1
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển như vũ
bão, nền kinh tế tri thức đang chiếm vai trò chủ đạo tác động đến mọi mặt của
đời sống xã hội. Từ nhận thức sâu sắc về vai trò chất lượng nguồn nhân lực
của đất nước, trong thời gian qua Đảng và nhà nước ta luôn đặc biệt coi trọng
công tác giáo dục, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Giáo dục không ngừng
phải đổi mới để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Mọi quan điểm,
chương trình, nội dung đổi mới đều hướng tới mục tiêu là nâng cao chất lượng
giáo dục và đào tạo. Việc nâng cao chất lượng giáo dục là nhiệm vụ chính trị
trọng tâm hàng đầu ở các nhà trường.
Trong những năm qua giáo dục bậc THCS của tỉnh nhà cũng còn có
những khó khăn nhất định được coi là vùng trũng so với các cấp học, bậc học
khác: Chất lượng giáo dục và chất lượng đội ngũ còn thấp, không ổn định,
không đồng đều giữa các vùng miền đặc biệt là các trường địa bàn miền núi.
Chính vì vậy, xây dựng và phát triển giáo dục bậc THCS thật sự bền vững là
một trong những nhiệm vụ ưu tiên mà ngành Giáo dục đào tạo đang hướng
tới. Song để thực hiện điều đó một cách có hiệu quả, chúng ta cần có nhiều
giải pháp thống nhất, đồng bộ và khả thi; đòi hỏi nỗ lực không chỉ của riêng
ngành giáo dục mà là của toàn xã hội, đòi hỏi sự chỉ đạo liên tục, xuyên suốt
từ các cấp.
Làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục? Đây là câu hỏi luôn
thường trực ở các cấp quản lí giáo dục đến tận mỗi cán bộ, giáo viên. Là một
cán bộ quản lí ở một trường THCS miền núi, bản thân tôi luôn băn khoăn, trăn
trở và có ý thức tìm tòi các giải pháp phù hợp để đáp ứng với yêu cầu mới của
giáo dục và tình hình thực tiễn của nhà trường và địa phương. Từ thực tiễn, tôi
cũng đã rút ra được cho mình các giải pháp trong công tác quản lí để nhằm
2
không ngừng nâng cao chất lượng toàn diện ở nhà trường và bước đầu đã đem
lại những hiệu quả nhất định. Đó là vấn đề tôi muốn được đem ra bàn luận,
- Sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, dự báo, thống kê số liệu…
VI. Dự kiến đóng góp mới về mặt khoa học của đề tài:
Khi đề tài được hoàn thiện là cơ sở quan trọng để cán bộ quản lí, các tổ
chuyên môn, các tổ chức đoàn thể xây dựng kế hoạch, nhiệm vụ và giải pháp
trong các năm học. Định hướng cho cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên về tư
tưởng, tinh thần trách nhiệm và những nhiệm vụ cụ thể cần làm để góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện tai đơn vị.
4
NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I. CÁC GIẢI PHÁP TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TẠI NHÀ TRƯỜNG.
1. Đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Ban giám
hiệu.
1.1 Thực hiện tốt công tác xây dựng kế hoạch năm học, học kỳ, hàng
tháng và hàng tuần.
Hàng năm, căn cứ vào chỉ thị nhiệm vụ trọng tâm năm học của Bộ giáo
dục và đào tạo, kế hoạch năm học của Sở và Phòng giáo dục và đào tạo, căn
cứ các chủ trương của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và các văn bản
hướng dẫn của các cấp, các ngành, ban giám hiệu xây dựng kế hoạch năm học
của nhà trường trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch cho mỗi học kỳ và kế hoạch
cụ thể hàng tháng, hàng tuần.
Kế hoạch chuyên môn của nhà trường phải đảm bảo nguyên tắc đúng
quy chế, quy định của ngành, phải bám sát các nhiệm vụ trọng tâm trong năm
học và các văn bản hướng dẫn của cấp trên. Kế hoạch phải phù hợp với tình
hình đặc điểm của nhà trường, của địa phương, phù hợp với chất lượng đội
ngũ hiện có và có tính khả thi. Kế hoạch hoạt động chuyên môn cần được
thông qua trước Hội nghị công chức đầu năm và bàn bạc, thảo luận, đóng góp
ý kiến, trí tuệ của tập thể giáo viên trước nhà trường khi triển khai thực hiện.
