Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Bộ 3 bất khả thi - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
  MÔN HỌC: KINH TẾ VĨ MÔ

ĐỀ TÀI: BỘ 3 BẤT KHẢ THI
GVHD : TS TRẦN THỊ BÍCH DUNG
LỚP : ĐÊM 3 KHÓA 22
NHÓM : 10
1. Huỳnh Trí Thanh
2. Nguyễn Thị Hương Thảo
3. Huỳnh Trọng Tài
4. Lâm Việt Thăng
5. Hồ Thị Phương Thảo
6. Nguyễn Hữu phú Thiện
7. Phan Thanh Trí Tâm
8. Ngô Thị Lệ Thu
TPHCM , THÁNG 04 NĂM 2013
Chương 1: Nghiên cứu lý thuyết tổng quan và các trường phái về bộ ba bất khả thi

Trang 2
MỤC LỤC


Chính sách tỷ giá của Trung Quốc 26

2.1.3

Chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của Trung Quốc 27

2.1.4

Tác động từ việc gia tăng dự trữ ngoại hối trong mối liên hệ với Bộ ba
bất khả thi 29

2.1.5

Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc 33

2.2 Kinh nghiệm của Ấn Độ 35
2.2.1

Các tranh luận về chế độ tỷ giá ở Ấn Độ 35

2.2.2

Hệ thống tỷ giá trên thực tế ở Ấn độ 36

2.2.3

Kiểm soát vốn 38

2.2.4

3.1 Dự trữ ngoại hối và mẫu hình trung gian của bộ ba bất khả thi ở Việt Nam s o với các nước khác .53
3.2 Chính sách vĩ mô và kiểm soát dòng vốn vào. 54
3.3 Tự do hóa đồng vốn ở Việt Nam 56
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH VĨ MÔ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM GÓC NHÌN TỪ
BỘ 3 BẤT KHẢ THI
4.1 Giải pháp cho Việt nam trong giai đoạn 2011-2020 60
4.1.1

Nhóm giải pháp chủ đạo 60

4.1.1.1 Giải pháp cho kiểm soát vốn 60
4.1.1.2 Giải pháp cho chính sách tỷ giá 63
4.1.1.3 Giải pháp cho chính sách tiền tệ: 66
4.1.2

Nhóm giải pháp bổ trợ 71

4.1.2.1 Phân quyền, phân nhiệm và công bố thông tin: 71
4.1.2.2 Vai trò tư vấn của giới học thuật và hội đồng chuyên gia 71
4.1.2.3 Hấp thu nguồn vốn trong một nền kinh tế mở cửa 73 Chương 1: Nghiên cứu lý thuyết tổng quan và các trường phái về bộ ba bất khả thi

Trang 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. Tên viết tắt tổ chức
ADB : Ngân hàng phát triển châu Á
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
EIU : Đơn vị dự báo, phân tích của tạp chí The Economist


1.1 Các mô hình nền tảng dẫn đến lý thuyết bộ ba bất khả thi
1.1.1 Mô hình IS-LM
M ô hình IS-LMcòn được gọi là mô hình Hicks-Hansen, do nó được hai nhà
kinh tế học John Hicks và Alvin Hansen xây dựng và phát triển. M ô hình này đã được
sử dụng để kết hợp các hoạt động khác nhau của nền kinh tế, nó là sự kết hợp giữa thị
trường tiền tệ và thị trường hàng hoá - dịch vụ trong nền kinh tế đóng.Theo đó, mô
hình IS-LM không chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài, như : xuất nhập khẩu, tỷ
giá hối đoái, lãi suất thế giới Vấn đề mô hình IS-LM muốn đưa ra là, nghiên cứu
xem chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ ảnh hưởng như thế nào đến thu nhập
trong nền kinh tế đóng. Chúng ta sẽ đưa mô hình này đến gần với thực tiễn hơn bằng
cách thêm yếu tố nước ngoài vào mô hình. Nhưng trước tiên, hãy cùng xây dựng hai
đường IS – LM và làm rõ ý nghĩa của mô hình này.
Xây dựng đường IS
Theo kinh tế học vĩ mô, phương trình biểu hiện trạng thái cân bằng trên thị
trường hàng hoá của một nền kinh tế đóng được biểu diễn như sau : Y = C + I + G
Triển khai phương trình trên, ta xây dựng đường IS. Đường IS là tập hợp các
kết hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập sao cho tổng chi tiêu kế hoạch đúng bằng
thu nhập, theo phương trình sau :
Tổng chi tiêu kế hoạch = C (Y – T) + I(r) + G
Xây dựng đường LM
Phương trình biểu hiện trạng thái cân bằng trên thị trường tiền tệ của một nền
kinh tế đóng được biểu diễn như sau : M / P = L ( Y, r )
Đường LM là tập hợp các kết hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập sao cho
cầu tiền thực tế bằng cung tiền thực tế.
Cân bằng IS-LM trong nền kinh tế đóng
Trạng thái cân bằng đồng thời trên cả hai thị trường hàng hoá và tiền tệ là trạng
Chương 1: Nghiên cứu lý thuyết tổng quan và các trường phái về bộ ba bất khả thi

