Số hóa bởi trung tâm học liệu
TRỰC TIẾP CỦA NHẬT BẢN VÀO
VIỆT NAM VÀ TRIỂN VỌNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2013
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH TRẦN THU PHƢƠNG GIẢI PHÁP THU HÚT ĐẦU TƢ
i
Số hóa bởi trung tâm học liệu
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ “Giải pháp thu hút đầu tƣ trực tiếp
của Nhật Bản vào Việt Nam và triển vọng” là công trình nghiên cứu của cá
nhân tôi và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị số liệu được sử
dụng trong luận văn hoàn toàn trung thực và , các tài
liệu tham khảo được trích dẫn đầy đủ, mọi sự giúp đỡ
năm 201
Trần Thu Phƣơng Trần Thu Phương
iii
Số hóa bởi trung tâm học liệu
MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng, biểu vii
Danh mục các hình vii
MỞ ĐẦU 1
2.2. Phương pháp nghiên cứu 34
2.2.1. Cơ sở phương pháp luận 34
2.2.2. Phương pháp thống kê 34
2.3. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 38
Chƣơng 3. THỰC TRẠNG ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NHẬT BẢN VÀO
VIỆT NAM VÀ TRIỂN VỌNG 40
3.1. Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản 40
3.2. Thực trạng FDI của Nhật bản vào Việt Nam 46
3.2.1. Tình hình đầu tư 46
3.2.1.1. Thực trạng về quy mô vốn và số lượng dự án đầu tư 46
3.2.1.2. Cơ cấu FDI Nhật Bản phân theo ngành 49
3.2.1.3. Thực trạng FDI Nhật Bản theo vùng, địa phương 51
3.2.1.4. Thực trạng FDI Nhật bản theo hình thức đầu tư 56
3.2.1.5. So sánh FDI Nhật Bản và các quốc gia khác 58
3.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến FDI Nhật Bản vào Việt Nam 60
3.2.2.1. Cơ chế chính sách 60
3.2.2.2. Nguồn lực của Việt Nam 61
3.2.2.3. Cơ sở hạ tầng 63
3.2.2.4. Sự phát triển của công nghiệp phụ trợ 64
3.2.2.5. Sự ổn định về chính trị xã hội 65
3.2.2.6. Sức mạnh của doanh nghiệp và sự phát triển của Kinh tế Nhật Bản 66
3.2.2.7. Quy mô thị trường 67
3.2.2.8. Sự cạnh tranh thu hút vốn của các quốc gia trong khu vực 68
v
Số hóa bởi trung tâm học liệu
3.2.3. Đánh giá về thực trạng FDI Nhật Bản vào Việt Nam 70
3.2.3.1. Những thành tựu đạt được 70
3.2.3.1. Những mặt hạn chế và nguyên nhân 72
3.3. Triển vọng thu hút FDI Nhật Bản vào Việt Nam 75
3.3.1. Tiềm năng phát triển kinh tế của Việt Nam và dự báo 75
Tiếng Việt
Chữ viết tắt
Ý nghĩa
CC
Cơ cấu
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
DA
Dự án
KD
Kinh doanh
LĐ
Lao động
SX
Sản xuất
XH
Xã hội
VĐK
Vốn đăng ký
Tiếng Anh
Chữ viết tắt
Tên tiếng Anh
Nghĩa tiếng Việt
BCC
Business Cooperation Contract
Hợp đồng hợp tác kinh
doanh
Chỉ số năng lực cạnh tranh
cấp tỉnh
WB
World Bank
Ngân hàng thế giới
WTO
World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế
giới
vii
Số hóa bởi trung tâm học liệu
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Biểu 3.1: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tại Việt Nam theo ngành 50
Biểu 3.2: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tại Việt Nam theo vùng 52
Biểu 3.3: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tại Việt Nam theo địa phương 54
Biểu 3.4: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tại Việt Nam theo hình thức đầu tư 56
Biểu 3.5: Các nước đầu tư trực tiếp lớn nhất tại Việt Nam 59
Bảng 3.6: Lực lượng lao động Việt Nam phân theo nhóm tuổi 62
Bảng 3.7: Những trở ngại trong đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản tại khu
vực Đông và Đông Nam Á 69
Bảng 3.8: Chỉ số năng lực cạnh tranh của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2011 79 DANH MỤC CÁC HÌNH
Biểu đồ 3.1: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tại Việt Nam giai đoạn 1993 – 2012 46
Biểu đồ 3.2: Dân số Việt Nam giai đoạn 1990 – 2011 67
Biểu đồ 3.3: Tốc độ tăng GDP của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2011 76
Biểu đồ 3.4: Thay đổi trong PCI có trọng số các tỉnh tại Việt Nam 80
không đáng kể. Bên cạnh đó, sau một khoảng thời gian duy trì cơ chế kế hoạch hóa
tập trung khiến nền kinh tế rơi vào trình trạng đình đốn, sản xuất kinh doanh ngưng
trệ. Công cuộc đổi mới đã mang lại luồng sinh khí thức tỉnh kinh tế Việt Nam, trong
đó phải kể đến ảnh hưởng mạnh mẽ của các dòng vốn FDI liên tục đổ vào Việt Nam
đã bổ sung có hiệu quả nguồn lực mà Việt Nam đang hết sức khan hiếm và tạo ra
những kết quả thành công ban đầu.
