên môn hóa của công nhân .
Quá trình phát triển sản xuất công nghiệp cả về cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như
kinh tế xã hội đã khẳng định vai trò chủ đạo và từng bước phát huy vai trò chủ đạo của
ngành duy nhất trang bị công cụ lao động cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân.Vì
vậy, tốc độ và sự phát triển của công nghiệp quyết định đến trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, năng suất lao động và hiệu quả sản xuất. Đồng thời quá trình đó cũng
tác động tới quá trình phân công lao động. Trong lĩnh vực cách mạng quan hệ sản
xuất, công nghiệp có vai trò to lớn trong củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa. Công nghiệp có quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa tiên tiến nhất so với
ngành kinh tế quốc dân khác về tất cả mọi mặt. Do đó là mẫu mực để các ngành kinh
tế quốc dân khác noi theo trong quá trình phát triển của mình. Công nghiệp thông qua
việc trang bị kỹ thuật cho các ngành kinh tế (nhất là nông nghiệp) làm cho ngành kinh
tế quốc dân phát triển mạnh mẽ. Như vậy, sức mạnh của công nghiêp không chỉ có tác
dụng củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong bản thân công
nghiệp mà còn có tác dụng to lớn đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân .
Trong cách mạng khoa học kỹ thuật: "Công nghiệp giữ vai trò vô cùng to lớn .Vai
trò đó thể hiện chủ yếu ở việc đem các thanh quả của công nghệ áp dụng vào các
ngành kinh tế quốc dân bằng cách trang bị kỹ thuật cho nó làm cho các ngành đó có
những bước tiến mới về cơ sở vật chất kỹ thuật đẩy mạnh quá trình cách mạng khoa
học kỹ thuật của mình .
Trong lĩnh vực tư tưởng văn hóa: Công nghiệp là tiền đề vật chất để thay đổi tận
gốc các tư tưởng và văn hóa cũ, xây dựng tư tưởng và văn hoá mới, nânbg cao đời
sống vật chất và văn hóa của nhân dân góp phần bảo đảm sự phát triển và tiến bộ đồng
đều giữa các vùng: vùng miền núi - đồng bằng, thành thị - nông thôn, lao động trí óc -
lao động chân tay, tạo sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân.
Ngoài ra trong các lĩnh vực khác: công nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong
quá trình phát triển của lĩnh vực đó. Trong quá trình chuyển hóa nền kinh tế từ cơ chế
tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước thì vai
trò chủ đạo của công nghiệp thể hiện ở các mặt sau:
Công nghiệp là cơ sở tái sản xuất mở rộng cho toàn bộ nền kinh tế quốc
nghiệp phát triển.
Tạo ra thị trường tiêu thụ nông phẩm hàng hóa của nông nghiệp và trao
đổi hàng công nghiệp tiêu dùng cho nhân dân.
Nhìn chung, công nghiệp Việt Nam chưa giữ được vai trò chủ đạo vì công cụ lao
động mà ngành công nghiệp trang bị và cung cấp cho các ngành khác còn bị hạn chế,
phần lớn phải nhập khẩu từ nước ngoài, lao động còn là thủ công. Năng suất , trình độ
kỹ thuật công nghệ, trình độ phân công lao động xã hội và hợp tác hóa đều thấp so với
các nước trong khu vực và trên thế giới “Công nghiệp nước ta còn nhỏ yếu, số lượng
cơ sở vật chất kỹ thuật đã được xây dựng là đáng kể song quá thấp so với nhu cầu. Quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế , đặc biệt là cơ cấu ngành công nghiệp diễn ra còn
chậm. Tuy nhà nước có chủ trương về chuyển dịch cơ cấu và l số định hướng nhằm
thúc đẩy sự chuyển dịch đó; Nhưng nhìn chung, quá trình này còn mang nặng tính tự
phát , cơ cấu mới của ngành công nghiệp chưa được ổn định thực sự. Kết cấu hạ tầng
nước ta còn kém phát triển nền công nghiệp chưa thể phát huy hết khả năng vốn có của
mình. Trong những năm gần đây cơ sở vật chất của hệ thống thông tin liên lạc đã được
cải thiện đáng kể nhưng hệ thống thông tin liên lác chưa được cải thiện một cách thích
hợp, mạng lưới giao thông còn khó khăn, đường xá, kho tàng bến bãi chưa đáp ứng
đầy đủ nhu cầu.
