Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nên có một nguồn nguyên liệu
ẩm thực vô cùng phong phú. Từ Bắc đến Nam, nguồn nguyên liệu này đã làm
giàu cho ẩm thực Việt, tạo ra nét độc đáo riêng cho mỗi món ăn và đồ uống,
quyết định đến hương vị của ẩm thực quốc gia. Nhờ nguồn nguyên liệu tươi
sống, phong phú nhiều chủng loại, ẩm thực Việt đang dần khẳng định vị thế
của mình trong lòng du khách và bạn bè quốc tế. Món ăn cũng như đồ uống
của người Việt không cầu kì trang trọng như món ăn của các nước phương
tây, mà lại rất dễ thưởng thức, các món ăn gắn với đời sống của chính cư dân
nông nghiệp. Sau khi nghiên cứu về 3 vùng nguyên liệu ở Việt Nam, hi vọng
mọi người có thể phần nào hiểu thêm về hương vị của món ăn đất Việt:
A. VÙNG NGUYÊN LIỆU ẨM THỰC MIỀN BẤC
I.Các vùng chè ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng gió mùa Đông nam á, cái nôi của cây chè.
Việt Nam nằm trong vùng gió mùa Đông nam á, cái nôi của cây chè.
- Khí hậu đất đai rất thích hợp với sinh trưởng cây chè. Lượng nước mưa dồi dào
1700-2000 mm/năm. nhiệt độ 21-22,6 0C, ẩm độ không khí 80-85 %. Đất đai trồng
chè gồm 2 loại phiến thạch sét và bazan màu mỡ.
- Chè trồng ở vĩ tuyến B 11.5-22.5 0;, chia thành 3 vùng: vùng thấp dưới 300 m,
vùng giữa 300-600 m, vùng cao 600-trên 1000 m, nên chất lượng chè rất tốt.
- Giống chè bản địa gồm 2 giống Trung Du và Shan, làm được chè xanh và chè
đen; đặc biệt giống chè Shan miền núi có búp nhiều lông tuyết trắng, được thị
trường quốc tế rất ưa chuộng. Ngoài ra còn những giống chè tốt làm chè đen, chè
xanh, chè ô long, nhập nội của Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, ấn Độ và
Srilanka, Inđônêxia.
(Trích từ "Cây chè Việt Nam" của tác giả Đỗ Ngọc Quỹ & Nguyễn Kim Phong)
1.Chè Shan vùng cao phía Bắc
Người dân vùng cao ví cây chè tuyết Shan là "Cây vàng trên núi". Từ bao đời nay
cây chè Shan đã mang lại nguồn thu rất lớn cho người trồng chè. Ai cũng hiểu
trồng chè Shan hiệu quả. Thế nhưng để phát triển thành vùng chè hàng hoá và có
chất lượng cao còn nhiều câu hỏi để ngỏ.
Cây chè Shan có nguồn gốc ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, những vùng chè cổ thụ
cho LT Văn Chấn vận động người dân trồng chè, Viện Khoa học kỹ thuật nông
lâm nghiệp miền núi phía Bắc tuyển chọn những cây chè Shan đầu dòng từ rừng
chè cổ thụ Suối Giàng để chuyển giao kỹ thuật trồng và giâm cành cho cán bộ LT
và bà con nông dân. Tuy nhiên mô hình này sẽ không thành công nếu không có sự
tham gia của Dự án phát triển chè & cây ăn quả của Bộ NN-PTNT đã vay vốn của
Ngân hàng châu Á thông qua Ngân hàng để cho người dân vay vốn trồng chè. Ông
Phạm Mạnh Đoài-GĐ LT Văn Chấn cho biết: Từ năm 2002 đến nay LT đã vận
động bà con trồng được 243,9 ha chè Shan, nhiều diện tích có năng suất đạt 5-6
tấn/ha, không ít diện tích đạt 10 tấn/ha. Chị Lò Thị Nguyên, dân tộc Thái thôn
Nậm Cưởm cho hay: Gia đình tôi vay vốn ngân hàng 17 triệu để trồng chè với diện
tích 8.500m2, đây là nương lúa cũ, mỗi năm thu khoảng 3 tạ thóc, năm 2002 LT
vận động trồng chè, vợ chồng tôi mới đầu cũng lo lắm, không biết trồng chè rồi
bán cho ai, LT cam kết sẽ thu mua hết sản phẩm nên mới yên tâm trồng chè. Năm
2006 gia đình tôi hái được 10 tấn chè tươi, với giá 2.800đ/kg, trừ chi phí khoảng
12 triệu còn được lãi 16 triệu, năm 2007 với giá chè từ 8.000- 12.000đ/kg thì dự
kiến thu gần 100 triệu. Ngoài gia đình chị Lò Thị Nguyên còn một số hộ như: Lò
Văn Lót, Nguyễn Đức Toàn, Nguyễn Năng Tiến… dự kiến thu không dưới 100
triệu từ việc bán chè. Đó là một số tiền khá lớn chỉ có cây chè Shan mới mang lại
cho họ nguồn thu như vậy.