Trang 6


Y*
Chương 1: Nghiên cứu lý thuyết tổng quan và các trường phái về bộ ba bất khả thi

Trang 7
khoá là phát huy tác dụng, còn chính sách tiền tệ thì vô hiệu lực. Chính phủ nới lỏng
tài khoá bao nhiêu thì thu nhập tăng lên bấy nhiêu, và thắt chặt bao nhiêu thì thu nhập
giảm bấy nhiêu. Trường hợp này cũng tương tự với khi đường IS thẳng đứng.
Chính sách tài khoá vô hiệu lực: Đường LM thẳng đứng gặp đường IS dốc
xuống, lúc này chính sách tài khoá không phát huy tác dụng. Ngược lại, chính sách
tiền tệ phát huy tác dụng tối đa, cung tiền tăng bao nhiêu thì thu nhập tăng bấy nhiêu.
Tương tự khi đường IS nằm ngang gặp đường LM dốc lên.
Hình 1.2: Mô hình IS-LM qua một số trường hợp đặc biệt

1.1.2 Sự mở rộng mô hình IS-LM: Mô hình Mundell-Fleming
Đã có nhiều nỗ lực trong việc mở rộng mô hình IS-LM bằng cách đưa yếu tố
nước ngoài vào mô hình.Trong đó, nỗlựcthànhcông nhấtđượcxemlà của“Mô
hìnhMundell-Fleming”.Đây là kết quảnghiên cứucủaRobertMundell(1962,
1963)vàJ.M.Fleming(1962)trongthờigianlàmviệctạiquỹ tiền tệ quốc tế IMF.Mô hình
r
Y
r
Y
r

Y

LM
IS
Chính sách

Chương 1: Nghiên cứu lý thuyết tổng quan và các trường phái về bộ ba bất khả thi

Trang 8
M undell-Fleming là sự mở rộng của nền tảng lý thuyết IS-LM khi có tính đến tác động
của yếu tố nước ngoài, được đại diện bằng cán cân thanh toán (Balance Payment -
BP). Đây được xem là điểm khởi đầu cho lý thuyết Bộ ba bất khả thi.Mô hình
M undell-Fleming chỉ ra sự tác động của chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá dưới
các chế độ tỷ giá khác nhau.Chúng ta sẽ cùng lần lượt phân tích các tác động này dưới
chế độ tỷ giá cố định và thả nổi.
Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ dưới chế độ tỷ giá cố định
Nếu như kết quả nghiên cứu mô hình IS-LM cho ta một kết luận: chính sách
tiền tệ và chính sách tài khoá thay đổi có thể dẫn đến sự thay đổi của thu nhập quốc
gia; thì mô hình Mundell-Fleming chỉ ra rằng: hai chính sách trên cóthểlàmthay đổi
trạng tháicủacán cânthanh toán, khiến cho cán cân thanh toán trở nên thâm hụt hay
thặng dư.
Hình 1.3: Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ dưới chế độ tỷ giá