Trong các đối tác đầu tư trực tiếp tại Việt Nam, Nhật Bản là một trong những
quốc gia quan trọng nhất có vai trò và ảnh hưởng ngày càng sâu rộng trong nền kinh
tế Việt Nam. Nhật Bản không chỉ là nước cung cấp vốn hỗ trợ phát triển chính thức
ODA cho Việt Nam lớn nhất mà còn là quốc gia đầu tư trực tiếp hàng đầu tại Việt
Nam cả về quy mô và vốn đầu tư. Ngay từ năm 1986, các nhà đầu tư Nhật Bản đã
tìm kiếm cơ hội và hợp tác sản xuất kinh doanh tại Việt Nam. Cùng với sự phát
triển được xây dựng lên tầm đối tác chiến lược, mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam
– Nhật Bản ngày càng gắn bó mật thiết. Có thể nói thành công trong công cuộc đổi
mới về kinh tế Việt Nam có sự đóng góp không nhỏ của Nhật Bản. Đầu tư trực tiếp
của Nhật Bản đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, bổ sung cho
2
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Việt Nam một nguồn vốn phục vụ phát triển kinh tế. Là một nước có nền công
nghiệp hiện đại, Nhật Bản thông qua đầu tư trực tiếp có tiềm năng lớn trong việc
chuyển giao những công nghệ sản xuất tiên tiến và kinh nghiệm quản lý cho Việt
Nam. Bên cạnh đó, sự tham gia của các nhà đầu tư Nhật Bản vào nền kinh tế Việt
Nam có thể giúp cho Việt Nam sử dụng các nguồn lực của mình một cách hiệu quả
hơn, một lực lượng lớn lao động được có việc làm và nâng cao trình độ tay nghề,
chất lượng. Trên cơ sở đó, cơ cấu kinh tế của Việt Nam đã có sự chuyển dịch tích
cực, phù hợp với thời đại. Mặc dù Việt Nam thu hút được một lượng lớn vốn đầu tư
trực tiếp của Nhật Bản nhưng với kết quả này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng
hợp tác kinh tế giữa hai nước. Hoạt động đầu tư của Nhật Bản tại Việt Nam còn tồn
tại nhiều vấn đề hạn chế, bất cập khiến cho môi trường đầu tư của Việt Nam thiếu
sức thu hút với các nhà đầu tư Nhật Bản.
Bản vào Việt Nam trong tương lai
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài được tổ chức nghiên cứu trên phạm vi nước Việt Nam
- Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu số liệu thứ cấp trong giai đoạn từ
năm 1993 đến năm 2012. Số liệu về đầu tư trực tiếp của Nhật Bản được tính từ năm
1989 lũy kế đến năm 2012
- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề thu hút vốn FDI của Nhật
Bản tại Việt Nam trên các mặt số lượng dự án, quy mô vốn đầu tư.