Kế hoạch chuyên môn trong năm học phải được cụ thể hóa bằng các nhiệm vụ
trọng tâm trong từng tháng và nhiệm vụ cụ thể cho từng tuần. Kế hoạch phải
trọng vào công tác sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn, tăng cường dự giờ đột xuất
cán bộ giáo viên. Hàng tuần BGH phải trực tiếp kiểm tra công tác thăm lớp dự
6
giờ, tích lũy kinh nghiệm và hoạt động ứng dụng CNTT, sử dụng đồ đùng dạy
học của mỗi cán bộ giáo viên trong nhà trường. Chỉ đạo các tổ chuyên môn
hàng tuần kiểm tra hồ sơ cá nhân, giáo án giảng dạy và việc thực hiện quy chế
chuyên môn của tổ viên đặc biệt là công tác soạn bài, giảng dạy theo chuẩn
kiến thức kĩ năng của chương trình. Lấy chuẩn kiến thức kĩ năng, kết quả học
tập và sự hứng thú tích cực trong quá trình học tập của học sinh để làm thước
đo đánh giá chất lượng, hiệu quả giảng dạy của mỗi cán bộ giáo viên trong
mỗi tiết học.
1.4. Các thành viên trong BGH phải gương mẫu đi đầu trong các hoạt
động của nhà trường.
Không chỉ là thực thi nhiệm vụ quản lí, tổ chức, chỉ đạo các hoạt động
giáo dục tại đơn vị mà các thành viên trong BGH phải là những tấm gương, là
những người đầu tàu trong các hoạt động để cán bộ, giáo viên và nhân viên
noi theo. Trước hết các thành viên trong BGH phải có đạo đức tư cách trong
sáng, nhiệt tình, tận tụy trong công việc; chấp hành nghiêm túc chủ trương
đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước và nội quy cơ quan.
Các thành viên trong BGH cũng như đội ngũ cán bộ cốt cán của nhà
trường phải là những tấm gương về tinh thần tự học, tự nghiên cứu; có chuyên
môn vững vàng, luôn sẵn sàng tham gia giảng dạy và công tác bồi dưỡng học
sinh khá giỏi có như vậy mới thuyết phục được đội ngũ cán bộ giáo viên trong
việc tổ chức thực hiện các hoạt động toàn diện ở nhà trường.
2. Không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là nhân tố
quan trọng quyết định việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.
2.1. Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức cho
đội ngũ cán bộ, giáo viên.
Tổ chức tốt công tác học tập nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên về
lý luận chủ nghĩa Mác Lê – nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về các chỉ thị , Nghị
Tạo điều kiện để cho cán bộ giáo viên tham gia học tập để nâng cao
trình độ và chuẩn đào tạo.
Tổ chức thực hiện việc áp dụng công nghệ thông tin trong học tập,
nghiên cứu, giảng dạy và công tác quản lí. Nhà trường phải xây dựng được
trang Website của đơn vị và Ban giám hiệu chỉ đạo cán bộ giáo viên đăng kí
thành viên tham gia viết bài, gửi bài, giao lưu học hỏi trên trang Website để
bồi dưỡng kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm. Chỉ đạo các tổ
chuyên môn và từng cán bộ giáo viên tăng cường ứng dụng công nghệ thông
tin trong quá trình nghiên cứu, soạn bài và giảng dạy trên lớp. Vận động và
giao khoán chỉ tiêu cụ thể cho mỗi cán bộ giáo viên về công tác soạn bài và
giảng dạy bằng giáo án điện tử trong từng tuần, từng tháng. Khuyến khích và
tuyên dương những cá nhân điển hình trong công tác sử dụng công nghệ thông
tin trong quá trình giảng dạy để nâng cao trình độ công nghệ thông tin cho cán
bộ giáo viên trong đơn vị.
Đặt ra những yêu cầu đối với giáo viên đó là phải luôn biết đổi mới về
nội dung và phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tư duy sáng
tạo của học sinh trong quá trình học tập.
Triển khai và thực hiện tốt kế hoạch thăm lớp, dự giờ học để hỏi, đúc rút
kinh nghiệm. Tổ chức tốt hội thi giáo viên giỏi cấp trường và tham gia tích
cực hội thi giáo viên giỏi cấp huyện, cấp tỉnh hàng năm.
2.2.2. Chỉ đạo công tác giảng dạy và giáo dục học sinh nghiêm túc theo
chương trình và chuẩn kiến thức kĩ năng.