BắtđầutạiđiểmcânbằngEở hình 1.3,nơimàcán cân thanh toán đang trong trạng
thái cân bằng,nếuchúngtathựchiệnmột chínhsáchtiềntệmởrộng(LM dịch chuyển sang
phải thành LM’) thì sẽ có mộtđiểm cân bằng mới nằm dưới đường BP (điểm F), và tại
đócán cân thanh toán thâmhụt.Chúng ta cũng lý luận tương tự cho trường hợp LM dịch
chuyển sang trái, cũng như khi IS dịch chuyển (tức chính phủ mở rộng hoặc thắt chặt
chính sách tài khoá).Những lý luận của mô hình hoàn toàn có thể được áp dụng vào
thực tế với những trường hợp cụ thể.Ví dụ, chính phủ triển khai chính sách mở rộng
tiền tệ trong bối cảnh muốn giữ cố định tỷ giá hối đoái, việc làm này có thể khiến cho
lạm phát gia tăng với giả định thị trường hàng hoá đã cân bằng.Lạm phát trong nước
khiến cho giá hàng hoá nhập khẩu rẻ hơn một cách tương đối so với hàng nội địa và
giá hàng hoá xuất khẩu đắt một cách tương đối so với hàng nước ngoài. Việc này
r


NHTWđãtácđộngđếnlạmpháttrongnước.Luận điểm này sauđóđượcFrankel
vàKrugmankhaithácvàxây dựngnên lýthuyết bộba bất khả thi.
Trên thực tế, có nhiều nỗ lực ở các quốc gia nhằm xoá bỏ một phần hay toàn bộ
tác động của lạm phát khi can thiệp vào thị trường bằng các chính sách trên.Theo đó,
với một nền kinh tế mở, tỷ giá hối đoái được giữ ổn định, việc điều hành chính sách
tiền tệ hay chính sách tài khoá sẽ không tác động đến mức lạm phát trong nước.Việc
này có phải là một liều thuốc “thần dược” để biến bộ ba bất khả thi thành bộ ba khả thi
hay không? Chúng ta hãy bắt đầu bằng việc tìm hiểu về các loại can thiệp không vô
hiệu hoá và vô hiệu hoá.
Can thiệp không vô hiệu hoá và can thiệp vô hiệu hoá
Can thiệp không vô hiệu hoá và can thiệp vô hiệu hoá là hai loại được xếp vào
nhóm can thiệp trực tiếp. Can thiệp trực tiếp là loại can thiệp của chính phủ vào cung
tiền của quốc gia.Thông thường, các chính phủ sẽ khiến cho đồng tiền nước mình
giảm giá bằng cách bán nội tệ và đổi lấy đồng ngoại tệ (thường là đô la) trên thị trường
ngoại hối. Điều này khác với can thiệp gián tiếp bằng cách tác động lên những yếu tố
ảnh hưởng đến tiền tệ, ví dụ như lãi suất.
Khi NHTW can thiệp vào thị trường hối đoái mà không điều chỉnh sự thay đổi
mức cung tiền tệ, điều này được gọi là can thiệp không vô hiệu hoá. Ví dụ, nếu NHTW
đổi đồng nội tệ lấy đồng đô la nhằm mục đích phá giá đồng nội tệ, đảm bảo ổn định tỷ
giá, mức cung tiền sẽ gia tăng.
Khi NHTW muốn can thiệp vào thị trường hối đoái trong khi vẫn duy trì mức
Chương 1: Nghiên cứu lý thuyết tổng quan và các trường phái về bộ ba bất khả thi

Trang 10
cung tiền tệ, họ sẽ sử dụng can thiệp vô hiệu hoá bằng các giao dịch trong thị trường
ngoại hối và các hoạt động trên thị trường mở. Ví dụ, nếu NHTW muốn hạ giá đồng
nội tệ mà không làm ảnh hưởng đến mức cung tiền, họ có thể đổi nội tệ lấy đô la, tăng
mức cung tiền, và sau đó bán một số chứng khoán kho bạc hiện có để thu nội tệ về,
giảm mức cung tiền. Nếu như lượng nội tệ thu vào do bán chứng khoán đúng bằng
lượng nội tệ tung ra thị trường khi mua đô la, lạm phát sẽ không xảy ra. Chúng ta cũng

