TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHO A QUẢN TRỊ KINH DO ANH
Lớp Cao học-Đêm 3 Môn:
KINH TẾ VĨ MÔ
Chủ đề:
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Giảng viên hướng dẫn: TS. Trần Thị Bích Dung TÊN THÀNH VIÊN
1/ Đỗ Thanh Lan
2/ Nguyễn Đức Thái
3/ Nguyễn Hoàng Phúc
4/ Nguyễn Thị Anh Thư
5/ Nguyễn Thị Thanh Thùy
6/ Đàm Thị Cẩm Tú
7/ Lê Đức Thịnh
tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước. Tốc độ
tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %.
Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức:
g = (Y
t
– Y
t-1
)/Y
t-1
× 100(%)
trong đó Y
t-1
và Y
t
là qui mô sản lượng hay thu nhập của nền kinh tế, và g là tốc độ
tăng trưởng.
Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn
Tăng trưởng kinh tế GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
Nhóm 12 Page 2
g= (
n
GDP
n
GDP
0
- 1) × 100%
Trong đó GDP
Với s là tỷ lệ tiết kiệm (0 < s < 1), Solow giả định hàm tiêu dùng có dạng đơn giản
như sau: c = (1 – s)y (đồng nhất thức hạch toán thu nhập)
Tiêu dùng tỷ lệ thuận với tiết kiệm và (1 – s) là tỷ lệ thu nhập dành cho tiêu dùng
Phần còn lại s là tỷ lệ thu nhập dành cho tiết kiệm.
Thay c = (1 – s)y vào đồng nhất thức hạch toán thu nhập ta được
y = (1 – s)y + i
Ta có: i = sy
Tỷ lệ tiết kiệm s cũng là một phần sản lượng dành cho đầu tư, với đầu tư bằng tiết
kiệm.
Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế theo mô hình Solow:
Thay đổi tư bản và trạng thái dừng:
Trước khi xem xét sự gia tăng của khối lượng tư bản ảnh hưởng đến tăng trưởng
kinh tế như thế nào, ta xét 2 yếu tố là khối lượng tư bản thay đổi là đầu tư (làm khối
lượng tư bản tăng khi doanh nghiệp mua thêm nhà máy – thiết bị) và khấu hao (làm
khối lượng tư bản giảm khi những tư bản cũ bị hư hỏng).
Tác động của đầu tư và khấu hao đến khối lượng tư bản được thể hiện qua phương
trình sau: k = i - k (với k là thay đổi khối lượng tư bản). Trong đó:
Đầu tư i = s.f(k) khi thay y = f(k).
Khi có tỷ lệ tiết kiệm s thì ta thấy tỷ lệ
tiết kiệm s quyết định sự phân bổ sản
lượng cho tiêu dùng và đầu tư với
mọi giá trị k, thể hiện qua đồ thị sau:
Khấu hao : giả định là hàng năm
tư bản bị hao mòn với tỷ lệ khấu hao .
Vậy khối lượng tư bản bị hao mòn
Sự thay đổi trong tỷ lệ tiết kiệm ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế:
Từ mô hình Solow ta thấy rằng tỷ lệ tiết kiệm là yếu tố then chốt quyết định khối
lượng tư bản ở trạng thái dừng. Nếu tỷ lể tiết kiệm cao sẽ làm cho đầu tư cao hơn, làm
cho hàm tiết kiệm s.f(k) dịch chuyển lên trên, nền kinh tế sẽ đạt trạng thái dừng mới
với khối lượng tư bản và sản lượng cao hơn ở trạng thái dừng cũ. Như vậy, tiết kiệm
cao hơn sẽ làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn, tới khi đạt đến trạng thái dừng
mới với khối lượng tư bản lớn hơn, nhưng không duy trì mức tăng trưởng cao hơn nếu
tiếp tục giữ tỷ lệ tiết kiệm ở mức cao này. sf(k)
y
k
k*
T
ừ đồ thị ta thấy chỉ có 1
*
s
1
f(k)
Tăng trưởng kinh tế GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
Nhóm 12 Page 5 Sự gia tăng dân số ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế:
Lương công nhân tăng làm cho lượng tư bạn trên mỗi công nhân giảm xuống. Gọi
n tỷ lệ tăng dân số thì ( + n)k là lượng đầu tư cần thiết để giữ cho lượng tư bản mỗi
công nhân không thay đổi. Đối với nền kinh tế ở trạng thái dừng, đầu tư phải cân bằng
với khấu hao và sự gia tăng dân số. Ta có thay đổi của khối lượng tư bản mỗi công
nhân lúc này là:
k = i – ( + n)k
Tương đương k = s.f(k) –( + n)k
Ta có mô hình thể hiện sự gia tăng dân số (từ n
1
đến n
2
) làm khối lượng tư bản ở
trạng thái dừng bị thu hẹp:
)
k
(
+ n
2
)
k
Tăng trưởng kinh tế GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
Nhóm 12 Page 6
L x E là lực lượng lao động tính bằng đơn vị hiệu quả (gồm số lượng công nhân và
hiệu quả của mỗi công nhân).
