Đề tài 6
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
ĐỂ NGĂN CHẶN SUY GIẢM KINH TẾ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Mục lục
1. Tổng quan tình hình kinh tế tài chính Việt Nam 1
2. Khủng hoảng tài chính 2008 và những tác động đến Việt Nam 5
2.1. Nguyên nhân khủng hoảng tài chính thế giới 5
2.1.1. Các yếu tố kinh tế 5
2.1.2. Yếu tố pháp lý 7
2.2. Những tác động của khủng hoảng tài chính thế giới đến hệ thống ngân hàng và thị
trường chứng khoán Việt Nam 9
2.2.1. Những tác động đến hệ thống ngân hàng 9
2.2.2. Những tác động đến thị trường chứng khoán 11
2.3. Giải pháp cho hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán Việt Nam 14
2.3.1. Đối với hệ thống ngân hàng 14
2.3.2. Đối với thị trường chứng khoán 16
3. Giải pháp m rộng tn dng ngân hng trong thời đim hiện nay 17
3.1. V pha người tiêu dng 17
3.2. V pha doanh nghiệp 17
3.3. V pha ngân hng 18
2.4. V pha quản l Nh nước 18
nợ và viện trợ 47,8 nghìn tỷ đồng, bằng 45,5%.
Trong 6 tháng đầu năm, lãi suất huy động và lãi suất cho vay của hệ thống ngân
hng thương mại đã giảm nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Tnh đến cuối tháng
6, tăng trưng tín dng đạt khoảng 3,8% - 4% so với cuối năm 2012 v gấp hai lần mức
tăng cng kỳ năm trước. Điu này cho thấy các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động
sản xuất kinh doanh, khơi thông dòng vốn bước đầu phát huy tác dng. Huy động vốn của
Tiểu luận thị trường tài chính GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết
Nhóm 6 Trang 2
các ngân hng thương mại cũng tăng khá, tnh đến ngày 20-5-2013 mức huy động tăng
5,8% so với thời đim cuối năm 2012.
Các ngành sản xuất, kinh doanh đã có dấu hiệu phục hồi nhưng tốc độ còn chậm
Sản xuất công nghiệp đã bắt đầu có chuyn biến khi hàng tồn kho giảm dần. So với
cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) đã tăng dần qua từng tháng, trong
quý II-2013 tăng 6%, đạt mức khá cao so với mức tăng 4,5% trong qu I. Th hiện rõ nét
nhất nhóm ngành công nghiệp chế biến và chế tạo, tăng từ mức 4,6% quý I lên 6,9%
trong quý II. Trong các ngành công nghiệp, sản xuất của một số ngnh đạt chỉ số sản xuất
tăng cao trong 6 tháng qua là: sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết
bị) tăng 14,6%; giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 14,7%; đồ uống tăng 9,6%; hóa chất và
sản phẩm hóa chất tăng 11,5%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 10,3%. Một số
ngành có mức sản xuất tăng khá l: trang phc, sản xuất và phân phối điện, sản phẩm từ
khoáng phi kim loại. Nhưng, một số ngành có chỉ số sản xuất tăng thấp hoặc giảm so với
cùng kỳ năm trước là: dệt, chế biến thực phẩm, sản xuất sản phẩm từ cao-su và plastic,
khai thác dầu thô và khí tự nhiên, thuốc, hóa dược v dược liệu
Đáng chú , một số ngnh đã có chỉ số tồn kho tăng thấp hoặc giảm là: dệt tăng
5,4%; sản xuất da tăng 4,5%; chế biến thực phẩm tăng 3,1%; giấy và sản phẩm từ giấy
giảm 0,3%; xe có động cơ giảm 5,1%; sản phẩm thuốc lá giảm 41,1%.
Sản xuất nông nghiệp 6 tháng qua có nhiu khó khăn nên tốc độ tăng trưng chậm.
Giá trị sản xuất ton ngnh đạt 349.218,59 tỷ đồng (tính theo giá cố định năm 2010), tăng
2,39% so cùng kỳ năm trước; trong đó nông nghiệp đạt 254.868,19 tỷ đồng, tăng 2,2%,
với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 4,8%. Trong tổng mức hàng hóa bán
lẻ và doanh thu dịch v tiêu dng, kinh doanh thương nghiệp chiếm 77%, tăng 11,3%;
khách sạn nhà hàng chiếm 12%, tăng 14,5%; dịch v 10,2%, tăng 15,4% v du lịch tăng
5%.