đầu.Điềunày đưatađến kết luận: dưới chế độ tỷ giá cố định, chính sách tài khoá có hiệu
quả cao hơn và chính sách tiền tệ kém hiệu quả hơn trong việc gia tăng sản lượng.
Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ dưới chế độ tỷ giá linh hoạt
Cáchàmýcủachính sách tiền tệvàchính sách tài khoá dưới chếđộtỷ giálinh hoạt
có thể được hình dung trong hình 1.4. Giả định chúng ta bắt đầu tại điểm E, phần giao
nhau của đường cong IS, LM, BP; và giả định có một sự mở rộng chính sách tiền tệ từ
LM sang LM’. Kết quả, chúng tadịch chuyển từE đến F,là mộtcán cân thanh toán
thâmhụt.Tại điểmF,cómột cầu thặng dư về ngoại tệ và cung thặng dư về nội tệ trên thị
trường ngoại hối. Dưới cơ chế tỷ giá linhhoạt,tỷgiáthựcsẽgiảm,dođóđườngBP
dịch chuyểnsangphảithànhBP’vàISdịch chuyển sang phải thành IS’, tạonên một điểm
cân bằng sản lượng mới J lớnhơn là Y*J. Chúng ta có được sự cân bằng bên trong và
bên ngoài khi có sự giao nhau của ba đường IS’, LM’ và BP’.
Dođó,dướichếđộtỷgiálinhhoạt,chínhsáchtiềntệtỏrakháhiệuquảđểgiatăngsản lượng.
Hình 1.4: Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ dưới chế độ tỷ giá linh
hoạt

Từnhững hàmýcủamôhình M undell-Fleming ởtrên tathấy rằng:hiệuquảcủachính
sách tiền tệ và chính sách tài khoá phụ thuộc vào cơ chế tỷ giá hối đoái và mức độ
kiểm soát vốn. Ví dụ, quốc gia nào có chuyển dịch dòng vốn tự do và tỷ giá cố định,
thì các nhà quản lý tiền tệ không thể theo đuổi một chính sách tiền tệ độc lập. Trong
một quốc gia có cơ chế tỷ giá cố định
thìkhôngcórủirotỷgiá,vàlãisuấttrongnướcbiếnđộngcùngvớilãisuấtnướcngoài.
Từ nhữngnhận định trên, các nhàkinh tế như Krugman (1979)và Frankel (1999)
r

Y
LM

IS


ba mục tiêu kể trên.Đây chính là lý thuyết Bộ ba bất khả thi cổ điển.
Trong lý thuyết này, ba mục tiêu không thể đồng thời đạt được bao gồm:
Độc lập tiền tệ giúp cho chính phủ chủ động sử dụng các công cụ chính sách tiền
tệ để thực hiện chính sách phản chu kì kinh tế. Ví dụ, nếu nền kinh tế có dấu hiệu phát
triển nóng, lạm phát tăng cao, chính phủ sẽ tăng lãi suất hoặc (và) thắt chặt cung tiền,
tương tự cho trường hợp ngược lại. Nhiều nhà kinh tế tin rằng sự độc lập tiền tệ sẽ
giúp nền kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững hơn. Tuy nhiên, vấn đề là trong một
thế giới mà giá cả và tiền lương tương đối cứng nhắc, độc lập tiền tệ quá mức có thể là
một cái cớ để chính phủ lạm dụng thực hiện các chiến lược tăng trưởng méo mó trong
ngắn hạn.Đó là chưa kể, độc lập tiền tệ quá mức có khả năng khiến cho chính phủ phát
hành tiền trang trải cho thâm hụt ngân sách.
Ổn định tỷ giá giúp tạo ra cái neo danh nghĩa để chính phủ tiến hành các biện
pháp ổn định giá cả. Cái neo này làm cho nhận thức của nhà đầu tư đối với rủi ro của
nền kinh tế giảm đi, làm tăng thêm niềm tin của công chúng vào đồng nội tệ, nhất là
đối với những quốc gia có đồng nội tệ yếu. Tất cả cũng đều vì mục tiêu làm cho môi
trường đầu tư tốt lên.Tuy nhiên, tỷ giá cố định quá mức cũng có mặt trái của nó.Tỷ giá
quá ổn định làm cho chính phủ mất đi một công cụ để hấp thụ các cú sốc bên trong và
Chương 1: Nghiên cứu lý thuyết tổng quan và các trường phái về bộ ba bất khả thi