Với là g là tốc độ tiến bộ công nghệ (hay tỷ lệ tiến bộ công nghệ mở rộng lao
động). Ta có: k = s.f(k) –( + n + g)k
Bây giờ k được định nghĩa là khối lượng tư bản trên mỗi đơn vị hiệu quả của lao
động. Sự gia tăng của số lượng đơn vị hiệu quả do tiến bộ công nghệ có xu hướng làm
giảm k. Trong trạng thái dừng, đầu tư sf(k) loại trừ sự giảm sút của k do khấu hao, sự
gia tăng dân số và tiến bộ công nghệ. Mặc dù vậy, số lượng đơn vị hiệu quả trên mỡi
lao động tăng với tỷ lệ g. Tổng sản phẩm tăng với tỷ lệ (n + g).
Như vậy, mô hình Solow chỉ ra rằng tiến bộ công nghệ làm sản lượng mỗi công
nhân tăng trưởng vững chắc khi nền kinh tế ở trạng thái dừng và chỉ có tiến bộ công
nghệ mới giải thích được sự gia tăng không ngừng của mức sống.
Ở trạng thái dừng, tiêu dùng bình quân trên đầu người đươc xác định c*=(1-
s).f{k*(s)}. Từ (*) chúng ta có sf (k*) = δ.k * . Vì vậy chúng ta có thể viết hàm số c(s)
như sau:
c*(s)=f {k*(s)} - δ.k*(s)
Ở trạng thái dừng mức tiết kiệm cần thiết để tối đa hoá tiêu dùng phải thoã điều
kiện:
Vì nên điều kiện tối đa hoá tiêu dùng sẽ là f'(k*) - δ = 0 hay năng suất
biên của vốn sẽ bằng với tỷ lệ khấu hao. Khi s < sG thì việc tăng tiết kiệm sẽ làm tăng
tiêu dùng trong dài hạn nhưng giảm tiêu dùng trong quá trình dịch chuyển đến trạng
thái dừng. Ngược lại, khi s > sG việc giảm tiết kiệm sẽ làm tăng tiêu dùng bình quân
đầu người trong dài hạn và cũng tăng tiêu dùng trong quá trình dịch chuyển . Vấn đề
lựa chọn phụ thuộc vào sự đánh đổi giữa tiêu dùng hiện tại và tiêu dùng trong tương
lai PHẦN 2: TÌNH HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM
2.1.Thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam các năm gần đây
2.1.1. Tốc độ tăng trưởng GDP
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2006 đạt 8,23%, năm 2007
đạt 8,46%, năm 2008 đạt 6,31%, năm 2009 đạt 5,32%, năm 2010 đạt 6,78%, năm 2011
Tăng trưởng kinh tế GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
Nhóm 12 Page 8
đạt 5.89% và năm 2012 đạt 5,03% . Bình quân thời kỳ 2006-2012, tăng trưởng kinh tế
đạt 6,57%/năm, trong đó bình quân giai đoạn 2006-2007 đạt 8,34%; bình quân giai
đoạn 2008-2010 đạt 6,14%; bình quân giai đoạn 2011 - 2012 đạt 5.46%.
thấy mức độ tăng trưởng yếu diễn ra ở tất cả các nhóm ngành.