Xuất, nhập khẩu vẫn tăng trưng khá. Tính chung 6 tháng, tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu cả nước đạt 126,763 tỷ USD, tăng 16,4% so cng kỳ năm 2012. Kim ngạch xuất
khẩu đạt 62,053 tỷ USD, tăng 16,1%, trong đó khu vực FDI đạt 41,14 tỷ USD, tăng 24,7%,
khu vực kinh tế trong nước đạt 20,913 tỷ USD, tăng 2,2%. Kim ngạch nhập khẩu đạt 63,456
tỷ USD, tăng 17,4%, trong đó khu vực FDI đạt 35,726 tỷ USD, tăng 27,8%, khu vực kinh
tế trong nước đạt 27,730 tỷ USD, tăng 6,3% so cng kỳ năm 2012. Như vậy, 6 tháng đầu
năm, cả nước nhập siêu 1,403 tỷ USD, bằng 2,26% kim ngạch xuất khẩu 6 tháng. Nhập
siêu tăng trong mấy tháng tr lại đây l dấu hiệu tốt đối với nn kinh tế bi các doanh
nghiệp bắt đầu nhập nguyên liệu phc v cho sản xuất.
Đánh giá tổng th, hoạt động xuất, nhập khẩu của nước ta trong nửa đầu năm 2013
đã đạt quy mô cao hơn, nhập siêu được kim soát. Trong 2 khu vực kinh tế, thì khu vực
Tiểu luận thị trường tài chính GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết
Nhóm 6 Trang 4
FDI vẫn có kim ngạch xuất nhập khẩu tăng nhanh v chiếm tỷ trọng cao hơn khu vực kinh
tế trong nước.
V các mặt hàng xuất khẩu, các mặt hng đạt kim ngạch cao trong 6 tháng gồm có:
điện thoại các loại và linh kiện, dệt may, điện tử, ph tùng và linh kiện giày dép, gỗ và sản
phẩm gỗ, máy móc, thiết bị, dng c và ph tng khác… Một số mặt hàng có giá trị xuất
khẩu giảm so cùng kỳ gồm: gạo, cà phê, cao-su, sắn và sản phẩm sắn.
V mặt hàng nhập khẩu, trong 6 tháng đầu năm 2013, một số mặt hàng có kim ngạch
nhập khẩu tăng so với cùng kỳ năm 2012 l: điện tử, máy tính và linh kiện, máy móc, thiết
bị, dng c ph tùng, vải, sắt thép, chất dẻo, nguyên ph liệu dệt may, giày, dép, thức ăn
gia súc, chất dẻo Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu giảm so với cùng kỳ năm
trước l: xăng dầu, hóa chất, gỗ và sản phẩm gỗ, cao-su.
Đầu tư phát triển
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khi sắc. Tính chung trong 6 tháng, tổng vốn đầu
tư cấp mới v tăng thêm l 10,473 tỷ USD, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm 2012. Trong
đó có 554 dự án được cấp mới, với tổng vốn đăng k l 5,812 tỷ USD, tăng 3,7% v 217
lượt dự án đăng k tăng vốn thêm vốn đầu tư l 4,66 tỷ USD, tăng 35,7% so với cùng kỳ
năm 2012.
Tiểu luận thị trường tài chính GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết
Nhóm 6 Trang 5
Trong 6 tháng đầu năm 2013 đã có 45 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại
Việt Nam. Nhật Bản dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng k cấp mới v tăng thêm l 3,992
tỷ USD, chiếm 38,1% tổng vốn đầu tư vo Việt Nam; Xin-ga-po đứng vị trí thứ hai với
tổng vốn đầu tư đăng k cấp mới v tăng thêm l 3,41 tỷ USD, chiếm 32,6% tổng vốn đầu
tư; Liên bang Nga đứng vị trí thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng k cấp mới v tăng thêm l
1,015 tỷ USD, chiếm 9,7% tổng vốn đầu tư.