Trang 13
bên ngoài truyền dẫn vào nền kinh tế.Ví dụ, lạm phát cao trong nước mà tỷ giá gần
như cố định dễ dẫn đến nguy cơ hàng hoá mất sức cạnh tranh trên thị trường thế giới,
hậu quả là xuất khẩu giảm và nhập khẩu tăng lên.Ngoài ra, tính quá cứng nhắc của tỷ
giá còn ngăn cản không cho những nhà làm chính sách sử dụng công cụ chính sách
phù hợp với thực tế diễn biến của nền kinh tế, nhất là khi đang có dấu hiệu của bong
bóng tài sản.
Hội nhập tài chính tất nhiên là xu thế khó có thể cưỡng lại được trong bối cảnh
toàn cầu hoá. Lợi ích của hội nhập tài chính đến từ hai mặt : hữu hình và vô hình. Về
mặt hữu hình, lợi ích của hội nhập tài chính giúp quốc gia tăng trưởng nhanh hơn và
phân bổ nguồn lực tốt hơn. Chúng cũng giúp nhà đầu tư đa dạng hoá đầu tư, nhờ vậy



giá th


n

i

Liên minh

tiền tệ
Hội nhập tài chính
Chương 1: Nghiên cứu lý thuyết tổng quan và các trường phái về bộ ba bất khả thi

Trang 14
 Ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế độ tỷ
giá cố định nhưng phải từ bỏ độc lập tiền tệ. Điều này có nghĩa chính phủ đã mất
đi một công cụ để điều chỉnh lãi suất trong nước độc lập với lãi suất nước ngoài.
 Độc lập tiền tệ và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế độ tỷ
giá thả nổi nhưng phải từ bỏ mục tiêu ổn định tỷ giá. Với lựa chọn này, Ngân
hàng trung ương được quyền tự do ấn định lãi suất nhưng đổi lại tỷ giá phải vận
hành theo những nguyên tắc thị trường.
 Ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ được kết hợp bằng cách lựa chọn thị trường vốn
đóng. Lựa chọn này có nghĩa chính phủ phải thiết lập kiểm soát vốn. Khi có kiểm
soát vốn, mối liên hệ giữa lãi suất và tỷ giá sẽ bị phá vỡ, và quốc gia có thể thực
hiện đồng thời hai mục tiêu này.
Kể từ khi vận hành theo chế độ bản vị vàng, nhiều kiểu hệ thống tài chính quốc
tế khác nhau đã được thiết kế để đạt hai trong số ba mục tiêu chính sách. Hệ thống
Bretton Woods được thiết lập để đạt được ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ trong khi hy