M ảng Dịch vụ giữ được mức tăng khá nhất dù vẫn thấp hơn so với năm 2011;
ngược lại, tăng trưởng ở khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản sụt giảm mạnh khi chỉ
tăng 2.72%, so với con số 4.01% trong năm trước.
Đáng chú ý là sự sụt giảm của ngành Công nghiệp và xây dựng đã ảnh hưởng
không nhỏ đến tăng trưởng toàn nền kinh tế vì chiếm tỷ trọng lớn nhất với hơn 40%.
Tính đến 01/12/2012, chỉ số tồn kho của ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo
còn tăng 20.1% so với cùng thời điểm năm trước; và chỉ số tồn kho này có xu hướng
liên tục sụt giảm trong những tháng gần đây. Tuy vậy, trong bối cảnh nhiều doanh
nghiệp không có kế hoạch mở rộng sản xuất kinh doanh, thì con số tồn kho này cũng
cho thấy sự trì trệ đang hiện diện.
2.1.2. Thu nhập bình quân trên đầu người/năm
Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam không ngừng tăng qua các năm.
Cụ thể trong năm 2012 là 1540 USD/ người tăng hơn 6 lần so với năm 2000 là 251
USD/ người.
Tuy thu nhập bình quân đầu người của Việt Năm liên tục tăng qua các năm.
Nhưng Thu nhập trung bình của người Việt Nam vẫn còn khoảng cách rất xa so với
các nước trong ASEAN và Trung Quốc, dù đã được cải thiện nhiều do đổi mới và mở
cửa cách đây hơn một phần tư thế kỷ.
Tăng trưởng kinh tế GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
Nhóm 12 Page 10
(FDI) vào Việt Nam đạt 16,3 tỷ USD, tăng 4,7% so với năm 2011.
Như vậy, năm 2012, Việt Nam đã đạt mục tiêu về thu hút FDI (15-16 tỷ USD) và
đã tăng so với năm trước. Đây là một kết quả rất tích cực.
Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2012 theo giá hiện hành ước tính
đạt 989,3 nghìn tỷ đồng, tăng 7% so với năm trước và bằng 33,5% GDP, đây là năm
có tỷ trọng vốn đầu tư so với GDP đạt thấp nhất kể từ năm 2000 trở lại đây
Nguồn: Tổng cục thống kê
Về tỷ trọng, mặc dù có xu hướng giảm nhưng khu vực kinh tế nhà nước vẫn chiếm
tỷ
Tăng trưởng kinh tế GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
Nhóm 12 Page 12
t rọng
lớn trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội (từ mức trung bình 54,1% trong giai đoạn 2000-
2005 xuống 39,1% trong giai đoạn 2006-2010; năm 2011 tỷ trọng này là 38,9%). Đáng
chú ý, tỷ trọng của khu vực kinh tế ngoài nhà nước cũng có xu hướng giảm qua các
năm (từ mức 38,1% năm 2006 xuống còn 36,1% năm 2010 và 35,2% năm 2011);
trong khi đó, tỷ trọng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài lại có xu hướng tăng (từ
mức 16,2% năm 2006 lên mức 25,9% năm 2011).
Đáng chú ý, trong năm 2012, vốn đầu tư từ khu vực ngoài Nhà nước vượt nguồn
vốn khu vực Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất (38,9% tổng vốn đầu tư), đạt 385 nghìn
tỷ đồng , tăng 8,1% so với cùng kỳ 2011.
Tăng trưởng kinh tế GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
Nhóm 12 Page 13
Mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư S-I
Tăng trưởng kinh tế GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
Nhóm 12 Page 14
Tiết kiệm - đầu tư và nhập siêu của nền kinh tế giai đoạn 2005-2010
Đơn vị: % GDP
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Niên giám thống kê 2010 (trang 140).