Mới đây tại huyện Văn Chấn, Cục trồng trọt, Vụ Khoa học công nghệ, Viện KHKT
nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc và Sở NN-PTNT Yên Bái đồng tổ chức "Hội
thảo phát triển chè Shan vùng núi cao", với sự tham gia của một số tỉnh miền núi
phía Bắc, một số DN kinh doanh chế biến chè và nhiều nhà khoa học đầu ngành.
Tại hội thảo, rất nhiều vấn đề đã được đặt ra như vấn đề cho phép trồng cây chè
Shan làm rừng phòng hộ; vấn đề hỗ trợ cho người dân trồng chè; đầu ra tiêu thụ
sản phẩm Một số địa phương cho rằng, Bộ NN cần giao cho Viện nào đó hay
Hiệp hội chè nghiên cứu một cách đồng bộ: Trồng - chế biến chỉ dẫn thị trường
tiêu thụ, như vậy mới giúp cho người trồng chè chủ động đầu tư phát triển vùng
chè Shan. Còn nếu phát triển theo kiểu mò mẫm như hiện nay thì rủi ro khó tránh
khỏi.
biệt, khi ra về mỗi du khách sẽ lựa chọn được cho mình những sản phẩm chè hảo
hạng nhất, thu hái từ những nương chè hữu cơ có tới cả trăm tuổi để làm quà cho
người thân, bè bạn
II.Rau gia vị
Trong ẩm thực, rau thơm hay rau gia vị là khái niệm khái quát dùng để chỉ các loại
rau ăn được (có thể là rau, củ, quả thơm), được trồng hoặc hái từ tự nhiên, có mùi
thơm đặc biệt tùy theo loại do các tinh dầu trong rau bay hơi tạo thành.
Khi nói đến món ăn Việt, đặc biệt là món ăn miền Bắc, ngoài bát nước mắm chấm,
thì không thể không nhắc đến rau thơm. Có thể nói Miền Bắc là vùng đất với
nguồn nguyên liệu rau gia vị trong cả nước. Một số loại rau mà ta có thể dễ dàng
tìm thấy ở bất kể vùng quê nào trên đất Bắc như: rau mùi, mùi tàu, hành hoa, lá sả,
tía tô, thìa là, kinh giới, rau ngổ…
Người Tây phương thường chủ yếu ăn rau dưới dạng salad, với những súp lơ, cà
rốt, hoa quả, và trộn với sốt salad (dressing). Người Trung Hoa rất hay cho các vị
thuốc (bắc), cả hương liệu thảo mộc nhưng dưới dạng khô vào trong món ăn, thì
người Việt lại dùng rau thơm.
Rau thơm trong món ăn Việt, là khái niệm chung để chỉ đến vài chục loại rau gia vị
tươi (fresh herbs) được dùng ăn sống (raw). Rau mùi, rau húng, kinh giới, ngổ
đồng, mùi tàu những loại rau rất dân đã được phối hợp thật tài tình để làm gia vị
cho các món ăn. Và nước mắm chấm, chính là nước sốt cho rau thơm Việt. Không
biết vô tình hay có chủ ý, những rau thơm bổ sung trong bữa ăn của người Viêt,
không chỉ đơn thuần là gia vị làm tăng sức hấp dẫn cho món ăn, mà còn có ý nghĩa
phát huy những đặc tính có lợi và giảm tác hại của thực phẩm một cách hết sức có
cơ sở khoa học.
