NCKHSPUD: rèn kỹ năng đọc – hiểu cải tiến phương pháp dạy để nâng cao chất lượng cho học sinh ở trường tiểu học Thị Trấn B - Pdf 14


A- PHẦN MỞ ĐẦU
I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1.1/ Tầm quan trọng trong phân môn tập đọc:
Bậc tiểu học là bặc học nền tảng có ý nghóa vô cùng quan trọng, nó cũng là nấc
thang đầu tiên khi bước vào đời, tạo những cơ sở ban đầu rất cơ bản bền vững về tri
thức, hình thành những đường nét và phát triển nhân cách giúp trẻ có thể tiếp tục
học lên trên hoặc có thể đi học nghề…
Để đạt được mục tiêu nhà trường tiểu học đã duy trì dạy đủ 9 môn. Môn tiếng
Việt là 1 trong chín môn đó, một trong những phân môn có vò trí hàng đầu trong
chương trình tiếng Việt quan trọng nhất là môn Tập Đọc. Khi trẻ đến trường công
việc đầu tiên là các em phải học đọc và phải đọc để hiểu.
Mục đích của dạy môn Tập Đọc, đọc không đơn thuần mà phải đảm bảo đúng
4 kỹ năng: Đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu, đọc diễn cảm. Như vậy làm thế nào để
giúp các em đọc tốt ? Điều đó phụ thuộc vào giáo viên, người hưỡng dẫn các em
tiếp xúc với văn bản đọc, để giúp các em tốt phải có đònh hướng rõ ràng một phương
pháp trong dạy học.
Phân môn Tập Đọc cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thiên nhiên, xã
hội con người, cung cấp vốn từ tăng cường khả năng diễn đạt, trang bò một số hiểu
biết ban đầu về tác phẩm văn học và góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh.
Tuy nhiên các bài tập đọc ở lớp 4 có số lượng từ nhiều hơn việc luyện đọc bắt đầu
chú ý đến yêu cầu biểu cảm, câu hỏi tìm hiểu bài chú trọng khai thác hàm ý và
nghệ thuật biểu hiện cũng nhiều hơn.
ĐỀ TÀI TIẾNG VIỆT
1
- Phân môn Tập Đọc còn giúp học sinh: củng cố, phát triển kỹ năng đọc trơn,
đọc thầm đã được hình thành ở các lớp 1, 2, 3, tăng cường tốc độ đọc, biết đọc lướt
để chọn thông tin nhanh, bước đầu biết đọc diễn cảm, phát triển kỹ năng đọc- hiểu
lên bước cao hơn, nắm và vận dụng đượcmột số khái niệm như:đề tài, cốt truyện,
nhân vật, tính cách,……để hiểu ý nghóa của bài và phát hiện một vài giá trò nghệ
thuật trong bài văn thơ. Mở rộng vốn hiểu biết tự nhiên, xã hội và con ngừoi đẻ góp

thành các bướcluyên đọc trơn, khi tìm hiểu bài và chuyển sang bước luyện đọc
diễn cảm các hình thức đọc bao gồm:
• Đọc từ cụm từ nhằm hưỡng dẫn cách phát âm đúng, sửa cách phát âm sai.
• Đọc câu, đoạn, bài nhằm hưỡng dẫn cách đọc diễn cảm.
- Dùng lời nói kết hợp với chữ viết, kí hiệu và đồ dùng dạy học, hưỡng dẫn học
sinh cách nghỉ ngơi, tốc độ đọc, giọng đọc thích hợp.
- Tổ chức cho học sinh đọc cá nhân ( đọc trong nhóm, đọc trước lớp), đọc đồng
thanh ( cả nhóm, cả tổ, cả lớp), Nhận xét cách đọc của học sinh, sửa lỗi phát âm
hoặc lỗi thể hiện nội dung qua giọng đọc cho học sinh ở lớp 4, nên hạn chế dần
ssó lần đọc đồng thanh và tăng cường hình thức đọc cá nhân.
ĐỀ TÀI TIẾNG VIỆT
3
- Giới hạn thời gianđể tăng dần tốc độ đọc thầm cho hs. Cách thực hiện biện
pháp này là từng bước rút ngắn thời gian đọc của học sinh và tăng dần đọ khó
của nhiệm vụ( Đọc lướt để tim từ ngữ hay chi tiết, hình ảnh nhất đònh trong 2
phút, 1 phút. . . ).
* Hưỡng dẫn tìm hiểu bài:
• Giúp học sinh hiểu nghóa của từ ngữ mới:
-Đối với những từ ngữ đã được chú thích trong SGK: GV không nhất thiết phải yêu
cầu hs trình bày tất cả những từ ngữ này mà có thể chọn một số từ ngữ khó để giải
thích cho rõ. Biện pháp thực hiện là tổ chức cho hs đọc thầm nội dung chú thích
trong sách giáo khoa rồi trình bày lại.
- Đối với những từ ngữ đã được chú thích trong SGK mà học sinh vẫn chưa nắm
chắc nghóa hoặc những từ ngữ khác trong bài còn khó hiểu, GV có thể hưỡng
dẫn hs giải thích bằng các biện pháp như sau:
+ dùng các từ ngữ cùng nghóa, trái nghóa hoặc từ ngữ thông dụng ở đòa phương
đẻ giải thích từ ngữ đó.
+ Đặt câu từ ngữ đó:
+ Miêu tả sự vật, hoạt động, trạng thái, đặc điểm hoặc tính chất được gọi tên
bằng từ ngữ đó.