Ki

m soát v

n

Chính sách ti

n t


đ

c l

p và
ổn định tỷ giá
-

H


th

ng Bretton
Woods

- Trung Quốc trước khi cải
cách năm 2005

- Hồng Kông
Tỷ giá thả nổi Tự do hoá dòng vốn và chính
sách tiền tệ độc lập
- Mỹ, Nhật, Úc, …
Để có cách nhìn tổng quát và hoàn thiện về lý thuyết Bộ ba bất khả thi, các mô
hình nền tảng xây dựng nên lý thuyết này sẽ được lần lượt nghiên cứu trong phần tiếp
theo.
1.2 Sự phát triển của Lý thuyết Bộ ba bất khả thi hiện đại
1.2.1 Thuyết tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian
Yigang và Tangxian (2001) tiếp tục phát triển lý thuyết Bộ ba bất khả thi của
GS.M undell và đưa lên thành thuyết tam giác mở rộng.Nền tảng của thuyết này là
những quan niệm mới về sự độc lập của chính sách tiền tệ và ổn định tỷ giá.Theo đó,
tam giác bất khả thi của Mundell chỉ mới tập trung đến các cơ chế tỷ giá nằm ở các
đỉnh của tam giác mà chưa đề cập đến một cơ chế tỷ giá trung gian nằm đâu đó trong
vùng tam giác bất khả thi.Yigang và Tangxian đã mở rộng mô hình này và kết luận
rằng một quốc gia có thể có những phối hợp mục tiêu khác nhau và không phải chấp
nhận sự đánh đổi hoàn toàn như trong lý thuyết bộ ba bất khả thi cổ điển.
Chương 1: Nghiên cứu lý thuyết tổng quan và các trường phái về bộ ba bất khả thi

Trang 16
Hình 1.6: Lý thuyết bộ ba bất khả thi mở rộng

n đóng

Chính s ách
tiền tệ độc lập
Ổn định tỷ giá
Tỷ giá thả nổi Tỷ giá cố định
Hội nhập tài chính
O
Ev
K
c

Ms
A
B
C

D
Chương 1: Nghiên cứu lý thuyết tổng quan và các trường phái về bộ ba bất khả thi

Trang 17
M s + Kc + Ev = Mh. Để đơn giản, đặt chiều cao của tam giác đều M h = 1, thì ta có Ms
+ Kc + Ev = 1 (hằng số) và 0 <= Ms, Kc hoặc Ev <= 1.
Trong đó: (1) Khi Kc = 0, tức là dòng vốn lưu động hoàn toàn và Kc = 1 tức là
kiểm soát vốn hoàn toàn. (2) Ms = 0, nghĩa là chính sách tiền tệ hoàn toàn và Ms = 1,
nghĩa là mất độc lập về chính sách tiền tệ. (3) Ev = 0, tức là tỷ giá cố định và Ev = 1,
tức là tỷ giá thả nổi. Đây là những trường hợp đặc biệt đã được xét đến tại các điểm
A,B,C – đỉnh của tam giác bất khả thi.
1.2.2 Dự trữ ngoại hối và mối liên hệ với bộ ba bất khả thi : sự phát triển
của đồ thị kim cương

tuyệt đối lẫn tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên GDP từ khoảng 1% vào năm 1980 lên xấp xỉ
41% vào năm 2006 (và sau đó là gần 50% vào năm 2008).
Chương 1: Nghiên cứu lý thuyết tổng quan và các trường phái về bộ ba bất khả thi

Trang 19
Hình 1.8: Tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên GDP của các nước đang phát triển,

n

Châu Á (tr


TQ)

TQ

Chương 1: Nghiên cứu lý thuyết tổng quan và các trường phái về bộ ba bất khả thi

Trang 20
ngoại tệ thông qua các thị trường nợ, chính sách tỷ giá sẽ là những chỉ báo quan trọng
đối với dự trữ ngoại hối toàn cầu cũng như của một quốc gia.
Chính vì tầm quan trọng ngày càng tăng của hội nhập tài chính như là một nhân
tố quyết định đối với dự trữ ngoại hối như vậy nên các nhà kinh tế đã bắt đầu có những
nghiên cứu sâu hơn về mối liên kết giữa thay đổi trong cấu trúc của bộ ba bất khả thi
và mức độ dự trữ ngoại tệ.
Những thay đổi trong cấu trúc của bộ ba bất khả thi và mức độ dự trữ ngoại hối
có mối liên kết với nhau, vì vậy Aizenman, Chinn và Ito (2008) đã triển khai một dạng
đồ thị hình kim cương để đo lường xu hướng của những thay đổi này. Aizenman,
Chinn và Ito xây dựng cho mỗi quốc gia một vector bộ ba bất khả thi và những cấu
hình của dự trữ ngoại hối để đo lường độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá, dự trữ ngoại hối
và hội nhập tài chính của mỗi quốc gia. Những thước đo này dao động từ 0 đến 1. Cấu
hình của mỗi quốc gia được tổng hợp bằng đồ thị hình kim cương tổng quát với bốn
đỉnh đo lường độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá, chỉ số IR/GDP và hội nhập tài chính.
Hình 1.10 tổng hợp khuynh hướng đối với các quốc gia công nghiệp hóa và
những nền kinh tế mới nổi. Nhìn trên hình ta thấy các quốc gia công nghiệp ngày càng
tăng tốc tự do hóa tài chính nhiều hơn. Đi kèm với tự do hóa tài chính, các quốc gia
công nghiệp hóa cũng ngày càng hướng tới ổn định tỷ giá (chủ yếu ở các quốc gia sử