Những thực phẩm có tính nhiệt thì chắc chắn phải đi với những rau thơm có tính
hàn, để trung hòa, để cân bằng “âm dương” theo đúng triết lý của người Á Đông.
Thịt chó quá nhiều đạm, dứt khoát phải đi kèm với lá mơ, để tránh bị đi ngoài,
trứng vịt lộn với gừng thái chỉ có tính dương thì sẽ đi với rau răm bổ âm, để không
quá nóng, đậu phụ rán luôn ăn kém kinh giới, món lòng dồi khó tiêu dứt khoát phải
có rau húng. Hay món bún chả, luôn có bổ sung các loại rau mùi, húng, xà lách,
Hồng, sông Đà, sông Thái Bình, Thác Bà Miền Bắc có lượng thủy sản rất lớn, có
rất nhiều loài tôm cá nước ngọt, nước lợ cùng với các loài tôm cá ước mặn được
đánh bắt ở các vùng ven biển.
1.Thuỷ hải sản - thế mạnh trong phát triển nông nghiệp Thái Bình.
Với bờ biển dài trên 53km, có 5 cửa sông lớn và hệ thống sông ngòi với mật độ
dày (khoảng trên 700km), nhiều vùng đầm, bãi lớn bao gồm cả nước ngọt và nước
lợ, Thái Bình là tỉnh có sản lượng thuỷ hải sản nước mặn, nước lợ và nước ngọt
tương đối lớn. Các sản phẩm thuỷ hải sản chủ yếu của Thái Bình là cá nước ngọt,
cá nước mặn, tôm nuôi trồng, tôm khai thác ngoài biển, moi, cá mực, cua, ghẹ,
ngao. Trong đó, sản phẩm có giá trị với sản lượng lớn và có nhu cầu cao cho tiêu
dùng nội địa và xuất khẩu là tôm, cua, cá và ngao. Riêng sản lượng ngao trong
những năm gần đây có sản lượng rất lớn, nhưng do nhân dân nuôi trồng, khai thác
và bán trực tiếp cho Trung Quốc nên việc ước tính chính xác sản lượng gặp phải
nhiều khó khăn. Hàng năm sản lượng thuỷ hải sản nuôi trồng và đánh bắt trên địa
bàn tỉnh đạt khoảng trên 65.000 tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng chiếm khoảng
37.000 tấn còn lại khoảng 28.000 tấn là sản lượng đánh bắt.
Trong các loại thuỷ hải sản chủ yếu của Thái Bình thì tôm và cá là hai loại thuỷ hải
sản có sản lượng lớn và tương đối đều qua các năm. Trong một vài năm gần đây,
sản lượng tôm đạt trên 3.500 tấn, trong đó có khoảng 2.400 tấn là tôm nuôi, tập
trung ở hai huyện ven biển là Tiền Hải và Thái Thuỵ, còn lại trên 1.000 tấn là tôm
đánh bắt ngoài khơi. Sản lượng cá đánh bắt và nuôi trồng hàng năm cũng tương đối
lớn, đạt gần 50.000 tấn, bao gồm cả cá nước ngọt, cá nước mặn, cá đánh bắt ngoài
khơi và cá nuôi. Ngoài hai loại thuỷ hải sản trên, các loại thuỷ hải sản khác như
cua nước mặn cũng có sản lượng tương đối lớn nhưng không đều qua các năm.