4. Ý nghĩa khoa học và đóng góp mới của luận văn
- Đề tài là một cách tiếp cận bổ sung thêm trong nghiên cứu thu hút đầu trực
trực tiếp của Nhật Bản tại Việt Nam. Đề tài thực hiện phân tích thực trạng việc thu
hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản trên nhiều mặt, khía cạnh với những số liệu được
cập nhật. Phân tích những thành công cũng như hạn chế của Việt Nam trong việc
thu hút vốn FDI từ Nhật Bản.
- Bên cạnh các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá việc thu hút đầu tư, đề tài có sử
dụng thêm các chỉ số mới, hiện đại đang được sử dụng rộng rãi trong phân tích triển
vọng thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tại Việt Nam.
- Đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư, tạo
môi trường đầu tư thuận lợi, hấp dẫn tại Việt Nam.
4
Số hóa bởi trung tâm học liệu
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục luận văn được chia thành 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam và triển
vọng
- Chương 4: Giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam
5
Số hóa bởi trung tâm học liệu
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP
NƢỚC NGOÀI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1.Khái quát về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
1.1.1.1. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Khái niệm đầu tư
Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các họat
động nào đó nhằm thu được các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các
nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Nguồn lực có thể là vốn, công nghệ, đất đai, trí tuệ…Các kết quả thu được có
thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính như tiền, các tài sản vật chất như nhà cửa,
đất đai…Trên góc độ kinh tế, đầu tư là sự hy sinh giá trị hiện tại để nhằm tạo ra các
tài sản mới cho nền kinh tế.
Nếu nhà đầu tư bỏ ra một lượng tài sản đủ lớn để lập cơ sở sản xuất mới hoặc
mua lại các cơ sở sản xuất hiện có và trực tiếp quản lý tài sản đó, hình thức đầu tư
này gọi là đầu tư trực tiếp hay đầu tư phát triển. Bên cạnh đó, nếu chủ đầu tư bỏ ra
một lượng tài sản (chủ yếu dưới dạng vốn) để mua chứng chỉ có giá như cổ phiếu,
trái khoán… nhằm hưởng lợi tức mà không trực tiếp quản lý tài sản của mình được
gọi là đầu tư gián tiếp hay đầu tư tài chính. Sự phân biệt hai hình thức này chỉ mang
tính tương đối, bởi vì khi nhà đầu tư tài chính nắm số lượng cổ phiếu lớn nhất của
một doanh nghiệp thì lập tức có quyền quản lý hoạt động của doanh nghiệp đó và
trở thành nhà đầu tư trực tiếp.
Khái niệm đầu tư nước ngoài
Đầu tư nước ngoài được hiểu là một quá trình di chuyển vốn từ quốc gia
Theo quan điểm của Trung Quốc, nước đứng đầu thế giới về thu hút FDI, thì:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc người sở hữu tư bản tại nước này mua hoặc
kiểm soát một thực thể kinh tế của nước khác. Đó là một khoản tiền mà nhà đầu tư
trả cho một thực thể kinh tế của nước ngoài để có ảnh hưởng quyết định đối với
thực thể kinh tế ấy hoặc thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy” [11].
7
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Theo quan điểm của Nhật Bản, thì: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc đầu tư
vốn vào hoạt động kinh doanh ở nước ngoài nhằm thu lợi nhuận”[2]. Hầu như tất cả
số tiền đầu tư vào các hoạt động kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư phải được đem
từ nước đi đầu tư vào nước chủ nhà. Bộ luật Kiểm soát ngoại hối và ngoại thương
của Nhật Bản ban hành tháng 10/1980 cũng qui định: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
có nghĩa là “nắm lấy bất kỳ cổ phiếu do một tổ chức pháp nhân theo luật pháp nước
ngoài phát hành, hay bất cứ một khoản tiền cho vay với một tổ chức pháp nhân như
vậy nhằm thiết lập mối quan hệ lâu dài, hoặc bất kỳ một khoản trả vốn nào để thành
lập, mở rộng chi nhánh, nhà máy hay một doanh nghiệp ở nước ngoài bởi một
người bản xứ” [2].