lập tiền tệ bằng cách xem phản ứng của tỷ giá đối với những thay đổi trong sản lượng,
lãi suất và cung tiền. Tuy nhiên đối với cung tiền, phương pháp này có nhược điểm là
khó thể nào phân biệt được trong thực tế đâu là một cú sốc cung và cú sốc cầu tiền tệ,
đó là chưa kể phải giả định tốc độ lưu thông tiền tệ là không đổi.
Khác với Rose, Obstfeld, Jay C. Shambaugh và Taylor (2005) đề xuất cách tiếp
cận khác để đo lường độc lập tiền tệ bằng cách không dựa trên số lượng mà dựa trên
lãi suất danh nghĩa ngắn hạn. Phương pháp này gây tranh cãi vì chỉ dựa chủ yếu vào
trực giác khi cho rằng điều hành chính sách tiền tệ chủ yếu dựa vào mức lãi suất mục
tiêu hơn là dựa trên số lượng tiền tệ.
Yếu tố khó đo lường nhất của bộ ba là hội nhập tài chính. Thường thì các nhà
kinh tế dựa vào phương thức kiểm soát vốn của mỗi quốc gia theo phân loại của IM F
để xem xét chỉ số độ mở của tài khoản vốn. Tuy nhiên, điều mà các nhà kinh tế thực sự
quan tâm là mức độ hội nhập tài chính trên thực tế.Có thể một quốc gia tuy tuyên bố
kiểm soát chặt các giao dịch vốn nhưng trên thực tế các chính sách lại khá thông
thoáng.
Do tính phổ biến và dễ ứng dụng, phần còn lại của quyển sách này chủ yếu đề
cập đến cách thức đo lường những đánh đổi chính sách trong bộ ba bất khả thi của
Chinn và Ito (2008). Chinn và Ito đã phát triển 3 thước đo để đánh giá mức độ độc lập
tiền tệ (MI), ổn định tỷ giá (ERS) và hội nhập tài chính (KAOPEN).
Độc lập tiền tệ (MI). Mức độ độc lập tiền tệ được đo lường bằng hàm đảo
nghịch của mức tương quan hằng năm của lãi suất hàng tháng giữa quốc gia sở tại và
quốc gia cơ sở. Chỉ số mức độ độc lập tiền tệ được xác định bằng:
 = 1 −

,


()
()