Cùng với các sản phẩm thuỷ hải sản tươi sống, các loại sản phẩm chế biến từ
nguồn thuỷ hải sản do các đơn vị sản xuất trong tỉnh chế biến cũng có mức sản
lượng cao, đảm abỏ chất lượng và được người tiêu dùng ưa chuộng như sản phẩm
nước mắm (nước mắm Diêm Điền, nước mắm Thái Bình) hàng năm đạt trên 5 triệu
lít, các sản phẩm tôm đông lạnh, cá mai chế biến, cá mực chế biến đều đạt mức
sản lượng lớn và đủ tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm cho tiêu dùng nội địa và
của việc khai thác bừa bãi đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động nuôi trồng, khai
thác và chế biến thuỷ - hải sản. Thị trường Nhật Bản - thị trường nhập khẩu thuỷ
sản lớn nhất hiện đang áp dụng chế độ kiểm tra dư lượng hoá chất và kháng sinh
với các sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu của VN cũng gây ảnh hưởng lớn đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nuôi trồng và chế biến thuỷ sản ở
HP. Thêm nữa, vốn cho xây dựng các công trình trọng điểm còn hạn chế; chủ
trương sáp nhập ngành thuỷ sản với ngành NN&PTNT trong năm 2007 cũng tác
động mạnh đến tâm lý của các tổ chức, cá nhân có kế hoạch đầu tư phát triển kinh
tế thuỷ sản. Mặc dù vậy, với định hướng đúng đắn và sự chỉ đạo, hỗ trợ kịp thời
của TP và Ngành thuỷ sản, các lĩnh vực sản xuất chính là nuôi trồng, khai thác, chế
biến thuỷ sản vẫn đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch ngành đề ra. Sản lượng nuôi trồng
đạt trên 44.250 tấn, tăng gần 15% so với năm 2006; khai thác đạt 35.450 tấn, tăng
trên 16% so với năm 2006; kim ngạch xuất khẩu toàn ngành được duy trì ổn định ở
mức 70 triệu USD, đó là sự nỗ lực đáng khích lệ đối với Ngành thủy sản HP trong
năm qua.
Để nghề nuôi được phát triển đều ở cả 3 vùng nước là: Nước mặn, nước lợ
và nước ngọt, công tác sản xuất giống được quan tâm. Hiện toàn thành phố 23 trại
sản xuất giống thuỷ sản, trong đó có 11 trại giống nước mặn, lợ và 12 trại sản xuất
giống nước ngọt. Năm qua, các đơn vị SX giống đã cung ứng cho hộ nuôi trong và
ngoài thành phố trên 1 tỷ con giống các loại. Điều đáng nói là cùng với các sản
phẩm nuôi truyền thống thì con giống thuỷ sản được sản xuất và cung cấp cho hộ
nuôi trong năm qua đã từng bước đáp ứng yêu cầu đa dạng hoá sản phẩm phục vụ
nghề nuôi phát triển.
Cùng với việc nâng cao chất lượng và đa dạng hoá nguồn con giống đáp ứng
yêu cầu của các vùng nuôi, hoạt động tiếp thu và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ
thuật đến hộ sản xuất cũng được Ngành thuỷ sản quan tâm triển khai thực hiện tốt.
Năm qua, Ngành thuỷ sản HP đã triển khai 6 đề tài nghiên cứu khoa học trên các
lĩnh vực nuôi trồng, khai thác và chế biến thuỷ sản, cho thấy mang lại hiệu quả
kinh tế cao cho người lao động và tác động tích cực đến kinh tế - xã hội ở địa
phương. Để giúp nông - ngư dân nâng cao hiệu quả sản xuất, năm 2007, Trung tâm
phân định Vịnh Bắc Bộ và Luật thuỷ sản cho ngư dân, ngành thuỷ sản HP còn tập
trung rà soát công tác đăng ký, đăng kiểm; cấp và chuyển đổi giấy phép cho 46
phương tiện tham gia vùng nước hiệp định; đồng thời trang bị hệ thống thông tin
liên lạc vô tuyến điện sóng ngắn cho các đội tàu để vừa trao đổi thông tin ngư
trường, vừa triển khai tốt các phương án PCLB-TKCN trên biển. Với sự hỗ trợ đắc
lực của thành phố, ngành thuỷ sản và sự nhạy bén, đổi mới phương thức quản lý
của các địa phương mà phong trào khai thác thuỷ sản xa bờ ở HP được triển khai
khá hiệu quả. Điểm sáng về khai thác thuỷ sản ở Lập Lễ, huyện Thuỷ Nguyên đang
được nhân rộng ở các địa phương ven biển.