đoạn văn ngắn Ngắn
hoặc khổ thơ, cần luyện
đọc,
những lưu ý về cách đọc diễn cảm
Ghi từ ngữ, hình ảnh, chi tiết nổi bật, ý chính của đoạn
văn, khổ thơ hay của cả bài, có thể cho học sinh ghi vở1.2 - yêu cầu : phân môn tập đọc giúp học sinh củng cố, phát triển kó năng đọc trơn,
đọc thầm đã dược hình thành từ các lớp 1,2,3; tăng cường tốc độ đọc,biết đọc lứơt đểû
chọn thông tin nhanh ;bước đầu biết đọc diễn cảm. Phát triểnkó năng đọc –hiểu lên
mức cao hơn :nắm và vận dụng được một số khái niệm như đề tài ,cốt truyện ,nhân
vật ,tính cách ,….đẻ hiểu ý nghóa của đề bài và phát hiện mợt vài giá trò nghệ thuật
trong các bài văn ,thơ (yêu cầu trọng tâm ).Mở rộng vốn hiểu biết về tự nhiên ,xã
hội và con người để góp phần hình thành nhân cách của con người mới.
1.3 / Những khó khăn của giáo viên và học sinh
Hiệân nay nhà trường đang đôûi mới phương pháp dạy kỹ năng đọc - hiểu qua
phân môn tập đọc cho học sinh lớp 4. qua phân môn tập đọc phải đọc tác phẩm thì
mới hiểu, phải hiểu tác phẩm thì mới đọc đúng đọc hay. Khi đọc đúng, đọc diễn
cảm hay thì nâng hiểu biết lên một mức cao hơn là cảm thụ cái đẹp của văn chương.
Qua khảo sát các phương pháp cũ sử dụng vở bài tập tiếng việt và tranh minh họa để
khai thác nội dung bài làm khi dạy môn tập đọc còn chưa hợp lý, còn rất nhiều lý
do, có nhiều bài chưa thiết thực với việc tìm hiểu bài, nội dung còn đơn điệu, chưa
bám sát vào phục vụ cho việc tìm hiểu khoa học và một phần vì tranh minh họa còn
ĐỀ TÀI TIẾNG VIỆT
6
quá ít, có tranh chưa đáp ứng được nội dung bài. Do đó hưỡng dẫn học sinh tìm hiểu
bài còn gặp nhiều khó khăn, chính vì thế tôi chọn đề tài “ Rèn kỹ năng đọc cho học
sinh lớp 4 trong giờ tập đọc ” Trong môn tiếng việt các bài tập đọc, dù là thơ hay
truyện kể, văn bản miêu tả hay văn bản khoa học, văn bản hành chính hay thư từ …