V hoạt động phát trin doanh nghiệp, số doanh nghiệp đăng k mới đã bắt đầu tăng
trong 6 tháng đầu năm 2013, ước tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, một
số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động đã bắt đầu quay tr lại sản xuất (khoảng 9.300 doanh
nghiệp).
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6-2013 tăng 2,4% so với tháng 12-2012 v tăng
6,69% so với cùng kỳ năm 2012.
Chỉ số giá vàng tháng 6-2013 giảm 4,11% so với tháng 5, giảm 15,1% so với tháng
12-2012, giảm 7,83% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô-la Mỹ tháng 6-2013 tăng
0,06% so với tháng 5, tăng 0,84% so với tháng 12-2012, tăng 0,68% so với cùng kỳ năm
2012.
2. Khủng hoảng tài chính 2008 và những tác động đến Việt Nam
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang diễn biến hết sức phức tạp với sức công
phá nặng n, là nổi ám ảnh đối với nn kinh tế của nhiu nước. Việc ngăn chặn sự tàn phá
khủng khiếp của cơn bão Tsunami ti chnh ny không còn nằm trong phạm vi khả năng
của một quốc gia mà tr thành trách nhiệm và sự nỗ lực chung của tất cả các nước, trước
minh thu nhập còn gọi l cho vay dưới chuẩn (subprime), biến chúng thành các loại chứng
từ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp (mortgage-backed securities – MBS), rồi
bán lại cho các nh đầu tư trên TTCK, chủ yếu l các nh đầu tư tổ chức lớn như Bear
Stearns v Merrill Lynch. Khi đã chứng khoán hoá các khoản cho vay bất động sản, hay
nói cách khác l đã hình thnh một sự liên thông mật thiết với TTCK thì thị trường bất
động sản (TTBĐS) không còn l sân chơi duy nhất của các NHTM hoặc các công ty chuyên
cho vay thế chấp bất động sản nữa m đã có sự tham gia tích cực của các nh đầu tư v đầu
cơ trên TTCK vốn có khả năng ti chnh rất dồi dào. V bản chất, MBS là một công c
phái sinh từ bất động sản nên việc phát hành, giao dịch và bảo him MBS hết sức thông
thoáng và Chính phủ Mỹ dường như không th kim soát nổi. Do có th bán lại phần lớn
các khoản vay đ các công ty khác biến chúng thnh MBS, các NHTM đã tr nên mạo
him hơn trong việc cho vay, bất chấp khả năng trả nợ của người vay. Vòng xoáy của thị
trường đã đi quá xa, đặc biệt l “bong bóng” bất động sản bắt đầu “xì hơi” thì điu gì phải
đến đã đến…Theo Giáo sư Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Tokyo) v Phó Giáo sư Trần
Lê Anh (Đại học Lasell, Boston) thì, tính chất của công c đầu tư phái sinh MBS có th
mô tả đơn giản như sau: Một công ty tài chính (Fannie Mae hay Lehman Brothers chẳng
Tiểu luận thị trường tài chính GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết
Nhóm 6 Trang 7
hạn), bỏ tin ra mua lại các khoản cho vay thế chấp từ các NHTM, tập trung chúng thành
từng loại khác nhau, rồi phát hnh MBS đ bán lại cho các nh đầu tư. V d, Fannie Mae
mua 1.000 khoản vay thế chấp với các đặc đim giống nhau với giá gốc là 200.000 USD
cho mỗi khoản vay. Khi tập trung lại thì tổng trị giá các khoản vay này sẽ là 200.000.000
USD. Fannie Mae có th biến khoản này thành 100.000 MBS, trị giá 2.000 USD một phần
và bán lại cho các nh đầu tư. Nếu nh đầu tư mua 10 MBS thì sẽ trả 20.000 USD. Sau khi
mua các MBS thì các nh đầu tư sẽ nhận lại khoản tin vừa lãi vừa gốc được chuyn đến
hằng tháng từ các người vay tin (thông qua một công ty dịch v trung gian) trong một
khoản thời gian nhất định no đó. Sau khi đáo hạn, thì tổng số tin m nh đầu tư nhận
được sẽ là trên 20.000 USD (tin vốn gốc bỏ ra đầu tư cộng với tin lãi hằng năm). Các
MBS dựa trên các khoản vay có tính chất rủi ro cao hơn thì tất nhiên sẽ đem lại lời nhiu
các khoản vay đến hạn hoặc đ đáp ứng nhu cầu rút tin trước thời hạn của người gửi tin
thì cuộc khủng hoảng tài chính tin tệ đã thực sự nổ ra. Bên cạnh đó, trước sự st giảm liên
tc của giá chứng khoán, giới đầu cơ giá xuống “Bear” đã chớp thời cơ thực hiện bán khống
bằng cách vay những cổ phiếu của các tập đon, ngân hng lớn ồ ạt bán ra tạo nên áp lực
giảm giá không gì cứu vãn nổi. Sau khi giá chứng khoán giảm đến một mức no đó, giới
đầu cơ sẽ mua và trả lại nơi đã cho vay cộng thêm một ít phí, còn lại sẽ được hưng.