Tuy nhiên công nghiệp Việt nam đã có một thời kỳ phát triển khá dài. Trong quá
trình đó công nghiệp đã phát huy được vai trò của mình là tạo ra một hệ thống cơ sở
vật chất đáng kể bao gồm nhiều ngành tạo được một hệ thống nối nhiều doanh nghiệp
có sự kết hợp giúp đỡ lẫn nhau. Cơ cấu công nghiệp dần dần được hình thành và cải
biến cho phù hợp với nhu cầu của thị trường. Trong cơ cấu đã dần dần hình thành một
số ngành trọng điểm mũi nhọn có vai trò chi phối sự phát triển của công nghiệp và của
nền kinh tế. Đó là ngành công nghiệp nhiên liệu l6,4% giá trị tổng sản lượng công
nghiệp năm l995 so với l6,2% giá trị tổng sản lượng công nghiệp năm l989.
Cơ cấu ngành công nghiệp :
cấu công nghiệp mỗi nước, đồng thời cũng tạo ra những thay đổi cơ cấu công
nghiệp trong thời kỳ. Phong tục, tập quán, truyền thống sản xuất công nghiệp ở
mỗi nước cũng được thể hiên rõ nét trong cơ cấu. Nhân tố này tác động gián
tiếp qua nhu cầu và là nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư.
Trình độ phân công lao động quốc tế , tính đa dạng của nhu cầu, sự
khác nhau về diều kiện thuận lợi trong sản xuất ở các nước đòi hỏi bất kể nền
kinh tế nào cũng cần có sự trao đổi kết quả hoạt động lao động, Chính vì vậy
cần phải mở rộng mối liên hệ kinh tế giữa các nước, mở rộng thị trường thế
giới.
Các nhân tố trên tạo thành một hệ thống phức tạp có quan hệ mật thiết với nhau và
đồng thời phát huy tác dụng ảnh hưởng đối với cơ cấu ngành công nghiệp. Quá trình
xây dựng và phát triển công nghiệp nước ta cũng là quá trình cải tiến cơ cấu công
nghiệp nói chung và cơ cấu ngành công nghiệp nói riêng.
2. Vai trò của công nghiệp trong sự nghiệp CNH-HĐH
+ Thực chất của CNH-HĐH:
Thực tiễn lịch sử đã chỉ rõ rằng để thủ tiêu tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, khai thác
tối ưu các nguồn lực và các lợi thế, bảo đảm nhịp độ tăng trưởng nhanh và ổn định,
giải quyết cơ bản các vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách, Con đường để đạt được nhanh
nhất là công nghiệp hóa (CNH). Sự nghiệp CNH ở nước ta được bắt đầu từ năm l960.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9/l960) của Đảng lao động Việt Nam đã quyết
định: “ Nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ ở Miền Bắc nước ta là CNH xã hội chủ
nghĩa , mà mấu chốt là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng". Trải qua quá trình lịch sử
lâu dài thì quan điểm đó của Đảng vẫn tiếp tục được thực hiện.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng cộng sản Việt
Nam đã coi “Công nghiệp hóa không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của
công nghiệp trong nền kinh tế mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới căn
bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng nhanh hiệu quả cao và lâu bền của toàn bộ
nền kinh tế quốc dân" (KTQD) và cho đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế
nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có
một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu
dùng có khả năng bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, bảo đảm
đạt tới sự tiến bộ về kinh tế - xã hội" (dẫn theo Nguyễn Kế Tuấn l6). Định nghĩa này