Một trong những điểm hạn chế cơ bản của cán bộ giáo viên làm cản trở
đến chất lượng giảng dạy là không xác định đúng mục tiêu trọng tâm của bài
học, của tiết dạy khi lên lớp nên có nhiều lúng túng trong phương pháp truyền
9
thụ kiến thức. Chính vì vậy BGH nhà trường và các tổ chuyên môn cần chỉ
đạo cán bộ giáo viên nghiên cứu kĩ bài dạy, dựa vào chuẩn kiến thức kĩ năng
của môn học để xác định trọng tâm của bài học. Khi đã xác định được kiến
thức cơ bản cần truyền thụ các thầy cô giáo sẽ linh hoạt chủ động hơn về
Tổ chuyên môn phải có sự kiểm tra, theo dõi, giám sát tổ viên của mình
một cách cụ thể để đánh giá hiệu quả công tác và phân loại thi đua hàng tháng
một cách chính xác. Giúp tổ viên nhận ra những ưu, khuyết điểm trong chuyên
môn nghiệp vụ để kịp thời phát huy hoặc khắc phục.
Ban giám hiệu phân công người trực tiếp phụ trách các tổ chuyên môn
và tham dự đầy đủ các buổi sinh hoạt với các tổ để chỉ đạo, góp ý các nội
dung, kế hoạch sinh hoạt của tổ và theo dõi được sát tình hình chất lượng đội
ngũ để có kế hoạch chỉ đạo, điều chỉnh bồi dưỡng phù hợp.
2.2.4. Đẩy mạnh công tác viết sáng kiến kinh nghiệm và làm đồ dùng
dạy học:
Viết sáng kiên kinh nghiệm, làm đồ dùng dạy học là hình thức tự bồi
dưỡng có hiệu quả đối với mỗi giáo viên cũng như cán bộ quản lý nhằm tích
luỹ kinh nghiệm, góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý cũng như
chất lượng giảng dạy của mỗi một cán bộ, giáo viên.
Bên cạnh đó viết sáng kiến kinh nghiệm sẽ có tác dụng thúc đẩy việc
thực hiện nhiệm vụ dạy học được tốt hơn, trình độ hiểu biết về chuyên môn
cũng được nâng lên một cách cơ bản. Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cán bộ,
giáo viên được tiếp xúc, nghiên cứu nhiều hơn với một số thông tin liên quan
đến nội dung của đề tài. Từ đó sẽ nâng cao nhận thức, kiến thức về lĩnh vực đề
tài mà mình nghiên cứu.
11
Hàng năm, vào đầu năm học nhà trường cần giao chỉ tiêu cụ thể để đảm
bảo 100% cán bộ giáo viên đều tham gia công tác viết sáng kiến kinh nghiệm
và làm đồ dùng dạy học. Chỉ đạo tổ chuyên môn trong sinh hoạt hàng tháng
cần phải có sự giúp đỡ góp ý cho tổ viên trong công tác xây dựng đề cương để
viết sáng kiến kinh nghiệm. Sáng kiến kinh nghiệm ưu tiên tập trung vào các
đề tài có tính khoa học, tính ứng dụng thực tiễn, tính khả thi phù hợp với điều
kiện hoàn cảnh giáo dục của nhà trường.
2.3. Sắp xếp, bố trí giáo viên phù hợp.
BGH, tổ chuyên môn cần phải tìm hiểu, nắm được các điểm mạnh, điểm
luyện tập; rèn luyện ý thức, phương pháp tự học ở học sinh. Quan tâm công
tác hướng dẫn học sinh tự học ở nhà và lồng ghép giáo dục đạo đức, kĩ năng
sống cho học sinh.
Ban giám hiệu nhà trường phải chỉ đạo thực hiện công tác kiểm tra,
đánh giá, phân loại học sinh ở tất cả các bộ môn một cách nghiêm túc, chính
xác. Thực hiện tốt công tác kiểm tra, đánh giá sẽ có ý nghĩa động viên, khích
lệ đối tượng học sinh khá giỏi đồng thời rèn luyện ý thức, thái độ học tập
nghiêm túc, trung thực ở các đối tượng học sinh.
Chỉ đạo đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng phải phân hóa, phân loại
được đối tượng học sinh đặc biệt là chú trọng khai thác tính tích cực, chủ động
sáng tạo, phát huy tối đa chính kiến cá nhân của học sinh.