vốn bằng những biện pháp hành chính của các cơ quan chức năng. Chinn và Ito
(2006,2008) đưa ra đề xuất sử dụng độ mở tài khoản vốn KAOPEN để đo lường mức
độ hội nhập tài chính.
KAOPEN dựa trên thông tin trong báo cáo hàng năm về cơ chế tỷ giá và những
hạn chế ngoại hối do IMF phát hành. Nhìn vào KAOPEN ta sẽ thấy một quốc gia trên
thực tế có tiến hành chính sách đa tỷ giá hay không. Đây là dạng cơ chế mà một loại tỷ
giá áp dụng cho giao dịch trên tài khoản vãng lai và một loại tỷ giá áp dụng cho tài
khoản vốn.Cơ chế đa tỷ giá chính là một dấu hiệu nhận biết một quốc gia tiến hành
kiểm soát vốn. Vào thời điểm tình trạng lạm phát tăng tốc ở Việt Nam năm 2008, đã có
đề xuất từ một số nhà làm chính sách cho rằng nên áp dụng cơ chế đa tỷ giá, trong đó
tỷ giá áp dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu phải khác với các doanh nghiệp nhập
khẩu (chính phủ Việt Nam đã không đồng ý với biện pháp này). KAOPEN vì vậy cho
thấy những hạn chế trong các giao dịch trên tài khoản vãng lai, tài khoản vốn và kết
nối ngoại tệ.
M ặc dù vậy KAOPEN có nhược điểm là không phản ánh đúng mức những gì
diễn ra trên thực tế, nhất là việc khu vực tư nhân tìm mọi cách tránh né các biện pháp
kiểm soát vốn của chính phủ. Ví dụ chúng ta thấy ở Việt Nam chẳng hạn, các sai số
Chương 1: Nghiên cứu lý thuyết tổng quan và các trường phái về bộ ba bất khả thi

Trang 24
thống kê hàng năm trong cán cân thanh toán quốc tế nhiều khi lên đến hàng tỷ USD.
Các sai số này được quy cho khu vực doanh nghiệp tìm cách chuyển tiền xuyên biên
giới vì nhiều mục đích khác nhau. Tuy có một số nhược điểm nhưng chỉ số KAOPEN
được nhiều nhà kinh tế đánh giá đã phản ánh được các mục tiêu chính sách quan trọng
mà một quốc gia theo đuổi trong tiến trình hội nhập tài chính.
Chỉ số Chinn-Ito (KAOPEN) biến thiên giữa 0 và 1.Giá trị càng cao của chỉ số
này cho thấy quốc gia mở cửa hơn với những giao dịch vốn xuyên quốc gia.
Lưu ý là chỉ số KAOPEN chỉ cho ta thấy độ mở tài khoản vốn theo pháp lý dựa
trên các báo cáo của chính phủ cho IM F, WB các chỉ số kinh tế vĩ mô liên quan đến
kiểm soát vốn và ngoại hối.

quản lý các dòng ngoại tệ trong nước, Bộ quản lý Ngoại hối (SAFE) đã đưa ra một
chính sách mới, theo đó các ngân hàng buộc phải giữ nhiều ngoại tệ bằng bút tệ hơn.
Tháng 11 năm 2010, SAFE đã đưa ra mức sàn ngoại hối mà các ngân hàng phải giữ
qua đêm, việc này giữ chân dòng vốn khá hiệu quả trước khi NHTW trực tiếp can
thiệp. Các nhà làm luật cũng xây dựng các chính sách thông thoáng hơn và tạo điều
kiện đối với những khoản thu được ngoài nước định danh bằng đồng ngoại tệ. Thêm
vào đó, bắt đầu tháng 01/2011, các điều khoản hạn chế về dòng FDI ra bên ngoài cũng
sẽ không còn gay gắt như trước.Tuy nhiên, sự chênh lệch lãi suất và kì vọng của các
doanh nghiệp nội địa về việc giảm tỷ giá đồng nội tệ đã khuyến khích các doanh
nghiệp ngoài chính sách di chuyển vốn ra ngoài Trung Quốc, ít nhất là trong ngắn hạn.
M ặc cho các nỗ lực trên, các dòng tiền “nóng” vẫn tiếp tục tăng lên đến gần 30
tỷ đôla mỗi tháng trong quý 3 năm 2010.Dòng vốn vào vẫn còn giữ ở mức trung bình
này vào quý 4 năm 2010.Trước tình hình này, NHTW sẽ phải bỏ ra gần 1 tỷ đô la mỗi
ngày để ngăn chặn sự mở rộng cung tiền.
Nếu các dòng vốn vẫn tiếp tục chảy vào Trung Quốc một cách mạnh mẽ trong
năm 2011, thì các nhà làm chính sách sẽ phải sử dụng các công cụ khác để ngăn chặn
tác động xấu của dòng chảy này đến nền kinh tế thực. Các công cụ vĩ mô đã nêu trên,


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status