Theo những định nghĩa này thì FDI mang lại không chỉ bao gồm việc chuyển
giao vốn mà bao gồm việc chuyển giao trọn gói các nguồn lực như công nghệ và kỹ
năng quản lý.
Tại Việt Nam, Luật đầu tư nước ngoài (1987) đã đưa ra khái niệm đầu tư
trực tiếp nước ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân
nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào
được Chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng
hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo
quy định của Luật này” [5]. Khái niệm này được đưa ra khi Việt Nam chấp nhận ba
hình thức đầu tư tực tiếp nước ngoài là hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp
tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngày 29/11/2005 Luật đầu tư mới ra đời trên
cơ sở sự kết hợp giữa Luật đầu tư trong nước và Luật đầu tư nước ngoài. Điều 12
Nam dưới các hình thức sau:
Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC): Là hình thức đầu tư trong đó các bên
tham gia hợp đồng ký thỏa thuận để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất
kinh doanh ở nước nhận đầu tư, trên cơ sở quy định rõ đối tượng, nội dung kinh
doanh, nghĩa vụ, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho các bên tham gia.
Liên doanh: Là loại hình doanh nghiệp do hai bên hay nhiều phía nước ngoài
và nước nhận đầu tư hợp tác cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận,
cùng chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn đóng góp.
9
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà
đầu tư nước ngoài. Loại doanh nghiệp này có thể do một hoặc nhiều tổ chức hoặc cá
nhân người nước ngoài thành lập tại nước nhận đầu tư. Nhà đầu tư tự đứng ra tổ
chức quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm về kết quả kinh
doanh cuối cùng.
Hình thức BOT và hình thức phát sinh BTO và BT
BOT là hình thức thức đầu tư được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm
quyền của nước chủ nhà với các nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư xây dựng công
trình kết cấu hạ tầng (kể cả mở rộng, nâng cấp, hiện đại hóa công trình), kinh doanh
trong thời gian nhất định để thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý, sau đó chuyển giao
không bồi hoàn toàn bộ công trình cho nước chủ nhà.
Hình thức BOT có các hình thức phát sinh BTO và BT, nhưng có đặc điểm
khác là:
- Đối với hình thức BTO, sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư nước
ngoài chuyển giao lại cho nước chủ nhà, được chính phủ nước chủ nhà dành cho
quyền kinh doanh công trình đó hoặc công trình khác trong một thời gian đủ để
hoàn lại toàn bộ vốn đầu tư và có lợi nhuận.
- Đối với hình thức BT, sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư nước
ngoài chuyển giao lại cho nước chủ nhà, được chính phủ nước chủ nhà thanh toán
bằng tiền hoặc bằng tài sản nào đó tương xứng với vốn đầu tư và có lợi nhuận.
được phân chia thành các dạng:
- Dự án FDI quy mô nhỏ
- Dự án FDI quy mô vừa
- Dự án FDI quy mô lớn
1.1.2. Vai trò của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
1.1.2.1. Đối với nước thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tác động tích cực
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Thông qua khai thác những lợi thế
của nước tiếp nhận đầu tư như: nguồn lao động giá rẻ hoặc gần nguồn nguyên liệu,
thị trường
Thứ hai, tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng hiện đại và hiệu quả hơn. Trong
giai đoạn 1975 – 1995, khi đồng Yên tăng giá đã thúc đẩy các công ty của Nhật Bản
11
Số hóa bởi trung tâm học liệu
di chuyển sản xuất ra nước ngoài, đã tạo điều kiện tốt hơn cho việc liên kết theo
chiều ngang giữa các nước trong khu vực. Trong đó, các công ty mẹ ở Nhật Bản chỉ
tập trung vào sản xuất các mặt hàng cấp cao, trang thiết bị cần thiết để cung cấp cho
các chi nhánh ở khắp châu Á. Các chi nhánh được cắm tại các nước trong khu vực
sản xuất những mặt hàng cần nhiều lao động, kỹ thuật ở trình độ vừa và thấp để
thay thế cho các mặt hàng nhập khẩu từ Nhật Bản phục vụ cho thị trường nước sở
tại, xuất khẩu sang nước thứ ba hoặc ngược trở lại thị trường Nhật Bản.