Công tác kiểm tra định kì từ 1 tiết trở lên phải được tiến hành theo hình
thức ngân hàng đề kiểm tra. Mỗi môn học, mỗi tổ chuyên môn, mỗi cán bộ
giáo viên đều phải xây dựng được ngân hàng đề kiểm tra cho mình và nộp lại
cho ban giám hiệu. Trước khi kiểm tra sẽ tiến hành bốc thăm để đảm bảo tính
khách quan, minh bạch. Trong quá trình kiểm tra phải chỉ đạo cán bộ giáo
13
viên thực hiện tuân thủ đúng nguyên tắc và coi thi nghiêm túc. Quá trình coi
thi, chấm thi, vào điểm, đánh giá phân loại học sinh phải đảm bảo tính chính
xác, khách quan, công khai và phân loại đúng đối tượng học sinh.
4. Xây dựng và phát triển phong trào học tập ở học sinh. Tập trung
khơi dậy nâng cao công tác tự học, tự rèn.
4.1. Chú trọng công tác giáo dục, động viên ý thức học tập, rèn luyện
của học sinh.
Nhà trường cần tăng cường công tác giáo dục, động viên ý thức học tập,
rèn luyện của học sinh trong các hoạt động tập thể, hoạt động chính khóa và
hoạt động ngoại khóa. Trong các buổi chào cờ đầu tuần tổ chức đọc các bài
văn hay, đọc các bài dự thi báo bảng tốt trong tuần, trong tháng để động viên
khích lệ học sinh. Thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng để động viên
kịp thời những học sinh có thành tích trong học tập và rèn luyện, chú trọng
chương trình và thời khóa biểu. Tổ chức các đợt kiểm tra, khảo sát để đánh giá
sự tiến bộ của học sinh và chất lượng giảng dạy của giáo viên khi được phân
công bồi dưỡng, phụ đạo.
5. Tăng cường phối hợp với hội cha mẹ học sinh
Để nâng cao chất lượng giáo dục, nhà trường cần phải xây dựng mối
quan hệ phối hợp thật tốt với phụ huynh học sinh nhằm tạo ra chương trình
phối hợp hành động có hiệu quả. Trong công tác xã hội hóa giáo dục thì gia
đình đóng một vai trò vô cùng quan trọng, vì cha mẹ, gia đình là nhân tố trực
tiếp có trách nhiệm đến tương lai của con em mình.
Vào đầu năm học, nhà trường phải kiện toàn lại đội ngũ hội cha mẹ học
sinh các lớp và Ban chấp hành hội cha mẹ học sinh của trường. Nhà trường
phải làm tốt công tác tham mưu để lựa chọn được những phụ huynh có uy tín,
15
có năng lực, có trách nhiệm và tiếng nói có trọng lượng trước phụ huynh,
trước nhân dân để tham gia vào BCH hội. Những người trong ban chấp hành
hội phải được rải đều ở các thôn xóm, các vùng để phụ trách từng địa bàn.
Ban giám hiệu nhà trường phải phối kết hợp chặt chẽ với BCH hội phụ huynh
trong việc xây dựng chương trình hành động của Hội trong năm học theo điều
lệ của Hội cha mẹ học sinh.Tham mưu với BCH hội phụ huynh trong công tác
xây dựng, tu sửa cơ sở vật chất, điều kiện dạy học và công tác phối hợp giáo
dục. Phát huy tối đa vai trò của BCH hội cha mẹ học sinh là cầu nối giữa nhà
trường với phụ huynh học sinh, với chính quyền địa phương và nhân dân trên
địa bàn. BCH hội cha mẹ học sinh cũng là nhân tố quan trọng trong công tác
phối hợp giáo dục, công tác tham mưu, là kênh thông tin quan trọng giúp nhà
trường nắm bắt, điều chỉnh các hoạt động giáo dục.
Nhà trường chỉ đạo đội ngũ giáo viên chủ nhiệm làm tốt công tác phối
hợp với phụ huynh học sinh. Theo định kì hàng tháng phải có sự thông tin
phối hợp hai chiều giữa nhà trường với gia đình về tình hình học tập, rèn
luyện của học sinh. Đối với những học sinh có thành tích xuất sắc hay có vi
phạm trong học tập rèn luyện đều phải thông báo, gặp mặt trao đổi với cha mẹ
tác phối hợp tuyên truyền giáo dục. Giúp phụ huynh học sinh và các tầng lớp
nhân dân hiểu rõ vai trò, tầm quan trọng của công tác giáo dục để đầu tư,
chăm lo cho con em học tập. Tích cực công tác tuyên truyền cho phụ huynh
thông qua các tổ chức, đoàn thể như: Hội nông dân, Hội phụ nữ, Đoàn thanh
niên, về công tác giáo dục. Làm tốt công tác tham mưu, đề xuất, liên hệ với
cơ quan quản lí giáo dục cấp trên cũng như các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp
trên địa bàn để tranh thủ sự ủng hộ về chủ trương nguồn quỹ thi đua khen
17
thưởng cũng như cơ sở vật chất để xây dựng nhà trường ngày càng phát triển
về mọi mặt.