đặt công nghiệp hóa trong bối cảnh chung của phát triển kinh tế với nội dung cơ bản là
phát triển cơ cấu kinh tế trên cơ sở công nghệ hiện đại nhằm đẩy nhanh nhịp độ phát
triển kinh tế đồng thời hướng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội
(1)
Trang 33- Văn kiện Đại hội Đảng VIII
(13)
(14) (15)
: Tài liệu tham khảo
Kết luận : Có thể hiểu “Công nghiệp hóa" là một quá trình mà các xã hội chuyển
từ một kiểu kinh tế về chủ yếu dựa trên nông nghiệp với đặc điểm năng suất thấp và
tăng trưởng cực thấp hay không tăng trưởng sang một kiểu kinh tế về cơ bản dựa trên
công nghiệp với đặc điểm năng suất cao và tăng trưởng tương đối cao, sự chuyển đó
cũng là sự biến đổi hay chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế quốc dân từ khu vực nông
nghiệp là chủ yếu sang khu vực công nghiệp là chủ yếu và sự biến đổi trong khu vực
công nghiệp mà trước hết là công nghiệp chế tạo, sự chuyển đã diễn ra nhờ sự xuất
hiện ngày càng nhiều những công nghệ mới và việc áp dụng ngày càng rộng rãi hơn
những công nghệ đó; toàn bộ quá trình được đặt trong bối cảnh chung của phát triển
kinh tế và phát triển nói chung.
Như vậy, công nghiệp hoá là cả một giai đoạn biến đổi xã hội dựa trên cơ sở dthay
thế lao động thủ công bằng máy móc nhằm mục đích nâng cao hiệu suất lao động của
đại, sự tham gia rộng rãi vào thị trường trên cơ sở môut kết cấu hạ tầng hiện đại về
giao thông vận tải và thông tin liên lạc .
Hiện đại hóa kinh tế cũng không tách rời một bộ phận hành chính quản lý hữu
hiệu, một trình độ học vấn ngày càng nâng cao của người lao động, một sự phổ cập
rộng rãi các tri thức khoa học và đổi mới công nghệ .
Hiện đại hóa xã hội và chính trị là hoàn thiện cơ cấu xã hội, CNH các chức năng
của cả cơ chế xã hội, làm chuyển biến lối ứng sử của con người, thực hiện cuộc cách
mạng tri thức thông qua việc phát triển các phương tiện thông tin, tăng chi phí giáo
dục. Đảm bảo sự ổn định chính trị, tập trung quyền lực thực hiện vào nông nghiệp để
tiến hành cải cách và đổi mới một cách triệt để .
Công nghiệp hóa là một chuyển biến căn bản về kinh tế xã hội của đất nước.
Không thể CNH với kỹ thuật cổ điển và cơ chế quản lý cũ. ở thời điểm hiện nay, CNH
nhất thiết phải gắn liền HĐH. “Công nghiệp hóa” không chỉ là sự tăng thêm một cách
đơn giản tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền KTQD mà là cả một
quá trình chuyển dịch cơ cấu, gắn liền với đổi mới công nghệ tạo nền tảng cho sự phát
triển sản xuất bền vững và có hiệu quả cao của toàn bộ nền KTQD, CNH phải biết đi
đôi với HĐH kết hợp những bước tiến tuần tự về công nghiệp vận dụng phát triển
chiều rộng và tạo nhiều công ăn việc làm cho đội ngũ lao động hiện nay với việc tranh
thủ những cơ hội đi tắt, đón đầu phát triển chiều sâu tạo nên những mũi nhọn theo
trình độ tiến triển của khoa học công nghiệp thế giới.
Nói đến HĐH là nói đến một quá trình lâu dài đầy gian khổ của việc cải biến một
xã hội cổ truyền thành xã hội hiện đại có trình độ văn minh cao hơn thể hiện đầy đủ
hơn những giá trị chung mà nhân loại vươn tới. Các nước khác thì có thể tiến hành
CNH theo hình thức khác nhau bằng con đường không hoàn toàn giống nhau.