bản thân mình cũng phải luân luân tự vận động, tích cực tìm tòi học hỏi, làm thế nào
ngày càng nâng cao trình độ nhận thức văn hóa cũng như chuyên môn nghiệp vụ sư
phạm để phục vụ sự phát triển của các em ngày càng phát triển hơn, giúp phần đưa
sự nghiệm giáo dục nước nhà ngày càng phát triển và hội nhập với thế Giới.
II – MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
1- Mục đích
Dạy học nhằm rèn kỹ năng đọc – hiểu môn tập đọc đạt kết quả cao hơn.
Thông qua việc rèn kỹ năng đọc – hiểu cải tiến phương pháp dạy để nâng
cao chất lượng cho học sinh ở trường tiểu học Thò Trấn B. Đồng thời năng cao chất
lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực
phục vụ công nghiệp hóa, hiện đai hóa đâùt nước, phù hợp với thực tiễn truyền thống
Việt Nam, Tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu
vực và Thế Giới.
2 / Nhiệm vụ của nghiên cứu đề tài:
ĐỀ TÀI TIẾNG VIỆT
8
2.1- Nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn
a- Nghiên cứu cơ sở tâm sinh lý của việc day học.
- Nghiên cứu cơ sở ngôn ngữ.
b- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn:
- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa, Sách giáo viên tiếng việt 4.
-Các văn bản chỉ đạo chuyên môn của ngành và trường.
- Thực trạng dạy và học của thầy trò trường tiểu học Thò Trấn B – Thới Bình
– Cà Mau:
III- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1- Nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu thực trạng dạy học môn tập đọc lớp 4.
- Cải tiến phương pháp dạy kỹ năng đọc – hiểu cho học sinh từ đó thấy được cái
hay, cái đẹp trong việc rèn kỹ năng đọc – hiểu.
- Nghiên cứu về chương trình hiện nay ở lớp 4 , trật tự các bước của giờ tập đọc.

kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Như vậy đọc là một hoạt động ngôn ngữ, là quá trình
chuyển dạng từ chữ viết sang dạng nói có âm thanh và thông hiểu ( ứng vói hình
ĐỀ TÀI TIẾNG VIỆT
10
thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các
đơn vò nghóa không có âm thanh.
Đọc và nghe la ømột hình thức tiếp nhận văn bản . Nói và viết là hình thức sản
sinh ra văn bản. Đọc là hình thứcgiải quyết một bộ mã gồm 2 phần: Chữ viết và phát
âm nghóa là nó không phải chỉ là công việc đánh giá vần lên thành tiếng theo đúnh
như ký hiệu đã ghi ( chữ viết). Đọc còn là một quá trình nhận thức để có khả năng
thông hiểu những gì đọc được, trên thực tế nhiều khi người ta không hiểu khái niệm
đọc một cách đầy đủ. Nhiều chỗ người ta chỉ nói đến đọc như nói đến sử dụng bộ mã
chữ – câu. Còn việc chuyển từ âm sang nghóa đã không được chú ý đúng mức. Việc
dạy tập đọc là giải quyết các mối quan hệ.
Chữ âm – nghóa của chữ nghóa kết hợp các vấn đề này, rèn luyện cho học sinh
đó có ý thức và đây là mục đích của hoạt động học.
* Cơ Sở Tâm Lý, Sinh Lý Của Việc Dạy Đọc
Để tổ chức dạy đọc cho học sinh, chúng ta cần hiểu rõ về quá trình đọc, nắm
bản chất của kỹ năng đọc. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, khi đọc hay cơ chế
của đọc là cơ sở của việc dạy đọc.
Như trên đã nói, Đọc là một hoạt động trí tuệ hoạt đọng phức tạp mà cơ sở là
việc tiếp nhận thông tin bằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ quan thò giác.
Chúng ta đi vào phân tích đặc điểm của quá trình này.
-Đọc được xem như một hoạt động có 2 mặt quan hệ mật thiết với nhau, là
việc sử dụng một bộ mã gồm hai phương diện, một mặt đó là quá trình vận động
của mắt, sử dụng bộ mã chữ – âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn
tự ghi lại lời nói âm thanh. Thứ hai, đó là sự vậân đôïng của tư tưởng, tình cảm sử
ĐỀ TÀI TIẾNG VIỆT
11
dụng bộ mã chữ – nghóa, tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý tưởng, các khái