8. Nâng cao năng lực lãnh đạo của Chi bộ và phát huy vai trò các tổ
chức đoàn thể trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị
ở nhà trường.
Nâng cao năng lực lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của Chi bộ nhà
trường. Chú trọng sinh hoạt tư tưởng, phát huy dân chủ, tiếp tục đẩy mạnh học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ chí Minh, phát huy vai trò tiền phong,
gương mẫu, tính chiến đấu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong mọi hoạt động
của nhà trường. Các buổi sinh hoạt Chi bộ là điều kiện, là cơ sở quan trọng
nhất để kiểm điểm việc thực hiện nhiệm vụ của người đảng viên, của giáo
viên, nhân viên. Qua công tác kiểm điểm theo tinh thần nghị quyết TW4 mà
những hạn chế, yếu kém của người cán bộ đảng viên trong nhà trường đã được
giảm đi đáng kể. Quan tâm bồi dưỡng kết nạp giáo viên vào đảng, thực hiện
tốt nền nếp sinh hoạt. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng
viên trong việc thực hiện các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách pháp
luật nhà nước và thực hiện nhiệm vụ được giao. Thực hiện tốt công tác đánh
giá phân loại đảng viên, công tác quy hoạch, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để kích
thích sự phấn đấu của cán bộ, giáo viên.
Phát huy vai trò tổ chức Công đoàn và Đoàn thanh niên cộng sản Hồ
Chí Minh nâng cao hiệu quả quản lý các mặt hoạt động của nhà trường.
Phát huy vai trò các Đoàn thể trong việc thực hiện quy chế dân chủ và
Nội dung các phong trào, các đợt thi đua và các tiêu chí đánh giá thi đua
phải được xây dựng từ đầu năm hoc và phải được thảo luận thống nhất trong
hội nghị cán bộ công chức đầu năm.
19
Hàng tháng và cuối mỗi học kì, cuối năm học Hội đồng thi đua nhà
trường và các tổ chuyên môn thực hiện công tác đánh giá xếp loại thi đua của
cán bộ giáo viên một cách nghiêm túc. Biểu dương, khen thưởng, nhân rộng
những yếu tố những cá nhân có cống hiến, có thành tích trong các hoạt động
chuyên môn đồng thời phải giúp mỗi cá nhân tự nhận ra những hạn chế, tồn
tại trong trong việc thực hiện nhiệm vụ để chấn chỉnh, khắc phục.Thực hiện
nghiêm túc, khách quan, đúng quy trình công tác đánh giá cán bộ, giáo viên
theo chuẩn nghề nghiệp. Lấy kết quả, chất lượng, thành tích trong công tác
giáo dục cuối năm là thước đo, là cơ sở quan trọng nhất để đánh giá, xếp loại
thi đua cán bộ giáo viên trong năm học.
Công tác thi đua khen thưởng đối với học sinh cũng phải được thực hiện
kịp thời, nghiêm túc, bài bản, trang trọng để có tính giáo dục, tính khích lệ
động viên phong trào vươn lên trong học tập.
Nhà trường phải chú ý quan tâm động viên đời sống tinh thần và vật
chất tới đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên. Tạo điều kiện thuận lợi nhất
về các mặt để giáo viên yên tâm, phấn khởi hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Thường xuyên thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục và tham mưu tạo
nguồn để có phần thưởng, những món quà cho những giáo viên, học sinh có
thành tích cao trong giảng dạy, học tập hàng năm. Động viên kịp thời về tinh
thần, vật chất cho cán bộ, giáo viên và nhân viên trong các ngày lễ, tết. Song
cần nghiêm khắc với những giáo viên, học sinh chậm tiến hay vi phạm quy
chế, quy định của ngành, nội quy nhà trường.