Đối với lĩnh vực chế biến thuỷ sản, năm qua quả là 1 năm đầy cam go và thử
thách. Tuy sản lượng khai thác không giảm, nhưng do nhiều doanh nghiệp chế biến
không đủ mạnh để cạnh tranh về giá thu mua sản phẩm với thị trường Trung Quốc,
vì vậy nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu giảm đáng kể. Để đảm bảo
hiệu quả SXKD, các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản lớn ở HP phải tăng cường đầu
tư phương tiện, thiết bị tổ chức thu mua nguyên liệu tại ngư trường; đồng thời tập
trung chuyển hướng sản xuất sang các mặt hàng nội địa.
4.Thủy sản Quảng Ninh
Quảng Ninh là một trong những địa phương được thiên nhiên ưu đãi về tiềm năng,
diện tích nuôi trồng thủy hải sản. Với trên 250 km bờ biển, diện tích vùng nội thủy
rộng trên 6.000 km2, có nhiều đảo lớn nhỏ.
Nguồn lợi thủy sản biển Quảng Ninh rất đa dạng và phong phú, nhiều loài hải sản
quí hiếm có giá trị kinh tế cao như cá song, cá hồng, cá giò, cá tráp Quảng Ninh
có cửa khẩu quốc tế và quốc gia, có cảng biển và có nhiều đầu mối giao thông thủy
bộ, nằm cạnh thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất là Trung Quốc và Hồng Kông,
ngư dân bước đầu đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm nuôi trồng thủy sản Đây
là những thế mạnh tạo tiền đề rất lớn để phát triển nuôi trồng các loại thủy, đặc sản
trên biển.
Nuôi trồng thủy sản biển đã trở thành nghề truyền thống của nhiều nước trên thế
giới, song Việt Nam nói chung và ở Quảng Ninh nói riêng, nghề nuôi biển mới
phát triển trong những năm gần đây. Đầu năm 1996, nghề nuôi cá lồng bè ở vịnh
dịch bệnh chưa chặt chẽ, công nghệ nuôi còn hạn chế. Các chính sách về nuôi
trồng thủy sản chưa được cụ thể hóa Mặt khác, cơ chế đầu tư và một số chính
sách hỗ trợ khác cho nuôi biển chưa được hoàn thiện, việc vay vốn tín dụng có
nhiều vướng mắc cần được tháo gỡ.
Để nghề nuôi cá lồng bè trên biển Quảng Ninh phát triển mạnh, tương xứng với
tiềm năng hiện có, trong năm 2004 và các năm tới, ngành thủy sản Quảng Ninh sẽ
phát huy lợi thế, tiềm năng thiên nhiên ưu đãi để đẩy mạnh nghề nuôi biển, nuôi
vùng triều. Đa dạng hóa đối tượng nuôi và loại hình nuôi theo hướng khai thác sử
dụng hợp lý tài nguyên mặt nước, đảm bảo hiệu quả kinh tế, bảo vệ nguồn lợi thủy
sản và bảo vệ môi trường sinh thái. Từng bước tạo thành vùng nuôi tập trung và
được chuyên môn hóa, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao cho chế biến xuất khẩu.
Ngoài việc bảo vệ và khai thác nguồn giống tự nhiên, phải có các giải pháp cung
ứng nguồn giống nhân tạo để nâng cao năng suất, sản lượng và đặc biệt quan tâm
đến chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Chú trọng các giải pháp đồng bộ, ưu
tiên công tác quy hoạch vùng nuôi, xác định đối tượng nuôi cho từng vùng, tập
trung nuôi những đối tượng có giá trị kinh tế cao và có thị trường tiêu thụ. Việc
đầu tư phải phù hợp theo từng giai đoạn phát triển, tùy thuộc vào trình độ công
nghệ, khả năng đầu tư và thị trường tiêu thụ. Xác định các đối tượng nuôi chính,
nuôi phụ và chủ động sản xuất giống một số loài như cá song, cá giò đồng thời
sản xuất thức ăn và các chế phẩm sinh học phục vụ nuôi biển. Có cơ chế khuyến
khích các nhà đầu tư, các doanh nghiệp đầu tư phát triển nuôi cá biển, nhằm thu
hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, huy động nguồn vốn trong cộng đồng dân cư
và các doanh nghiệp. Mục tiêu đến năm 2010 Quảng Ninh sẽ có 10.000 ô lồng
nuôi thủy sản biển và 500 ha đầm, vịnh nuôi cá biển bằng rào chắn, sản lượng đạt
3.000 tấn cá phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.