Việt…. Làm cho phương pháp dạy tập đọc không tránh khỏi những lúng túng khi giải
quyết những vấn đề về đọc đúng, đọc diễn cảm. Ví như không giải quyết được vấn
đề phát âm đòa phương một cách có tính nguyên tắc, không có được những chỉ dẫn
cụ thể cho đọc diễn cảm mà đành bằng lòng với những cách nói chung chung hời
hợt. Ví dụ những quy tắc ít ỏi của ngữ pháp: Đọc kết thúc câu kế phải xuống giọng,
hết câu hỏi phải lên giọng chỉ đưa lại những chỉ dẫn chung chung về giọng đọc như:
bài thơ được đọc với giọng thiết tha sôi nổi, còn những chỉ dẫn có tính chất đònh
lượng. về mối tương quan giữa cao độ, trường độ, cường độ, chỗ ngắt… . của đoạn,
bài chưa được xác đònh. Vì vậy việc dạy đọc diễn cảm nhiều lúc cong mang tính chủ
quan, cảm tính. Điều này gây nên những khó khăn nhất đònh trong việc xác lập nội
dung và phương pháp dạy đọc.
* Kỹ năngđọc là một kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện tập lâu dài.
TG. Egôrôp ( dẫn theo 3; 101) chia việc hình thành kỹ năng này thành 3 giai đoạn:
Phân tích, tổng hợp ( Còn gọi là giai đoạn phát sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh
thể của hành động) và giai đoạn tự đọng hóa.
- Giai đoạn dạy học vần là sự phân tích các chữ cái và đọc thành từng tiếng
theo các âm. Giai đoạn tổng hợp thì đọc thành cả từ trọn vẹn, trong đó sự tiếp nhận “
ĐỀ TÀI TIẾNG VIỆT
13
từ” bằng thò giác và phát âm hầu như trùng với nhận thức ý nghóa. Tiếp theo sự
thông hiểu ý nghóa của “ từ” trong cụm từ hoặc câu đi trước sự phát âm, tức đọc được
thực hiện trong sự đoán các nghóa. Bước sang lớp 2, lớp 3 học sinh bắt đầu đọc tổng
hợp. Trong những năm học cuối cấp, đọc ngày càng tự đôïng hóa, nghóa là người đọc
ngày càng ít quan tâm đến chính quá trình đọc mà chú ý nhiều đến việc chiếm lónh
văn bản (bài khóa): Nội dung các sự kiện, cấu trúc, chủ đề, các phương tiện biểu đạt
của nó. Thời gian gần đây, người ta chú trọng hơn đến những mối quan hệ quy đònh
lẫn nhau của việc hình thành kỹ năng làm việc với văn bản, nghóa là đòi hỏi tổ chức
giờ tập đọc sao cho việc phân tích nội dung của bài đọc đồng thời hướng đến việc
hoàn thiện kỹ năng đọc, hướng đến đọc có ý thức bài đọc.
-Việc đọc như thế nhằm vào sự nhân thức, chỉ có thể xem là đứa trẻ biết đọc

• Ý kiến của giáo viên về giờ tập đọc:
Đa số giáo viên tiểu học đều coi trọng giờ tập đọc. Nhưng cả hai đối tượng GV
và HS cho thấy kỹ năng đọc – hiểu của cô trò nói chung còn rất hạn chế. GV do
trình đôï và tuổi tác không đồng đều, ngoài ra số GV ở đầu cấp cho rằng trong tiết
tập đọc phần luyện đọc là rất quan trọng. Riêng GV ở lớp cuối cấp cho phần luyện
ĐỀ TÀI TIẾNG VIỆT
15
đọc và tìm hiểu bài là tương đương nhau, khi dạy bài văn hay bài thơ, giáo viên hay
cho học sinh chia đoạn của bài, giáo viên lệ thuộc nhiều vào sách hướng dẫn, thường
sử dụng câu hỏi trong sách giáo khoa: 92% chỉ có 8 Gv hỏi thêm câu hỏi bên
ngoài. Khi giải nghóa từ khó 60% cho học sinh tự tìm hiểu để giải thích, 40% giáo
viên giải thích còn tìm hiểu nghệ thuật trong bài ít được đề cập tới, chỉ có 75% giáo
viên trả lời là có tìm hiểu
2 .Thiết Kế Bài Dạy Phân Môn Tập Đọc:
2.1-Kiểm tra bài cũ:
GV cho 2-3 hs đọc thành tiếng hoặc đọc thuộc lòng bài tập đọc hoặc bài học
thuộc lòng trước đó ,sau đó đặt một số câu hỏi về nội dung bài đẻ kiểm tra kó năng
đọc- hiểu
2.2-Dạy bài mới :
a/ Giới thiệu bài :
-Nhiệ vụ của hoạt động giới thiệu bài là nêu nhiệm vụ cần thực hiện trong tiết
học và gây hứng thú học tập cho hs.Riêng đói với bài tập đọc mở đàu một chủ điểm
mới,trước hết ,GV càn giới thiệu vài nét chính về chủ điểm .
Có thể có nhiều cách giới thiệu bài .Ví dụ :gợi mở bằng câu hỏi hoặc bằng
tranh ảnh ,băng hình ,vật thạt hay diễn giải bằng lời .Tuy nhiên ,dù theo cách
nào,phần giới thiệu bài cũng cần ngắn gọn ,không làm mất thời gian luyện đọc và
tìm hiểu bài.
b/ Hướng dẫn và tìm hiểu bài :
-Luyện đọc .
-Học sinh đọc thành tiếng từng đoạn văn ,khổ thơ