20
II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Có thể khẳng định rằng sản phẩm cuối cùng của hoạt động giáo dục ở
nhà trường là kết quả học tập của học sinh. Qua ba năm trực tiếp công tác
2012
505
21
4.16
161
31.88
237
46.93
84
16.63
2
0.40
2012
-
2013
478
31
6.49
160
33.47
264
55.23
23
4.81
0
0.00
Bảng 4: Kết quả xếp loại học lực học sinh của học sinh nhà trường năm học
2011 – 2012 và năm học 2012 – 2013.
Tỉ lệ lên lớp sau kì rèn luyện trong hè đạt từ 98 – 99 %, tỉ lệ học sinh tốt
nghiệp Trung học cơ sở đạt từ 94,5 đến 95 %, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp Trung
65.94
147
29.11
24
4.75
1
0.20
0
0
2012
-
2013
478
334
69,87
135
28,24
9
1,88
0
0
0
0
Bảng 5: Kết quả xếp loại hạnh kiểm của học sinh nhà trường năm học 2011 –
2012 và năm học 2012 – 2013.
2. Về chất lượng mũi nhọn:
Hằng năm tỷ lệ học sinh khá giỏi của nhà trường đạt khoảng từ 35 -
> 38,5 %. Số lượng học sinh giỏi các cấp mà trường đạt được trong các năm học
như sau:
Học sinh giỏi cấp huyện
478
45
9,41
8
1,67
2
0,41
1
0,20
Bảng 6: Kết quả chất lượng học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh của học sinh
nhà trường năm học 2011 – 2012 và năm học 2012 – 2013.
3. Về chất lượng đội ngũ:
Năm học
TS
CBGV,
Trình độ đào tạo
Sáng kiến kinh
nghiệm các cấp
Giáo viên giỏi các
cấp
22
NV
Trên
chuẩn
Đạt
chuẩn
Cấp
huyện
Cấp
tỉnh
Bảng 7: Kết quả chất lượng tự học, tự rèn của CBGV từ năm học 2010
– 2011 đến năm học 2012 – 2013.
Loai Xuất
sắc
Loại Khá
Loại TB
Chưa
đạt
chuẩn
Năm học
TS
CBQL,
GV
SL
%
SL
%
SL
%
2010 - 2011
32
2
6,25
14
43,75
16
50,00
0
0
2011 - 2012
Đồng
tình với
giải pháp
Tốt
Khá
Trung
bình
Yếu
36
36
36
0
0
0
Bảng 9: Kết quả thăm dò ý kiến của CB, GV, NV trong đơn vị về các
giải pháp trong đề tài.
Trong những năm qua, với những giải pháp nêu trên của bản thân đã
được thông qua tại Hội nghị cán bộ công chức, viên chức đầu năm, được
ngành giáo dục và đào tạo phê duyệt đặc biệt là đươc sự đồng tình hưởng ứng,
ủng hộ của 100% CB, GV, NV trong toàn trường và phụ huynh, học sinh.
Chính vì vậy mà hiệu quả, chất lượng hoạt động toàn diện của nhà trường
ngày càng được củng cố và có bước chuyển biến rõ rệt.
KẾT LUẬN
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở trường Trung học cơ sở có ý
nghĩa cực kỳ quan trọng nhằm phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Đó không chỉ là trách nhiệm của nhà
trường, của đội ngũ giáo viên, mỗi học sinh, mỗi gia đình mà là của toàn xã
hội, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước.
Với tư cách là một cán bộ quản lí ở một trường THCS, trong khuôn khổ
thời gian, không gian và năng lực nghiên cứu có hạn, tôi mạnh dạn nêu ra một
25
Các cấp quản lí giáo dục, các cơ quan liên quan và địa phương cần quan
tâm hơn nữa đến công tác giáo dục. Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà
trường về cơ sở vật chất, về đội ngũ, về công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ
quản lí và giáo viên… Giúp các nhà trường có điều kiện để nâng cao chất
lượng, hiệu quả các hoạt động toàn diện.
Mỗi một cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên trong các nhà trường cần
phải nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm, ý thức đạo đức nghề nghiệp đặc
biệt là công tác tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ sư phạm, nghệ thuật quản lí để đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao trong
giai đoạn hiện nay.
Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ của bản thân được đúc rút trong quá
trình quản lí thực tế tại nhà trường, với vốn kiến thức có hạn nên khi trình bày
chắc hẳn còn nhiều khiếm khuyết. Rất mong được sự góp ý, phê bình của các
thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn!
Lương Sỹ Hiệp – Hiệu trưởng trường THCS Sơn Kim