Trong bối cảnh đó, đ cứu nn kinh tế, Quốc hội Mỹ ban hnh Đạo luật ngân hàng
(Glass-Steagal Act) năm 1933, sau khi Tổng thống Franklin Roosevelt nhậm chức. Đạo
luật ny đã tách bạch rõ ràng giữa hoạt động của NHTM và hoạt động của NHĐT. Theo
đó, NHTM chỉ được hoạt động trong lĩnh vực cho vay vào các hoạt động kinh doanh truyn
thống, ít rủi ro nhất trên cơ s đảm bảo tài sản của người vay. NHTM trả lãi suất tin gửi
là X% thì cho vay lại chỉ mức X + 2 (hoặc 3%) m thôi đ đảm bảo tính an toàn và giữ
vững nim tin của người dân đã gửi tin tiết kiệm. Các NHTM cũng bị cấm thực hiện bảo
lãnh phát hành chứng khoán công ty (trừ trái phiếu Chính phủ). Chỉ những công ty môi
giới và tự doanh chứng khoán, các NHĐT mới được thực hiện các dịch v liên quan đến
chứng khoán công ty. Điu kiện và chế độ cấp phép đối với hoạt động của các công ty môi
giới chứng khoán bị siết chặt. Trong khi đó, hoạt động của NHĐT l những hoạt động kinh
doanh với độ rủi ro cao nên các nh đầu tư vo các ngân hng ny phải được biết như vậy
và phải chấp nhận rủi ro. Sự tách biệt giữa hoạt động NHTM v NHĐT l đ làm rạch ròi
mức độ rủi ro, tránh sự mập mờ dễ gây ra sự ngộ nhận cho người dân khi gửi tin tiết kiệm
vào ngân hàng. Sự tách biệt ny cũng l đ minh bạch hóa các hoạt động ngân hng vì đó
là nn tảng của cả một hệ thống ngân hàng ổn định, tạo nên sức mạnh cho hệ thống tài
chính và kinh tế phát trin bn vững. Nhiu chuyên gia cho rằng, Đạo luật Glass-Steagal
đã giúp cho kinh tế, xã hội Mỹ phát trin mạnh trong suốt 50 năm v tr thành một mô
hình tài chính ngân hàng mẫu mực cho cả thế giới. Đặc biệt, Đạo luật trên l cơ s pháp lý
quan trọng của quá trình chuyn đổi mô hình ngân hng đa năng sang mô hình ngân hng
Tiểu luận thị trường tài chính GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết
Nhóm 6 Trang 9
chuyên doanh tại Mỹ. Đin hình là việc ngân hng đa năng Morgan D.P phải tách ra thành
chuyn kiu Mỹ khi bất động sản giảm giá là rất khó xảy ra.
Tiểu luận thị trường tài chính GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết
Nhóm 6 Trang 10
Mặc dù hệ thống ngân hàng Việt Nam không chịu ảnh hưng trực tiếp từ cuộc khủng hoảng
ti chnh đang diễn ra nhưng không phải là không có vấn đ. Những vấn đ mà hệ thống
ngân hàng gặp phải chủ yếu phát sinh từ những yếu tố nội tại.