Thứ ba, tránh được các hàng rào bảo hộ mậu dịch và phi mậu dịch. Thông
qua đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, các nhà đầu tư sẽ thiết lập được các cơ sở sản
xuất kinh doanh nằm trong lòng các nước sở tại đang thực thi chính sách bảo hộ
mậu dịch và phi mậu dịch
Thứ tư, tăng lợi nhuận thông qua nghiệp vụ “chuyển giá”. Thông qua hoạt
động FDI ở nhiều quốc gia khác nhau, các công ty đa quốc gia sẽ lợi dụng được cơ
chế quản lý thuế ở mỗi nước để thực hiện nghiệp vụ “chuyển giá” nhằm trốn thuế,
tăng lợi nhuận cho công ty.
Thứ năm, phân tán rủi ro cho các chủ đầu tư do tình hình kinh tế, chính trị
phát triển khả năng công nghệ của các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng ở trong nước,
kích thích các doanh nghiệp trong nước đầu tư, đổi mới cộng để tạo ra sản phẩm có
khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp FDI. Ngoài ra các mô hình quản lý và
các phương thức kinh doanh hiện đại được sử dụng tại các doanh nghiệp FDI thúc
đẩy các doanh nghiệp nội địa đổi mới tư duy trong quản lý, tiếp thu kinh nghiệm
quản lý tiên tiến.
Thứ ba, tạo việc làm, nâng cao mức sống và chất lượng nguồn nhân lực
Các dự án FDI tạo việc làm bằng thu hút lao động của nước chủ nhà làm việc
trực tiếp trong các dự án FDI và gián tiếp tạo ra việc làm bằng cách thúc đẩy các
hoạt động cung ứng dịch vụ liên quan.
Thông qua các dự án FDI đầu tư sản xuất, phân phối các loại dược phẩm,
thiết bị y tế và chế biến thực phẩm có chất lượng tại nước chủ nhà, góp phần nâng
cao sức khier và dinh dưỡng cho người dân sở tại.
Ngoài ra, các nhà đầu tư nước ngoài đã cung cấp các khoản trợ giúp tài chính
hoặc trực tiếp mở các lớp đào tạo dạy nghề hoặc gửi đi đào tạo ở nước ngoài góp
phần quan trọng phát triển giáo dục dạy nghề , nâng cao năng lực quản lý cho lao
động nước tiếp nhận đầu tư.
13
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Thứ tư, mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa
Các doanh nghiệp có vốn FDI góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng
lực xuất khẩu, mở rộng thị trường ra nước ngoài. Thông qua hợp tác với chủ đầu tư
nước ngoài, nước chủ nhà có điều kiện thâm nhập vào thị trường thế giới, nơi chủ
đầu tư có chỗ đứng (vì phần lớn các chủ đầu tư là các công ty xuyên quốc gia có
mạng lưới tiêu thụ sản phẩm ở nhiều nước trên thế giới)
Thứ năm, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Các dự án FDI chủ yếu tập trung đầu tư vào các ngành công nghiệp, dịch vụ.
Đặc biệt, các dự án FDI ở các nước đang phát triển đã hình thành các ngành công
nghiệp, dịch vụ mới góp phần chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng tăng tỷ trọng
ngành công nghiệp, dịch vụ trong cơ cấu nền kinh tế, kèm theo đó là sự thay đổi cơ
Ngoài các nhân tố khách quan như điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, địa chính
trị, kinh tế, các quốc gia thường tạo ra các môi trường và xây dựng các chính sách
hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài
Thứ nhất, hệ thống chính trị ổn định
Hệ thống chính trị ổn định là điều kiện đảm bảo cam kết của chính phủ đối với
các nhà đầu tư về sở hữu vốn, các chính sách ưu đãi đầu tư và định hướng phát triển.
Nhân tố này quy định mức độ rủi ro tài sản, hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư.
Hiệu quả điều hành của bộ máy nhà nước cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến
thu hút vốn FDI. Bộ máy nhà nước được điều hành bởi đội ngũ cán bộ có năng lực,
có phẩm chất đạo đức tốt thì các công việc hành chính có liên quan đến nhà đầu tư
được giải quyết nhanh chóng, hiệu quả.