Trong quá trình CNH gắn với HĐH ở nước ta hiện nay một vấn đề cần phải được
nhận thức một cách đúng đắn là vừa phải đi vào công nghiệ hiện đại. Phải coi trọng cả
khu vực công nghệ truyền thống và cơ khí thông thường lẫn khu vực công nghệ. Đối
kỹ thuật vừa là quá trình kinh tế xã hội". Thực hiện CNH sẽ thủ tiêu tình trạng
lạc hậu kinh tế thấp kém về kinh tế. Đồng thời gắn với thủ tiêu tình trạng lạc
hậu về xã hội, nâng cao dân trí, mức sống của nhân dân đưa xã hội đến văn
minh công nghiệp. Hai quá trình này ràng buộc lẫn nhau, quá trình kinh tế kỹ
thuật tạo điều kiện vật chất kỹ thuật cho việc thực hiện các nội dung của quá
trình kinh tế xã hội. Ngược lại quá trình kinh tế xã hội góp phần tạo nên động
lực cho quá trình kinh tế kỹ thuật.
Quá trình công nghiệp hóa cũng đồng thời là quá trình mở rộng quan hệ
kinh tế quốc tế. Trong điều kiện ngày nay mở rộng phân công lao động quốc tế
và quốc tế hóa đời sống kinh tế trở thành một xu thế phát triển ngày càng mạnh
mẽ . Mỗi nước là một bộ phận của hệ thống kinh tế thế giới ở tác động hỗ trợ ở
mức độ khác nhau của các nước khác và chịu ảnh hưởng của biến động kinh tế
xã hội chung của thế giới. Cần phải đạt được phát triển của kinh tế đất nước
trong xây dựng hệ thống kinh tế mở, tăng cường quan hệ thương mại quốc tế
tham gia tích cực vào quá trình cạnh tranh và liên kết KTQD. Về nguyên tắc
việc thực hiện CNH phải dựa vào nguồn lực trong nước trong nước là chủ yếu,
phát huy lợi thế so sánh trong nước để tham gia vào quá trình kinh tế quốc tế.
CNH không phải là mục đích tự thân mà là phương thức có tính chất
phổ biến để thực hiện mục tiêu của mỗi nước. Đó là xây dựng cơ sở vât chất kỹ
thuật ngày càng hiện đại, khai thác có hiệu quả nguồn lực của đất nước, bảo
đảm nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội nhanh và ổn định cải thiện đời sống vật
chất và tinh thần cho nhân dân. Mục tiêu cụ thể của mỗi nước phụ thuộc quan
điểm của hệ thống chính trị lãnh đạo, quy mô phương hướng, nhịp độ CNH phụ
thuộc vào quan điểm chính trị xã hội của đất nước.
Từ những hiểu biết về CNH ta thấy được tính tất yếu phải CNH, HĐH. Công
nghiệp hoá, hiện đại hóa là con đường thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn với các nước
xung quanh, thoát khỏi cảnh một nước kém phát triển nghèo đói, giữ được ổn định
chính trị xã hội, bảo vệ được độc lập chủ quyền và định hướng xã hội chủ nghĩa; CNH
là một quá trình tất yếu của lịch sử nhằm tạo nên những chuyển biến căn bản về kinh
tế - xã hội của đất nước trên cơ sở khai thác các nguồn lực và lợi thế trong nước, mở
bách sống còn. Từ một nước vẫn mang tính chất nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp nhỏ
bé, tổng sản phẩm quốc dân theo đầu người vào loại thấp nhất thế giới (220USD tính
đến tháng 9/1993) chỉ bằng 1/9 Thái Lan, 1/14 Malaysia, 1/45 Đài Loan thấp hơn Lào
và Bănglađet. Tốc độ tăng trưởng bình quân của nước ta không còn cách nào đi lên
thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội văn minh ngoài con đuờng CNH-HĐH.
Nước ta là nước thực hiện CNH-HĐH sau các nước Châu Âu và các nước công nghiệp
mới châu á do vậy ta học được nhiều kinh nghiệm của các nước đã trải qua và thành
công trong quá trình CNH-HĐH. Sau đây chúng ta sẽ cùng điểm qua một số kinh
nghiệm về CNH-HĐH.