Nguồn lợi thủy sản không phải là vô tận, trong điều kiện nguồn nguyên liệu thủy
sản tự nhiên bị khai thác ngày một cạn kiện thì việc phát triển nuôi trồng thủy sản
ở Quảng Ninh đang trở thành ngành sản xuất hàng hóa lớn có hướng lâu dài về
chiến lược giúp ngành thủy sản Quảng Ninh phát triển ổn định và bền vững. Với
những chính sách hợp lý, khuyến khích các nhà đầu tư nuôi trồng thủy hải sản,
ruột. Cô gái trẻ xới cho khách bát cơm đầy, khói thơm bay sực nức, dẻo quyện lấy
cây đũa tre. Hạt cơm trắng vị đậm ngọt dài xuống họng.
Thiếu nữ Thái kể rằng gạo này có thể nấu cơm lam, làm khẩu cắm (đồ như xôi với
lá cẩm - một loài cây thơm, sẽ cho vị xôi ngậy, thơm, dẻo rất thú vị), khẩu háng
(đồ thóc lên đem phơi khô, khi nào muốn ăn, xát vỏ đồ chín một lần nữa) rồi khẩu
papa (giống như làm bánh nếp dưới xuôi) dùng làm lễ vật đình đám, cưới hỏi.
Lúa Điện Biên được khu biệt với lúa khác là địa điểm trồng. Đó là lòng chảo
5.000ha thuộc các xã: Thanh Hưng, Thanh Xương, Thanh Nưa, Thanh Luông, Sam
Mứn, Pa Thơm, thị trấn Mường Thanh, xã Noong Bua, Thanh Minh của huyện
Điện Biên và thành phố Điện Biên Phủ được bao bọc bởi những dãy núi: Pú Huất,
Pú Tó Cọ, Huổi Vẻ và Pú Khau Lạnh cao chạm đỉnh trời.
Chưa có nghiên cứu khoa học nào về hạt gạo gieo trồng từ đây nhưng thật kỳ lạ là
bất cứ giống lúa nào gieo ở thung lũng này cũng cho hạt gạo dẻo, thơm, trắng bóng
đậm đà như vậy. Xét về kinh tế thì rất nhiều ưu việt: tỉ lệ gạo cho rất cao (70%),
năng suất hơn nơi khác 70- 150% và tiết kiệm được rất nhiều chi phí gieo trồng.
Đến nay trong đời sống, gạo Điện Biên đã có thương hiệu riêng mình bay đi cả
nước.
Gạo tám Điện Biên một đặc sản của vùng núi Tây Bắc. Gạo được trồng tại vùng
đất nổi tiếng cách đồng Mường Thanh. Ở đây khí hậu thổ nhưỡng rất thích hợp nên
gạo đặc biệt thơm ngon, dẻo ngọt (cơm vẫn mền dẻo sau 24 giờ)
Gạo nếp nương Điện Biên đây cũng là loại gạo đặc sản của Điện Biên rất dẻo và
thơm ngon, gạo được trồng theo lối canh tác truyền thống từ xưa không sử dụng
thuốc bảo về thực vật và phân bón hoá học trồng sau một năm mới được thu hoạch.
V.Rau củ quả
VN hiện có đến trên 1,4 triệu hécta rau quả và mỗi năm cho thu hoạch 6,5 triệu tấn
trái cây, 9,6 triệu tấn rau với tiềm năng rất lớn về xuất khẩu. Dù có hẳn một
chương trình phát triển rau quả, hoa cây cảnh giai đoạn 1999-2010, với mục tiêu
xuất khẩu 1 tỉ USD rau quả vào năm 2010, song do thực trạng sản xuất và tiêu thụ
rau quả quy mô nhỏ lẻ, thủ công trong cả thu hoạch, chế biến và tiêu thụ, kim
ngạch xuất khẩu năm 2006 mới đạt 260 triệu USD. Theo chỉ đạo của Bộ nông
Rau là một món ăn được ưa chuộng và có một vị trí trang trọng trong thực đơn của
các nhà hàng từ bình dân đến cao cấp.