Thứ hai, hệ thống pháp luật đồng bộ, đầy đủ và công khai
Hoạt động FDI có liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân và được tiến hành
trong thời gian dài. Vì vậy, hệ thống pháp luật của một nước cần đảm bảo các yếu
tố sau:
- Tính đầy đủ và đồng bộ của hệ thống pháp luật: Các hoạt động FDI chịu tác
động bởi nhiều chính sách pháp luật của nước chủ nhà gồm những chính sách tác
động trực tiếp như quy định về lĩnh vực đầu tư, quy định về sở hữu của nước ngoài,
miễn giảm thuế đầu tư, cạnh tranh, quyền sở hữu trí tuệ các chính sách tác động
gián tiếp như chính sách tài chính, tiền tệ, thương mại, an ninh, đối ngoại Hệ
thống pháp luật quy định không thống nhất sẽ dẫn đến việc các nhà đầu tư không
biết thực hiện theo chính sách hoặc quy định nào là đúng, dễ đẩy họ vào tình trạng
vi phạm pháp luật của nước chủ nhà.
15
Số hóa bởi trung tâm học liệu
- Khả năng thực thi pháp luật: tiến hành sản xuất, kinh doanh trên lãnh thổ
quốc gia khác với lượng tài sản lớn nên các nhà đầu tư phải dựa vào pháp luật của
nước chủ chủ nhà để đảm bảo quyền lợi của họ. Vì vậy, nếu việc thực thi pháp luật
không nghiêm, kém hiệu lực thì quyền lợi của các nhà đầu tư sẽ bị đe dọa.
- Thủ tục hành chính: Các thủ tục liên quan đến tất cả các khâu của quá trình
chuyển nguồn ngoại hối đi ra hoặc đi vào quốc gia đó.
- Chính sách tài chính: Bao gồm các chính sách thuế và các khuyến khích
khác như tỷ lệ thuế mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải nộp cho
ngân sách nhà nước, thời gian miễn thuế kể từ khi doanh nghiệp kinh doanh có lợi
nhuận. Ngoài ra, chính sách tài chính còn thể hiện qua việc cho phép tiếp cận các
nguồn lực tài chính như quỹ hỗ trợ phát triển, vay tín dụng ưu đãi, hỗ trợ đào tạo,
chuyển giao công nghệ.
- Chính sách tiền tệ: Bao gồm chính sách về tỷ giá hối đoái trong các giao
dịch, việc đảm bảo hay cân đối ngoại tệ cho các dự án quan trọng mà nguồn chủ yếu
từ đồng nội tệ, việc bảo lãnh vốn vay hoặc đảm bảo việc chuyển vốn ra nước ngoài,
chuyển ngoại hối đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Khả năng tốt nhất vẫn là không
có quy định gì từ phía nước chủ nhà để nhà đầu tư nước ngoài có thể chuyển các
khoản tiền (sau khi chịu thuế) về nước một cách tự do, đó là các khoản lợi nhuận,
các khoản kiếm ngoài và lợi tức đầu tư, vốn đầu tư gốc và lãi của các khoản vay
nước ngoài, các khoản như lương cho nhân viên nước ngoài, tiền bản quyền
Thứ năm, hệ thống cơ sở hạ tầng và chính sách đất đai
- Hệ thống giao thông: đường bộ, đường không, đường sắt, đường biển
- Khả năng đáp ứng các dịch vụ: điện, nước, bưu chính, viễn thông, khách sạn
- Chính sách đất đai: chính sách này xác định nhà đầu tư nước ngoài trong
quan hệ sở hữu đất đai, thời hạn và giá cả thuê đất, miễn giảm tiền thuế đất, vấn đề
góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất.
Thứ sáu, nguồn lao động và chính sách lao động, bao gồm các vấn đề sau:
- Nguồn lao động và giá cả lao động
- Trình độ và kỹ năng đội ngũ lao động
- Phong trào đình công, bãi công
- Chính sách hỗ trợ của chính phủ cho phát triển nguồn nhân lực
- Quy định tuyển dụng lao động nước ngoài trong doanh nghiệp FDI