Năm 2012 Việt Nam xuất siêu khoảng 284 triệu USD. Đây là lần đầu tiên sau gần
20 năm nhập siêu, Việt Nam chuyển sang xuất siêu trong cả năm.
Trạng thái xuất siêu trước mắt là một tín hiệu mừng, giảm áp lực cho cán cân
thanh toán, cũng như góp phần kiềm chế lạm phát; song nguyên nhân chủ yếu được
coi là do suy giảm của sản xuất và tiêu dùng trong nước nên nhập khẩu nguyên vật
liệu, thiết bị tăng thấp chứ không phải do xuất khẩu đã tăng bền vững.
Hiệu quả đầu tư
Trong giai đoạn 2006 đến nay, nhìn chung hiệu quả đầu tư của nền kinh tế có xu
hướng giảm, thể hiện qua: (i) hệ số ICOR liên tục tăng (ngoại trừ năm 2011); (ii) chi
phí trung gian tăng nhanh; (iii) đóng góp của nhân tố lao động và TFP vào tăng trưởng
kinh tế đạt mức thấp. Cụ thể:
-Trong giai đoạn 2006-2010, tỷ lệ tổng vốn đầu tư toàn xã hội/GDP luôn ở mức
cao, trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế thực chỉ đạt trung bình khoảng 7% /năm đã
khiến cho hệ số ICOR trung bình giai đoạn tăng cao, lên mức 7,17 (cao hơn khá nhiều
so với ICOR của giai đoạn 2000-2005 và ICOR của các nước đang phát triển khác).
Đặc biệt vào năm 2009, chỉ số này đã lên tới mức 13,51, báo động về hiệu quả đầu
tư bị sụt giảm một cách nghiêm trọng, dẫn đến nhiều hệ lụy tiêu cực đối với nền kinh
tế. Tăng trưởng kinh tế GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
trung gian đang tăng lên nhanh chóng và hiệu quả sản xuất, kinh doanh đang giảm sút.
Theo mô hình Solow, các quốc gia với xuất phát điểm thấp như Việt Nam sẽ có cơ
hội tăng trưởng nhanh, tính theo thu nhập trên đầu người, nhờ đầu tư vốn là chủ yếu.
Nhưng sau đó, tốc độ tăng trưởng sẽ chậm lại do tác động giảm dần của đồng vốn đầu tư.
Do đó, để có thể duy trì được mức tăng trưởng bền vững trong dài hạn, tính hiệu quả
của việc sử dụng đồng vốn và lao động trong nền kinh tế mới là yếu tố quyết định.
Đối với Việt Nam, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trước năm 2008 đã chuyển sang
mức thấp hơn nhiều trong những năm gần đây. Điều này có thể giải thích một phần với
mô hình Solow. Đó là tăng trưởng dựa vào vốn đầu tư là chủ yếu và tốc độ đang giảm
dần, nhưng điều đáng ngại là cùng với đó, sự thiếu hiệu quả của nền kinh tế cũng góp
phần hạn chế khả năng tăng trưởng trong tương lai nếu không có biện pháp cải thiện
quyết liệt.
Từ năm 2000 trở lại đây, tỉ lệ đầu tư vốn toàn xã hội/GDP của Việt Nam luôn cao,
trung bình hơn 30%; có năm lên tới 43% như năm 2007. Thế nhưng, hệ số ICOR đang
có xu hướng tăng lên trong 3 năm gần đây (ICOR là hệ số đo lường chất lượng của
đồng vốn đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế. Hệ số này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng
vốn càng cao).
Một yếu tố khác ảnh hưởng đến chất lượng của đồng vốn là tính nhất thời, ngắn
hạn trong chính sách sử dụng. Số tiền các doanh nghiệp rót vào nghiên cứu và phát
triển nhằm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh cốt lõi vẫn chưa đáng kể, trái ngược
với số tiền đầu tư vào các lĩnh vực ngắn hạn như chứng khoán. Đây là nguy cơ lớn
trong dài hạn của các doanh nghiệp.