- Trước hết, là vấn đ mô hình của hệ thống ngân hàng. Theo Khoản 2, Điu 20 của Luật
các tổ chức tín dng được Quốc hội ban hnh năm 1997 v được sửa đổi, bổ sung năm
2004 thì các loại hình ngân hàng Việt Nam bao gồm: ngân hng thương mại, ngân hàng
phát trin, ngân hng đầu tư, ngân hng chnh sách, ngân hng hợp tác và các loại hình
ngân hng khác. Nhưng dưới gốc độ lập pháp thì cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có sự
phân biệt rõ ràng v chức năng của từng loại ngân hng. Đặc biệt, chưa có một văn bản
pháp quy no được ban hnh đ điu chỉnh hoạt động của ngân hàng phát trin v NHĐT
– là những hoạt động kinh doanh ngân hàng có rủi ro cao nhất. Chính sự mập mờ ny đã
tạo điu kiện cho các NHTM, các CTTC “lấn sân”. V trên thực tế, nhiu NHTM và các
CTTC đã “không ngần ngại” đầu tư vo bất động sản và chứng khoán đã mang lại không
ít hệ ly cho nn kinh tế, góp phần không nhỏ vào việc đẩy nn kinh tế đi đến lạm phát
thời gian qua.
- Tiếp theo, là sự ra đời ồ ạt của các ngân hàng và các tổ chức tín dng phi ngân hng, đặc
biệt l các CTTC. Cho đến thời đim hiện tại, chúng ta đã có trên 80 ngân hng thương
mại và trên 20 công ty tài chính. Phần lớn các CTTC đu có nguồn góc vốn góp từ các tập
đon kinh tế, các tổng công ty nh nước lớn. Với vai trò tạo vốn v điu hoà vốn giữa các
thành viên trong tập đon, tổng công ty, cho nên CTTC dễ dàng bỏ qua những chuẩn mực
cần thiết của hoạt động tín dng trong việc tài trợ vốn cho các thành viên, các dự án của
tập đon v tổng công ty. Điu này không những làm cho rủi ro tín dng tăng lên m còn
lm tăng nguy cơ “hiệu ứng dây chuyn” khi thị trường tin tệ hoặc lĩnh vực kinh doanh
chính của tập đon, tổng công ty có biến động mạnh.Việc có quá nhiu ngân hàng (trong
đó, có khoản 25% ngân hàng có hiệu quả kinh doanh hạn chế) và các CTTC sẽ dẫn đến hai
nguy cơ lớn là khả năng huy động vốn đ duy trì kinh doanh ổn định và khả năng quản trị
với mức cuối năm 2007 thì các doanh nghiệp lại tỏ ra không mấy mặn mà. Nguyên nhân
chủ yếu được xác định là do ảnh hưng của đợt lạm phát trong nước vừa qua và của cuộc
khủng khoảng tài chính toàn cầu đang diễn ra đã lm sức mua trong nước và trên thị trường
các nước vốn l nơi tiêu th truyn thống sản phẩm xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt
Nam giảm mạnh. Như vậy, hệ thống ngân hàng Việt Nam lại đối diện với một thách thức
mới. Đó l tìm đầu ra cho những đồng vốn của mình. Trong điu kiện TTBĐS “đóng băng”
và TTCK liên tc tuột dốc thì rõ rng đây thật sự là một bài toán khó.
2.2.2. Những tác động đến thị trường chứng khoán
Các nghiên cứu gần đây cho thấy, cơn bão ti chnh thế giới chưa có những tác động
lớn trực tiếp đến nn kinh tế nói chung và TTCK Việt Nam nói riêng. Cơ s của những kết
luận trên là tính liên thông và hội nhập của nn kinh tế Việt Nam với nn kinh tế và thị
Tiểu luận thị trường tài chính GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết
Nhóm 6 Trang 12
trường tài chính thế giới chưa cao. Tuy nhiên, nếu xem xét một cách thấu đáo có th thấy
rằng mặc dù không chịu ảnh hưng trực tiếp nhưng TTCK Việt Nam cũng đã chịu sự tác
động nhất định từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sự tác động này biu hiện trên các
phương diện sau đây:
- Một là, khủng hoảng tài chính với sức lan tỏa nhanh chóng đã tác động đến các quốc gia
vốn là thị trường xuất khẩu hàng hoá của nhiu doanh nghiệp niêm yết như Mỹ, Liên minh
Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc…Khủng hoảng tài chính làm sức mua của các thị trường
trên giảm sút nghiêm trọng ảnh hưng đáng k đến kế hoạch doanh thu và lợi nhuận của
các doanh nghiệp niêm yết làm giá cổ phiếu của các doanh nghiệp này vốn đang st giảm
lại khó có khả năng phc hồi.