Kinh nghiệm quan trọng của quá trình CNH ở các nước ASEAN là rất
linh hoạt trong việc chuyển hướng CNH thay thế nhập khẩu sang CNH hướng
về xuất khẩu. Hầu hết các nước ASEAN sau khi giành được độc lập đều áp
dụng mô hình hướng nội. Để thực hiện chiến lược hàng xuất khẩu các nước đều
tập trung phát triển công nghiệp dân tộc, đẩy mạnh công nghiệp chế biến
nguyên liệu hoặc lắp ráp các hàng tiêu dùng đơn giản. Hàng công nghiệp chế
tạo dùng cho xuất khẩu nhìn chung là không đáng kể. Mặc dù có những đóng
góp nhất định cho nền kinh tế song chiến lược phát triển kinh tế hướng nội của
các nước ASEAN không có hiệu quả. Hàng công nghiệp sản xuất không thể
xuất khẩu ra nước ngoài, không cạnh tranh được thị trường thế giới. Trong khi
đó các nước NICS ở đó và Bắc á nhờ chiến lwợc phát triển hướng ngoại đã đưa
nền kinh tế ở đây phát triển nhanh chóng. Điều này tác động đến chiến lược
phát triển của các nước ASEAN.
Vào thập kỷ 60 các nước ASEAN áp dụng chiến lược phát triển CNH hướng về
xuất khẩu và được đẩy mạnh thực hiện vào thập kỷ 80. Điểm nổi bật là kết hợp sản
phẩm nông nghiệp truyền thống, sản phẩm sử dụng nhiều lao động với sản phẩm có
hàm lượng kỹ thuật cao. Đạt được kết quả này là nhờ hai phương pháp chủ yếu:
Bảo hộ hầu hết các nước ASEAN (trừ nước Singapo) đều áp dụng biện
nhỏ.
Tăng cường vai trò của chính phủ để hỗ trợ việc cung cấp thông tin thị
trường cho doanh nghiệp nhỏ.
Hỗ trợ đào tạo cho công nghiệp nhỏ
Tổ chức Marketing quốc tế
- áp dụng các chính sách khuyến khích doanh nghiệp nhỏ
Tăng cường sự điều tiết của Nhà nước vào CNH. Sự can thiệp của Nhà
nước vào CNH ở ASEAN là vừa phải theo chuẩn mực quốc tế. Mục tiêu của
các nước này là:
Điều tiết công nghiệp nhằm tăng tỷ lệ công nghiệp trong GDP, thay đổi
cơ cấu kinh tế và có lợi cho công nghiệp.
Phát triển công nghiệp cân đối nhằm xây dựng cơ cấu thị trường có sự
cạnh tranh, cân đối giữa các địa phương.
Giải quyết cơ bản về xã hội, cải tiến cuộc sống của người nghèo.
Giải quyết cân bằng dân tộc
Gia tăng thu nhập ngoại hối
Để thực hiện các nước này đã sử dụng biện pháp: Về tổ chức, thành lập ban đầu từ
BOI kết hợp quản lý kinh tế. Về chính sách kinh tế: có định hướng chiến lược cho phát
triển công nghiệp, can thiệp vào ngoại thương, bảo hộ kinh tế và can thiệp vào thị
trường lao động thông qua định mức lương tối thiểu, can thiệp vào thị trường vốn
thông qua ngân hàng Nhà nước quy định giá cả, thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
II/ Công nghiệp và quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam trong thời gian qua:
1. Thực trạng quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam:
Căn cứ vào sự đổi mới thực sự, toàn diện về lý luận và thực tiễn của quá trình
nghiệp giảm từ 44,3% năm 1957 xuống 42,3% (1960) và 41,7% (1965). Đến năm
1964 miền Bắc nước ta đã căn bản giải quyết được vấn đề lương thực và đáp ứng được
90% nhu cầu hàng tiêu dùng và đồng thời bắt đầu tạo nguồn tích lũy trong nước.