Tăng trưởng kinh tế GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
Nhóm 12 Page 16
2.2.2. Dân số
2007 1,09 8,46 1,15
2008
1,07
6,34
1,25
2009
1,06
5,32
1,01
2010 1,05 6,78 1,1
2011
1,04
5,89
1,11
2012
1,06
6,23
T
ốc đ
ộ tăng tỷ lệ dân số
trong độ tuổi lao động 0,40 0,67 0,94 1,22
Nguồn: Tính toán từ số liệu của TCTK
Tăng trưởng kinh tế GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
Nhóm 12 Page 17
Số liệu thống kê cho thấy tốc độ tăng của tỷ lệ dân số trong tuổi lao động đã tăng
từ 0,40% giai đoạn 1970-1979 lên 1,22% giai đoạn 2000-2009. Tốc độ tăng thu nhập
bình quân đầu người (tính theo giá năm 2005) cũng tăng từ 2,54% giai đoạn 1970-
1979 lên 6,23% giai đoạn 2000-2009.
Trong giai đoạn 2000-2009, tỷ lệ dân số trong tuổi lao động tăng 0.28% tuy nhiên
tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người giảm 0.01%, lực lượng lao động tăng thêm
USD.
Theo tài liệu của TS. Cù Chí Lợi, Viện Kinh tế Việt Nam (Viện Khoa học - Xã hội
Việt Nam): Ở nước ta, trong thời kỳ 1998-2002, tỷ trọng đóng góp của yếu tố khoa học
Tăng trưởng kinh tế GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
Nhóm 12 Page 18
công nghệ vào tăng trưởng GDP chiếm gần 23%, kéo mức thu nhập bình quân đầu người
từ vài trăm USD đạt ngưỡng 1.000 USD. Trong khi dân số không ngừng tăng (từ hơn 50
triệu người năm 1979 lên hơn 85 triệu người năm 2009), diện tích đất canh tác bị thu hẹp
nhưng nhờ áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, ngành nông nghiệp vẫn đóng góp
hơn 65% vào tăng trưởng kinh tế nước nhà.
Đưa kim ngạch xuất khẩu tăng hàng chục lần
Nhiều năm gần đây, những mặt hàng như: lúa gạo, thủy sản, hạt tiêu, cà phê, cao su
luôn đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn cho Việt Nam. Có kết quả này là nhờ những đóng
góp quan trọng của hoạt động khoa học công nghệ. Hàng nghìn giống, quy trình sản xuất
mới từ phòng thí nghiệm đã đến với người dân, được ứng dụng rộng rãi, đã và đang trở
thành đòn bẩy thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Trong nông nghiệp, khoa học công nghệ đóng vai trò lớn trong lai tạo, nhân giống
cây trồng mới, tăng năng suất thay thế giống nhập ngoại. Nhiều công nghệ mới được ứng
dụng làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, tăng giá trị sản xuất, đưa
nước ta vào nhóm các nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về gạo, cà phê, hạt tiêu, điều, cao
su. Đến nay, hơn 170 giống lúa được công nhận, trong đó có nhiều giống lúa lai tốt như
VL20, TH3-3, TH304, HY83, HYT92, HYT100. 90% diện tích đất được trồng bằng các
giống lúa cải tiến. Năng suất lúa bình quân năm 2007 đạt 49,5 tạ/ha, gấp 2,4 lần năm 1980
và Việt Nam từ chỗ thiếu lương thực triền miên đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ
2 trên thế giới.
Trong thủy sản, các kết quả nghiên cứu về sản xuất giống, nuôi trồng và chế biến thủy
sản đã đạt trình độ tương đương của thế giới và khu vực; nâng kim ngạch xuất khẩu lên
4,4 tỷ USD (2008), gấp 22 lần năm 1990. Các mặt hàng thủy sản chế biến xuất khẩu của
ích hiện đại.