- Hai là, khủng hoảng ti chnh đã lm cho các nh đầu tư nước ngoài bán ròng cổ phiếu,
trái phiếu. Tính từ đầu tháng 8/2008 đến đầu tháng 10/2008 các nh đầu tư nước ngoi đã
liên tc bán ròng cổ phiếu với tổng giá trị lên 1.278 tỷ đồng và khoảng 13,5 ngàn tỷ đồng
đối với trái phiếu[9]. Với giá trị bán ra khổng lồ ny đã góp phần không nhỏ vào sự st
giảm của chỉ số VN-Index và Hastc-Index thời gian qua. Trước đó, nhiu ý kiến đã “trấn
an” các nh đầu tư l sẽ không có chuyện các nh đầu tư ngoại rút vốn vì phần lớn các quỹ
nhiu thông tin tốt v nn kinh tế được phát đi như lãi suất cơ bản v giá xăng liên tc
giảm, chỉ số giá tiêu dùng giảm đáng k đã không nhận được những phản ứng tích cực nào
từ thị trường và chỉ số chứng khoán cả 2 sàn Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đu giảm.
Điu đó cho thấy nh đầu tư Việt Nam đã không còn quan tâm đến các thông tin tốt từ nn
kinh tế trong nước nữa. Cái mà họ quan tâm là diễn biến tình hình giao dịch các TTCK
Mỹ, Anh, Nhật Bản…thế nào và sẽ có hnh vi đầu tư tương tự. Thời gian gần đây, diễn
biến của các chỉ số chứng khoán Việt Nam luôn cùng chiu với chỉ số của các thị trường
trên. Vậy là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã chuyn hướng tâm l đầu tư của các
nh đầu tư Việt Nam: từ đầu tư theo nh đầu tư nước ngoài trong nước sang đầu tư theo
các “nh đầu tư ngoi nước’’. Tâm lý này tr thành một rào cản không nhỏ cho các nỗ lực
của Chính phủ nhằm vực dậy TTCK. Nhiu chuyên gia đã chỉ ra rằng, khi thị trường tài
chính có biến động mạnh một hoặc nhiu nước phát trin, các TTCK toàn cầu có độ liên
thông lớn hơn rất nhiu so với thời kỳ ổn định và Việt Nam cũng không nằm ngoài quy
luật đó.
- Thứ tư, tâm l giá xuống đã lm méo mó vai trò l “phong vũ biu” phản ánh “sức khỏe”
nn kinh tế v đe dọa tính thanh khoản của thị trường. Đó l khi, giá chứng khoán xuống
quá thấp thì người bán lại không muốn bán nhưng người mua cũng sẽ không dám mua do
vẫn còn lo sợ chứng khoán sẽ tiếp tc giảm nữa. Khi đó từ “khủng hoảng nim tin” thị
trường sẽ chuyn sang một cuộc khủng hoảng khác nguy him hơn nhiu: khủng hoảng v
tính thanh khoản.