Trong những năm có chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ với chi phí phát triển kinh
tế vẫn tăng lên 5,7 lần so với năm 1955-1057, gấp 2,4 lần so với 1960 và 1,8 lần so với
1964. Nhà nước đã giành đến 80% tổng số vốn đầu tư cho công nghiệp nặng trong
năm 1960-1965. Vốn đầu tư cho công nghiệp nhóm A tăng 11,2 lần, nhóm B: 6,9 lần
trong thời kỳ 1960-1965. Giá trị xuất khẩu thấp nền kinh tế luôn ở tình trạng nhập
siêu.
Những cơ sở đầu tiên của các ngành công nghiệp nặng quan trọng đã được xây
dựng và phát triển như điện, than, cơ khí, luyện kim, hóa chất, vật liệu xây dựng. Tốc
độ phát triển của các ngành công nghiệp thuộc nhóm A nhanh hơn tốc độ phát triển
chung của toàn ngành công nghiệp. Năm 1975 so với 1955 giá trị sản lượng ngành
điện lực gấp 22,3 lần, của ngành cơ khí gấp 59,8 lần và ngành hóa chất gấp 79,1 lần,
trong lúc toàn ngành công nghiệp chỉ tăng 16,2 lần. Một số vùng lãnh thổ đã hình
thành trung tâm công nghiệp như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Bắc, Việt Trì,
Thái Nguyên, Thanh Hóa, Vinh Dần dần hình thành nên những vùng công nghiệp
chuyên môn hóa, nhờ chủ trương kết hợp phát triển công nghiệp trung ương với công
2
Đảng Lao động Việt Nam . Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần III,
1960.
nghiệp địa phương, nên hầu hết các tỉnh, thành phố, thị trấn đều phát triển công nghiệp
địa phương. Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân kỹ thuật tăng khá nhanh, là
vốn quý quan trọng cho quá trình CNH ở thời kỳ này và thời kỳ sau. Năm 1975 so với
năm 1955 số cán bộ có trình độ đại học và trên đại học tăng nhanh hơn 129 lần, cán bộ
có trình độ trung học chuyên nghiệp tăng gấp hơn 84 lần, công nhân kỹ thuật năm
- Nóng vội trong cải tạo XHCN, hạn chế sự phát triển của các thành phần kinh tế
tư nhân và cá thể vì vậy không huy động được các nguồn lực trong nước tham gia vào
CNH đất nước. Trước tình hình đó Đại hội Đảng V (1981) đã xác định: “Nội dung
chính của CNH XHCN trong những năm 1981-1985 và những năm 80 là tập trung sự
phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu đưa nông nghiệp
lên sản xuất lớn XHCN, ra sức đẩy mạnh hàng tiêu dùng, tiếp tục xây dựng một số
ngành công nghiệp nặng quan trọng”
1
. Sự thay đổi đó bước đầu đã có tác dụng đến
phát triển kinh tế - xã hội và CNH. Bình quân hàng năm sản xuất công nghiệp tăng
0,5%; TNQD tăng từ 20,5% năm 1980 lên 30% năm 1985.
Giai đoạn từ năm 1986 đến nay:
Đây là thời kỳ đổi mới toàn diện và đồng bộ cả về nhận thức quan điểm và tổ chức
chỉ đạo thực hiện Đại hội lần thứ VI đã xác định rõ quan điểm và chủ trương, phương
hướng đổimới kinh tế - xã hội ở nước ta trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá
độ lên CNXH, Đại hội khẳng định: “Tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho
việc đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường tiếp theo”
2
và “Trước mắt
là kế hoạch 5 năm 1986-1990, phải thật sự tập trung sức người, sức của vào việc thực
hiện cho được 3 chương trình mục tiêu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và
hàng xuất khẩu”
3
.