Cơ sở hạ tầng cũng là một thành phần quan trọng trong chiến lược phát triển của Việt
Nam. Trong 20 năm qua, Chính phủ Việt Nam đã duy trì mức đầu tư hạ tầng khoảng 10%
GDP. M ức đầu tư cao ngoạn mục này đã nhanh chóng mở rộng nguồn cung cơ sở hạ tầng
và cải thiện khả năng tiếp cận sử dụng. Từ năm 2000 - 2005, tổng chiều dài đường bê tông
đã tăng gấp ba lần từ 30.000 km đến gần 90.000 km, đưa đến những cải thiện rất lớn cho
giao thông nông thôn. Tỉ lệ hộ gia đình nông thôn kết nối mạng lưới điện cũng tăng từ
73% lên 89% trong giai đoạn 2000-2005. Thành công trong phát triển cơ sở hạ tầng nông
thôn quy mô nhỏ là nét chính trong những thành tựu xóa nghèo và phát triển mang tính
bao phủ của Việt Nam, điều mà cộng đồng tài trợ quốc tế thường xuyên khen ngợi.
Hình1.Đầu tư cơ sở hạ tầng ở Việt
NamTăng trưởng kinh tế GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
Nhóm 12 Page 20
Nguồn:TổngcụcThốngkê Việt
Nam
Sau hơn 20 năm kể từ khi thực hiện chính sách Đổi Mới, Việt Nam đang bước vào
giai đoạn phát triển đòi hỏi phải đầu tư chiến lược vào cơ sở hạ tầng giao thông đại trà
như xa lộ, đường sắt, cảng biển, và sân bay, và đầu tư vào hỗn hợp năng lượng hiệu quả
như các nhà máy thủy điện, chạy than và khí đốt.
Trong thập niên vừa qua tổng đầu tư hạ tầng ở Việt Nam đã chiếm bình quân hơn
10% GDP, vượt qua khỏi các nền kinh tế Đông Á vốn nổi tiếng về mức đầu tư cơ sở hạ
tầng cao. Kết quả từ tỉ lệ đầu tư cao của Việt Nam đã nhanh chóng mở rộng khối lượng cơ
2.2.4.Các yếu tố khác ngoài mô hình:
Vị trí địa lý
Với hình thể đất nước hẹp chiều ngang, trải dài theo hướng á kinh tuyến, toàn bộ lãnh
thổ đất liền của nước ta có thể ví như” vùng duyên hải” và tạo ra một lợi thế ”mặt tiền”
hướng biển - thuận lợi cho giao thương và hội nhập kinh tế quốc tế.
Theo ước tính, quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển Việt Nam bình quân đạt
khoảng 47- 48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế “thuần biển” đạt khoảng 20-
22% tổng GDP cả nước. Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của các ngành kinh tế
diễn ra trên biển chiếm tới 98%, chủ yếu là khai thác dầu khí, hải sản, hàng hải (vận tải
biển và dịch vụ cảng biển), du lịch biển. Các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai
thác biển như đóng và sửa chữa tàu biển, chế biến dầu khí, chế biến thủy hải sản, thông tin
liên lạc, bước đầu phát triển, nhưng hiện tại quy mô còn rất nhỏ bé (chỉ chiếm khoảng
2% kinh tế biển và 0,4% tổng GDP cả nước), song trong tương lai sẽ có mức gia tăng
nhanh hơn. Trong đó:
Dầu khí : Từ bước đi chập chững của một ngành công nghiệp dầu khí non trẻ, sau
nửa thế kỷ xây dựng đội ngũ và phát triển vượt bậc, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt
Nam ngày nay đã có thể tự hào về những thành quả đạt được. Liên tục từ năm 1991
đến nay, Tập đoàn đã đóng góp vào tăng trưởng GDP với tỉ trọng trên 20%, chiếm trên
30% tổng thu ngân sách Nhà nước; khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước
Thủy sản: Thủy sản được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, thời gian qua nhà
nước đã chú trọng đầu tư phát triển khá toàn diện cả về khai thác và nuôi trồng, tốc độ
tăng trưởng 2006 – 2010 bình quân tương đối cao.