- GV tổ chức cho HS thi đọc thuộc lòng các khổ thơ, bài thơ hay đoạn văn vừa học
thuộc
2.3/ Củng cố, dăn dò:
- Hưỡng dẫn học sinh chốt lại nội dung chính hoặc ý nghóa của bài tập đọc.
- Nêu nhận xét về tiết học.
- Nêu yêu cầu tiếp tục luyện tập và chuẩn bò cho bài sau.
III/ THỰC TRẠNG VIỆC DẠY VÀ HỌC
*Thuận lợi:hầu hêùt cán bộ giáo viên đều được đào tạo qua các hệ đào
tạo như đại học sư phạm .Phần đa đều là những người có trình độ nhận thức cao,có
lòng yêu nghề nên họ luôn có ý thức học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn ,nâng
cao chất lượng giảng dạy.
-Đối vói học sinh :đa phần các em có đày đủ sách giáo khoa,đồ dùng
học tập và tinh thần ham học.
*Những khó khăn : Nhìn chung giáo viên của trường phần rèn kó năng
đọc cho học sinh lớp bốn còn hạn chế. Đặc biệt là phần hướng dẫn đọc diễn cảm để
hiểu nội dung bài ,khi giáo viên dạy còn phụ thuộc vào sách hướng dẫn,thường sử
dụng câu hỏi trong sách giáo khoa, không có câu hỏi ngoài hoặc chẻ nhỏ câu hỏi để
giảm đọ khó cho đối tượng học sinh trung bình ,yếu .Phần tìm hiểu nhgệ thuật trong
ĐỀ TÀI TIẾNG VIỆT
18
các bài tập đọc ít được đề cập đến do vậy giá trò nghệ thuật không được làm nổi bật
dẫn đến việc cảm thụ văn học của học sinh không khắc sâu.
-Đối với học sinh:
Trình độ học sinh không đồng đều, học sinh yếu, trung bình còn nhiều. Do là đòa
phương vùng sâu, vùng xa ,điều kiện kinh tế ,văn hóa xã hội còn thấp so với những
vùng khác các em ít được tiếp xúc văn hóa tập thể .Do vậy phần đa các em còn nhút
nhát trong đám đong và khi tiếp xúc với thầy cô giáo.Hơn nữa các em đa số con
nông dân cuộc sống còn nghèo do vậy đa phần họ chưa quan tâm đến việc học hành
của con em mìhn như:đôn đốc các em học ở nhà hay trang bò dụng cụ học tập … từ
đó làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập của các em.