Từ quan điểm và chủ trương mới trên Đảng và Nhà nước ta đã cụ thể hóa bằng cơ
chế và bằng các chính sách biện pháp thực hiện cụ thể là: chính sách kinh tế nhiều
thành phần, chính sách kinh tế đối ngoại và thu hút vốn đầu tư nước ngoài, chính sách
tài chính tiền tệ kiềm chế lạm phát, chuyển cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu
bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
thứ VII đã chỉ rõ: “Để thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh theo con đường XHCN
điều quan trọng nhất là phải cải tiến căn bản tình trạng kinh tế - xã hội kém phát triển,
phát triển lực lượng sản xuất CNH theo hướng hiện đại gắn liền với việc phát triển một
nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật của XHCN không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện
đời sống nhân dân”
1
. Đại hội Đảng VII cũng xác định mục tiêu kinh tế của kế hoạch 5
năm (1991-1995): “Đẩy lùi và kiểm soát được lạm phát, ổn định phát triển và nâng cao
1
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH
hiệu quả nền sản xuất xã hội, ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân và bắt
đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế”
2
.
Quá trình đổi mới đã tạo nên được những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội,
thành tựu CNH trong những năm 1991,1992,1993 cao hơn, có chất lượng hơn, đi vào
thực tế hơn so với nhiều năm trước đây - lạm phát được kiềm chế, tốc độ tăng giá trị
xuất khẩu lớn hơn tổng sản phẩm xã hội. Cán cân thanh toán chuyển từ thiếu hụt 9%
GDP giữa năm 1980 sang thặng dư 2%GDP. Tổng sản phẩm trong nước 1991 tăng
6,1% so với năm 1990. Trong đó giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng 10,4%; nông
nghiệp tăng 1,9%; xuất khẩu tăng 13,2%.
Sự phát triển công nghiệp trong những năm đổi mới không chỉ thể hiện ở tốc độ
tăng trưởng mà quan trọng hơn là ở sự chú trọng đổi mới công nghệ, tăng khả năng
cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp, và ở sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng sản xuất
gắn với thị trường trong và ngoài nước, phát triển nhanh các ngành có lợi thế so sánh,
lãnh thổ trong một trạng thái đồng bộ, năng động có hiệu quả để thực hiện tốt
các mục tiêu chung của phát triển kinh tế xã hội.
Trình độ trang bị kỹ thuật công nghệ thấp kém, mất cân đối, đổi mới
chậm.
Sự nghiệp CNH-HĐH phải đương đầu với nhiều khó khăn mâu thuẫn
do sai lầm trước đây để lại và do thử thách mới đưa tới. Đó là tỷ lệ thất nghiệp
còn cao, đời sống thấp, tỷ lệ tích lũy và đầu tư thấp, sản xuất kinh doanh gặp
khó khăn về vốn và thị trường sản xuất.
2. Thực trạng công nghiệp Việt Nam trong những năm qua:
Trong những năm gần đây, nhất là trong quá trình đổi mới, khu vực công nghiệp
phải đương đầu với những khó khăn khá gay gắt. Do những khuyết điểm, sai lầm trong
quá khứ về chính sách cơ cấu và chính sách đầu tư, đến nay công nghiệp nước ta có
trên 4584 xí nghiệp nhưng trình độ công nghệ chỉ đạt từ 60%-70% mức trung bình của
thế giới. Thậm chí có loại chỉ bằng 15-20%. Nhiều loại thiết bị sử dụng đã làm cho
mức hao phí nguyên liệu gấp 2 đến 3 lần mức trung bình của thế giới. Nét nổi bật là
thiết bị cũ, thiếu phụ tùng thay thế, thiếu bảo dưỡng và sửa chữa nên thiết bị ngày càng
xuống cấp nghiêm trọng. Theo con số kiểm kê ngày 1-1-1990 TSCĐ của công nghiệp
(chủ yếu là công nghiệp quốc doanh) lên tới gần 29.000tỷ động, giá trị còn lại hơn
16.500 tỷ đồng. Trong đó máy móc thiết bị được sử dụng trực tiếp để làm ra sản phẩm
chỉ chiếm 26%, còn nhà cửa vật kiến trúc chiếm tỷ trọng đến 36%.