Khai thác thủy sản được đầu tư theo hướng khai thác xa bờ, năm 2008 được Chính
phủ hỗ trợ dầu cho khai thác, nên số lượng phương tiện khai thác tăng nhanh. Trong
đó, những sản phẩm có giá trị cao như tôm, mực đạt tỷ lệ khá cao.
Nuôi trồng thủy sản là thế mạnh của nhiều tỉnh, có nhiều tiềm năng phát triển làm
cho kinh tế chuyển dịch nhanh và có hiệu quả. Giai đoạn 2006 – 2010 nuôi
trồng thuỷ sản cũng đã đóng góp một phần vào mức tăng trưởng chung của nền kinh tế
.
Giá tr
ị sản phẩm thu
được trên 1 hécta m
ặt
nư
ớc nuôi trồng thủy
sản( triệu đồng)
42,5 47,4 55,4 67,4 77,4 87,1 103,8
Nguồn: theo số liệu lấy từ Tổng cục thống kê
Gần đây, kinh tế trên một số đảo đã có bước phát triển nhờ chính sách di dân và đầu
tư xây dựng kết cấu hạ tầng trên các đảo (hệ thống giao thông, mạng lưới điện, cung cấp
nước ngọt, trường học, bệnh xá ). Tuy vậy, có thể nhận định một cách khái quát rằng, sự
phát triển của kinh tế biển còn quá nhỏ bé và nhiều yếu kém. Quy mô kinh tế biển Việt
Nam chỉ đạt khoảng hơn 10 tỷ USD; trong khi sản lượng kinh tế biển của thế giới ước
1.300 tỷ USD, Nhật Bản là 468 tỷ USD, Hàn Quốc là 33 tỷ USD. Cơ sở hạ tầng các vùng
biển, ven biển và hải đảo còn yếu kém, lạc hậu. Hệ thống cảng biển nhỏ bé, manh mún,
thiết bị nhìn chung còn lạc hậu và chưa đồng bộ nên hiệu quả thấp. Các chỉ tiêu hàng
thông qua cảng trên đầu người rất thấp so với các nước trong khu vực (chỉ bằng 1/140 của
Xingapo, 1/7 của M alaixia và 1/5 của Thái Lan)
Vì vậy chiến lược biển Việt Nam trong những năm tới đã xác định rõ năm ngành và
lĩnh vực đột phá: khai thác, chế biến dầu, khí; kinh tế hàng hải; khai thác và chế biến thuỷ,
hải sản; du lịch biển và kinh tế hải đảo; các khu kinh tế (KKT), khu công nghiệp, khu chế
xuất ven biển gắn với các khu đô thị dọc dải ven biển. Nước ta đang xây dựng 14 KKT
ven biển, trong đó có 9 KKT đã cơ bản hoàn thành các công tác quy hoạch chung, quy
hoạch chi tiết các phân khu chức năng và đang tiến hành đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ
thuật - xã hội, xây dựng các khu tái định cư. Các KKT khác hiện đang trong giai đoạn xây
dựng quy hoạch, chuẩn bị và hoàn thiện bộ máy và nhân sự, chuẩn bị các điều kiện tiền đề
cho việc lập dự án và huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, triển khai công tác đền
Với sự ổn định của y tế- giáo dục, (GDP) năm 2011 ước tính tăng 5,89% so với năm
2010, tuy thấp nhưng trong điều kiện tình hình sản xuất rất khó khăn và cả nước tập trung
ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô thì mức tăng trưởng trên là khá cao và
hợp lý.
Tài nguyên Việt Nam
Việt Nam được ưu đãi với những trữ lượng kim loại và khoáng chất lớn, trong đó có
quặng bô-xít, đất hiếm, vonfram, titan, phốt-phát, than đá và sắt. Tuy nhiên, ngoại trừ than
đá, phần lớn các dự án khai thác hiện tại trong nước có quy mô nhỏ, đây là cơ hộitiềm
năng để phát triển quy mô lớn hơn.
Tăng trưởng kinh tế GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
Nhóm 12 Page 24