Tiểu luận thị trường tài chính GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết
Nhóm 6 Trang 14
- Thứ năm, mặc dù không phải phát sinh mới đây do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
nhưng TTCK Việt Nam vẫn còn tồn tại rất nhiu những vấn đ khác mà trong phạm vi bài
viết ny chúng tôi chưa có điu kiện đ cập đến. C th như các vấn đ v khung pháp lý,
vai trò quản lý, giám sát của Nh nước, tính minh bạch của thị trường…
2.3. Giải pháp cho hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán Việt Nam
Như đã phân tch trên, mặc dù không chịu ảnh hưng trực tiếp từ cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu nhưng Việt Nam ít nhiu cũng đã chịu sự tác động nhất định. Sự
mang tính chất v việc nhiu hơn l những vấn đ mang tính chất chiến lược. Việc hoàn
thiện hệ thống pháp luật v ngân hàng phải được tiến hnh theo hướng nâng cao tnh độc
lập và vai trò chủ động trong quản l, điu hành linh hoạt chính sách tin tệ, m rộng thẩm
quyn v tăng cường các công c kim tra, giám sát hoạt động kinh doanh ngân hàng của
NHNN. Song song đó, cần có sự tách bạch rõ ràng giữa hoạt động của NHTM v NHĐT
đồng thời nâng cao điu kiện cấp phép thành lập và hoạt động của NHTM cổ phần và các
CTTC. Các văn bản v ngân hàng phải đặt nn tảng pháp l đ tạo ra môi trường kinh
doanh ngân hàng minh bạch và nâng cao tính cạnh tranh thông qua việc đẩy mạnh cổ phần
hoá các NHTM Nh nước v hình thnh cơ s pháp lý rõ ràng cho việc sáp nhập, hợp nhất
và phá sản ngân hàng.
-Tăng cường kim soát rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Trước hết, NHNN cần đẩy mạnh
công tác kim tra, giám sát, thanh tra việc thực hiện các quy định v các tỷ lệ bảo đảm an
toàn trong hoạt động ngân hàng của các ngân hng v TCTD theo quy định Luật các tổ
chức tín dng và Quyết định số 457/2005 ngày 19/4/2005 quy định c th các tỷ lệ bảo
đảm an toàn trong hoạt động của TCTD v các văn bản khác. Đặc biệt, cần nghiên cứu xây
dựng và giám sát chặt chẽ hạn mức tín dng đối với các lĩnh vực nhạy cảm như cho vay
kinh doanh, đầu tư chứng khoán, bất động sản…V lâu dài, NHNN cần xây dựng hệ thống
quản trị rủi ro phù hợp với thông lệ quốc tế theo tiêu chuẩn an toàn vốn của Basel, rà soát
và xây dựng mới các quy định v phân loại nợ, trích lập và sử dng dự phòng đ xử lý rủi
ro… V phía Chính phủ và Bộ Tài chính, cần quản lý và kim soát nguồn vốn Nh nước
trong các CTTC Nh nước, ngăn chặn tình trạng lạm dng đầu tư ti chnh bằng nguồn
Nh nước của các tổ chức ny như l một biện pháp loại trừ nguyên nhân lạm phát và góp
phần lành mạnh hoá thị trường tin tệ. V phía các NHTM, và các tổ chức tín dng phải
nâng cao năng lực quản l, điu hành, áp dng các chuẩn mực quản trị ngân hàng hiện đại
và tổ chức tốt hoạt động của bộ phận kim soát, kim toán nội bộ tại tr s chính và các
chi nhánh.
-Đẩy mạnh các giải pháp nâng cao tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Theo quan
đim của tôi, tính thanh khoản có vấn đ không những khi các ngân hàng gặp khó khăn v
khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn mà ngay cả khi họ gặp khó khăn cho đầu ra của
nguồn vốn của mình. Sau khi các biện pháp thắt chặt tin tệ của Chính phủ mang lại hiệu
khoán minh bạch, công bằng v đúng pháp luật.
-Xây dựng lộ trình hợp lý cho việc áp dng các công c, sản phẩm mới cho thị trường như
bán khống và giao dịch ký quỹ, đặc biệt là các công c phái sinh. Các công c phái sinh
chỉ nên áp dng khi đã hình thnh một khung pháp l đầy đủ đ điu chỉnh việc phát hành
và giao dịch các công c phức tạp ny trên cơ s nhận thức đầy đủ những yếu tố tích cực
Tiểu luận thị trường tài chính GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết
Nhóm 6 Trang 17
và tiêu cực của nó sau khi trình độ quản l, điu hành thị trường đã được nâng lên một
bước.