-Chương trình dạy tập đọc lớp 4 một bài khoảng 250 chữ, thời gian khoảng 2-3
phút.Đọc lưu loát một đoạn văn, đoan thơ ( thể 3,5 chữ hay lục bát). Đọc thầm khá
ĐỀ TÀI TIẾNG VIỆT
20
nhanh, hiểu nội dung bài đọc lớp 4 nêu được ý chính từng đoạn, của cả bài, trả lời
được những câu hỏi về nội dung ý nghóa của bài đọc. Đọc hiểu những mẩu chuyện
viết cho thiếu nhi. Đọc đúng ngữ điệu, đúng thể loại, đúng ý nghóa của bài đã học
thuộc lòng ( bài văn hoặc văn xuôi khoảng 12 dòng).
-Phương pháp rèn đọc hiểu không chú trọng. Trong tiết dạy việc tìm hiểu bài
và luyện đọc tương đương nhau.
2/ Phương Pháp Dạy Học Môn Tiếng Việt Lớp 4 Chương Trình Tiểu Học Mới:
-Nội dung phương pháp dạy học bao giờ cũng gắn bó với nhau. Mỗi nội dung
bao giờ cũng đòi hỏi có một phương pháp thích hợp.
a- Trong giờ học môn tiếng Việt theo phương pháp dạy học mới hoạt động của
học sinh chủ yếu là:
* Hoạt động giao tiếp (đặc thù của môn tiếng Việt).
* Hoạt động phân tích, tổng hợp, thực hành lí thuyết ( như ở các môn học khác).
=> cả hai hoạt động trên có thể tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau:
- Làm việc độc lập
- Làm việc theo nhóm
- Làm việc theo lớp
Trong phần lớn các trường hợp, nhất là trong trường hợp câu hỏi, bài tập đề ra
đã rất cụ thể, học sinh được tổ chức làm việc đọc lập trường hợp câu hỏi bài tập
tương đối trừu tượng hoặc đòi hỏi một sự khái quát nhất đònh, và nếu làm việc
chung theo đơn vò lớp sẽ có ít học sinh hoạt động thì làm việc theo ngóm là giải
pháp tốt nhất. Hình thức làm việc chung theo đơn vò lớp được áp dụng chủ yếu khi
ĐỀ TÀI TIẾNG VIỆT
21
giáo viên thực hiên khâu giới thiệu bài, củng cố bài, nên những câu hỏi không yêu
cầu phải suy nghó lâu hoặc để học sinh trình bày kết quả làm việc.

MÔN : TẬP ĐỌC – HỌC THUỘC LÒNG LỚP 4
BÀI DẠY: TRUNG THU ĐỘC LẬP:
I. MỤC ĐÍCH,YÊU CẦU
1- Đọc trơn tru toàn bài.Biết đọc diễn cảm bài văn thể hiện tình cảm yêu mến
thiếu nhi, niềm tự hào, ước mơ và hi vọng của anh chiến só về tương lai tươi đẹp của
đất nước, của thiếu nhi.
2- Hiểu các từ ngữ trong bài: Tình thương yêu của mình nhỏ của anh chiến só,mơ
ước của anh về tương lai của các em trong đêm trung thu độc lập đầu tiên của đất
nước.
II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
- Tranh minh hoạ bài đọc SGK.
- Tranh, ảnh về một số thành tựu kinh tế XHCN của nước ta gần đây.
III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
ĐỀ TÀI TIẾNG VIỆT
23
HĐ Hoạt động của giáo viên (GV) Hoạt động của HS
HĐ 1
KTBC
Khoảng
4’
- Kiểm tra 2 HS.
- HS 1: Đọc từ đầu đến tôi bỏ về bài
Chò em tôi + trả lời câu hỏi.
H:Cô chò nói dối ba để đi đâu?
• HS 2: Đọc đoạn còn lại của bài
Chò em tôi.
H:Cô em đã làm gì để chò mình thôi
nói dối?
- GV nhận xét và cho điểm.
-Cô chò nói dối ba đi học nhóm

• Đ3: Còn lại.
- Cho HS đọc đoạn nối tiếp.
- Cho HS luyện đọc những từ
ngữ khó đọc: trung thu,man
mác,soi sáng,thân thiết,bát
ngát…
- Cho HS đọc toàn bài.
b/Cho HS đọc chú giải + giải nghóa
từ
c/GV đọc diễn cảm toàn bài:
Cần đọc với giọng nhẹ nhàng,thể
hiện niềm tự hào ước mơ của anh
chiến só về tương lai của đất
nước,của thiếu nhi.Đ1 + Đ2 đọc
giọng ngân dài,chậm rãi.
Đoạn 3: giọng nhanh,vui hơn.
theo cô giáo đã chia.
-HS đọc nối tiếp.Mỗi HS đọc 1
đoạn,đọc 2 -3 lượt cả bài.
-1-2 HS đọc toàn bài.
-1 HS đọc chú giải + lớp lắng
nghe.
-1-2 HS giải nghóa từ.
ĐỀ TÀI TIẾNG VIỆT
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status