-Cần nghiên cứu và sớm trin khai các công c kích cầu trong đầu tư. Trước hết, Chính
phủ nên xem xét khả năng li thời gian thu thuế từ đầu tư chứng khoán vì nguồn thu từ đầu
tư chứng khoán không nhiu nhưng nó sẽ là nguồn động viên tinh thần giúp các thị trường
có th cải thiện phần no niêm tin cho các nh đầu tư, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài ra, theo tín hiệu thị trường cần sớm đưa vo áp dng các giải phải giúp hỗ trợ tính
thanh khoản và khuyến khch đầu tư như lệnh thị trường, cho phép nh đầu tư được m
nhiu tài khoản v được cùng mua, cùng bán một loại chứng khoán trong cùng một ngày
giao dịch, sớm đưa thị trường giao dịch các cổ phiếu chưa niêm yết đi vo hoạt động…
-Đẩy mạnh và kiên quyết đối với việc tách chức năng lưu k tin của nh đầu tư từ công
ty chứng khoán sang ngân hng đ minh bạch hoá hoạt động của công ty chứng khoán, gây
dựng lòng tin của các nh đầu tư. Thường xuyên kim tra và giám sát các hoạt động kinh
doanh của công ty chứng khoán, đặc biệt là các hoạt động tim ẩn xung đột lợi ích cao
3. Giải pháp m rộng tn dng ngân hng trong thời điểm hiện nay
3.1. V pha người tiêu dng
Người tiêu dng, người lao động chnh l người cuối cng sử dng sản phẩm hng
hoá dịch v m ton xã hội tạo ra. Do đó, vai trò của người tiêu dng sẽ giữ vai trò quyết
định trong việc khơi thông dòng vốn đầu tư vo cơ s hạ tầng kỹ thuật cũng như việc tạo
sự tái đầu tư của Chnh phủ, Ngân hng v cộng đồng Doanh nghiệp.
Từ vai trò đó, người tiêu dng sẽ tạo ra sức mua cho thị trường, tạo sự gia tăng mạnh
trong tổng cầu đ từ đó lm đầu ra cho sản phẩm, dịch v của ton xã hội. Đ đảm bảo tốt
nghệ trong quá trình quản l đ giảm chi ph quản l cũng như chi ph hoạt động của ngân
hng. Từ đó, có nguồn vốn với lãi suất rẻ v ổn định hơn giúp đảm bảo dòng vốn đầu ra
được khơi thông.
Bên cạnh đó luôn đầu tư đ nâng cao trình độ của tất cả cán bộ quản l, cán bộ tn
dng, cán bộ thẩm định dự án đầu tư, quản l rủi ro được tốt hơn. Từ đó sẽ tránh được
những tình trạng nợ xấu, tránh được sự sách nhiễu của nhân viên đối với bên có nhu cầu
vay vốn tn dng.
2.4. V pha quản l Nh nước
Tạo lập môi trường vĩ mô ổn định, phát trin bn vững, duy trì chỉ số lạm phát ổn
định mức vừa phải. Tập trung nghiên cứu đ ban hnh chnh sách kịp thời v bn vững;
bên cạnh đó tăng cường thanh tra, kim tra việc nghiêm chỉnh chấp hnh pháp luật, chnh
sách của các bên tham gia thị trường đ đảm bảo sự công bằng, minh bạch cho thị trường;
tạo tin đ cho tnh thanh khoản của dòng vốn, duy trì nn kinh tế phát trin mức độ vừa
phải, bảo đảm việc lm cho lực lượng lao động. Đó l cơ s đ ổn định xã hội, tạo sức cầu
Tiểu luận thị trường tài chính GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết
Nhóm 6 Trang 19
cho thị trường, phát trin kinh tế v giải quyết được vấn đ ứ đọng vốn tại ngân hng trong
thời gian hiện nay.
Tóm lại, đ giải quyết vấn đ kinh tế lớn của đất nước ta hiện nay trong đó có cả
việc đảm bảo tăng trưng tn dng mức 12% trong năm nay thì đòi hỏi ton xã hội có
một quyết tâm lớn. Các bên tham gia đu phải chung tay góp sức, phối hợp đồng bộ như
các giải pháp được kiến nghị trên; song song với việc giải quyết nợ xấu tn dng cũ nằm
trong bất động sản thì ton bộ nn kinh tế mới có hướng đi tốt cho vấn đ hiện nay.